NHỜ DỊCH TIẾNG NGA

danngoc

New member
Tôi còn một số hồi ức Chiến tranh Vệ quốc, nhưng bằng tiếng Nga nên không biết dịch. Vậy xin nhờ các bạn có điều kiện ở đây hỗ trợ nhé.
Bạn nào giúp được xin cho email để tôi gửi bài. Bạn dịch rồi post lên đây cho mọi người cùng đọc.
 
Bạn gửi thử cho tôi nhé. Không dám chắc là làm được nhanh nhưng tôi rất thích công việc này. Mail của tôi: aquamarine81@gmail.com
 
Tôi xin gửi diễn đàn một hồi ức mới dịch để anh em khởi động:

Câu chuyện của Semion Aria

Những người sống sót trở về từ chiến tranh thưởng trở nên mê tín hoặc tin vào định mệnh, cố gắng tìm kiếm niềm tin nơi Đức Chúa. Không nơi nào mà bàn tay của Định Mệnh lại xuất hiện rành rành đến vậy, không thể thay đổi và không tài nào tránh khỏi, như trong chiến tranh. Tôi đã có kinh nghiệm bản thân về điều này, và không chỉ là một lần.
Mùa đông những năm 1942-43 binh đoàn tăng nơi tôi có vinh dự được phục vụ đã phải chịu tổn thất rất lớn trong trận đánh tại Mozdok. Tôi đã không phải chịu làm một trong những người hy sinh tại đó do một trường hợp đặc biệt sau đây. Số mệnh, như đã thấy trước được diễn tiến của sự kiện nọ, theo như tôi hiểu, đã có một quyết định cứng rắn ngay lập tức đúng thời điểm đó để chuyển tôi từ vị trí cũ làm thợ lái tăng thành sang một vị trí khác, ít nguy hiểm tính mạng hơn. Bằng một giá không thể tưởng tượng ra nổi. Bà mụ Số mệnh lúc đầu đã không thành công lắm, nhưng Bà hành xử thật cương quyết và bển bỉ để đạt tới mục đích đã đặt ra.

Vào một ngày đông ảm đạm một đoàn xe tăng, trong đó có chiếc T-34 của chúng tôi, kéo vào khu làng Côdắc Levokumskaya sau một chặng dài hành quân. Quân Đức đang rút lui đã cho nổ tung chiếc cầu bắc qua sông Kuma đằng sau lưng chúng, và một kết cấu gỗ bắc ngang thay thế do những kỹ sư công binh làm từ bất cứ thứ gì họ có thể tìm ra xuất hiện trước chúng tôi vừa kịp lúc chúng tôi tiến được tới bờ sông. Sau khi liếc nhìn nó đầy ngờ vực, tiểu đoàn trưởng của tôi hỏi người kỹ sư công binh:

"Xe tăng có thể băng qua cái thứ này được không? Loại hai mươi lăm tấn?”

"Hoàn toàn có thể tin tưởng!" người kỹ sư đáp. "Được bàn tay của một đơn vị Cận vệ làm mà! Nhưng chỉ được đi từng chiếc một lần thôi.”

Chiếc tăng đầu tiên lăn chậm rãi và cẩn trọng qua những tấm ván lát tạm. Chiếc thứ hai tiến vào chỗ vượt sông cũng rất cẩn thận, từ từ chuyển hướng khỏi lối đi, lăn lên giữa cầu, và đột nhiên, ngay trước mắt mọi người, nó bắt đầu di chuyển không phải băng ngang qua mà là đi dọc dòng sông, và rồi nhào xuống giòng nước cùng với cây cầu, chỉ còn ló có mỗi mấy cái bánh xích khỏi mặt nước. Tổ lái được lôi ngay khỏi mặt nước đóng băng không phải là không có một chút trở ngại. Chúng tôi đã phải nhào xuống mới kéo được người lái lên. Tăng của tôi là chiếc thứ ba, kế tiếp. (Hồi ức của Alexandr Bodnar’ cũng có một đoạn tương tự số phận những người lính lái chiếc tăng bị rơi xuống sông này – LTD).

Sau một hồi nổi xung thiên thịnh nộ với đám kỹ sư, thậm chí còn dọa lôi ra xử bắn, tiểu đoàn trưởng tìm được một người địa phương đã luống tuổi để ông ta chỉ cho một chỗ nước cạn. Sau khi nhét được ông già vào trong chiếc Willy của mình, và sau khi đã giải thích cho tôi về trách nhiệm phải làm người lái chiếc xe dẫn đầu, viên tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho chúng tôi lên đường đi theo ông ta.

"Đừng chạy quá nhanh, nhưng cũng đừng có tụt lại phía sau” ông ta nói. "Nếu có chuyện gì trục trặc, tôi sẽ ra hiệu cho anh bằng đèn pin.”

Và thế là chúng tôi khởi hành trên con đường đất dọc bờ sông. Trong khi đó, bóng tối đã hoàn toàn bao phủ khung cảnh. Chúng tôi đã không còn một chiếc đèn pha nào ngay từ sau trận đánh đầu tiên, và thậm chí nếu chúng tôi có thì chúng tôi cũng không thể sử dụng do sợ bị máy bay địch phát hiện. Do đó tôi chỉ còn biết chạy theo ánh đèn xanh lè nhảy nhót liên tục của chiếc xe jeep chỉ huy trong bóng đêm, được phụ thêm bởi ánh trăng lờ mờ đang lúc lộ lúc khuất sau bóng mây, mắt không hề thấy rõ con đường đang chạy. Đoàn xe chạy nối đuôi sau xe tôi.

Chúng tôi cứ chạy theo kiểu ấy thêm khoảng mười cây số nữa. Như sau này mới biết, ông tiểu đoàn trưởng đã không chú ý tới một cây cầu khuất bé bắc qua một cái khe cạn và lái thẳng qua nó mà không hề chạy chậm lại hoặc kịp ra tín hiệu. Vì thế chiếc tăng của tôi đã phóng hết tốc lực vào cây cầu với tất cả sức nặng nhiều tấn của nó. Cây cầu không do dự, đổ sập ngay lập tức. Chiếc tăng đập mặt giáp thép phía trước xuống sườn khe, lật úp chổng hết xích lên trời rồi trượt xuống tận đáy khe.

Choáng váng vì va đập, tôi nhận ra mình đang bị vùi dưới một đống đạn 76mm vừa rơi khỏi thùng chứa, cùng với những băng đạn súng máy, các dụng cụ, phụ tùng dự trữ, thức ăn chiến lợi phẩm, một cái cưa, một chiếc rìu và vô số vật dụng khác trong xe tăng. Axít trong bộ ắcquy bị lật tuôn ra phùn phụt thành tia. Tất cả được soi sáng dưới thứ ánh sáng mang điềm gở phát ra do các vật dụng va chạm nhau. Tôi thì không sao, nhưng khắp người bị bầm dập. Suy nghĩ đầu tiên hiện trong đầu là: tôi đã nghiền nát mất tổ lái rồi... Lý do là trong khi hành quân tổ lái thường không ngồi trong xe, mà là ngồi phía trên bộ phận hộp số - một điểm rất ấm áp nằm ngoài phía sau tháp pháo – và phủ vải bạt lên người. Nhưng hóa ra là tất cả bọn họ vẫn còn sống - họ chỉ bị ném văng ra đất khi chiếc xe tăng lật nhào, như thề được bắn ra từ chiếc máy bắn đá. Giờ đây người xa trưởng, trung uý Kuts, đang la hét vọng tới từ bên ngoài:

"Aria! Cậu còn sống chứ?"

"Dường như thế," tôi đáp. "Những người khác có sao không?"

Và tôi trườn ra ngoài qua cái cửa nắp ở dưới (mà giờ đã là ở phía trên) rồi quan sát xung quanh. Quanh cảnh thật vô cùng ấn tượng. Chiếc tăng đang nằm trên tháp pháo của mình với toàn bộ xích xe chổng lên trời. Cái nòng pháo chọc thẳng xuống dưới đất. Chưa lần nào trong suốt cuộc chiến tranh tôi được trông thấy cảnh một chiếc xe tăng trong tư thế bất tự nhiên như thế này. Chúng tôi cùng lặng yên đứng nhìn Người Bạn chiến đấu đã ngã xuống của mình.

Tiểu đoàn trưởng xuất hiện ngay lập tức, tựa như một con quỷ vụt chui ra khỏi chiếc hộp. Ông ta giảng giải cho tôi một hồi theo đúng kiểu Nga la tư mọi thứ ông ta đang nghĩ về tôi, rồi hạ lệnh:

"Tôi để lại đây cho anh một chiếc xe để kéo anh lên. Anh phải kéo chiếc xe dậy, sắp đặt tất cả trở lại trật tự rồi có mặt kịp cùng chúng tôi vào sáng mai. Nếu không làm được – Tôi sẽ xử bắn anh!”

Chúng tôi không mất thời giờ để giải thích những gì chúng tôi đang nghĩ về ông ta mà lập tức bắt tay vào việc. Chúng tôi mất suốt đêm để đào một lối ra khỏi cái khe, dùng chiếc tăng kéo để trước tiên là lật ngang chiếc tăng của mình lại, rồi lật tiếp cho nó đứng đàng hoàng trên hai hàng xích – cùng một chuỗi tiếng động rầm rầm khủng khiếp, rợn hồn phát ra từ mọi bộ phận trên xe mỗi lần chúng tôi nỗ lực để lật nó lại. Rồi chúng tôi tháo gỡ tất cả đống sắt vụn bên trong rồi cố gắng khởi động nó bằng bộ khởi động khẩn cấp, dùng hơi nén. Và chiếc xe tăng, loại tăng tốt nhất của Thế chiến thứ 2, đã bắt đầu nổ máy ngay sau khi vừa trải qua cái tai nạn ghê gớm nhường ấy!

Chúng tôi chỉ còn lại một giờ đồng hồ để nghỉ ngơi và ăn uống. V à rồi chúng tôi tiếp tục lên đường khi bình minh vừa ló dạng. Nỗ lực đầu tiên của Số mệnh nhằm lôi tôi ra khỏi quân chủng xe tăng đã hoàn toàn thất bại...

Chúng tôi tăng tốc và vượt qua thành công con sông tại đúng vị trí đã định sẵn, rồi bắt kịp đoàn quân của mình vào giữa ngày, báo cáo tất cả lên tiểu đoàn trưởng và nhập vào trong đội hình. Tất cả bốn người chúng tôi đều đã sức cùng lực kiệt, nhưng trong đó tôi là người mệt nhất. Tôi chìm dần vào cơn ngủ không thể cưỡng lại được trên chiếc ghế lái của mình và mơ thấy chiếc xe tăng ẩn hiện trước mắt. Điều đó thật nguy hiểm hết sức. Trung uý, khi nhận ra tình trạng của tôi, ráng ở lại trong xe, cố gắng khích lệ, đá vào lưng tôi từ trên chiếc ghế của anh gắn trong tháp pháo (trong xe T-34, chỗ của xa trưởng nằm trong tháp pháo nhưng bố trí phía trên chỗ của người lái nằm hơi thụt xuống thân xe – LTD) hết lần này đến lần khác. Không còn ai khác có thể thay thế cho tôi. Xa trưởng lấy lý do là kiến thức thực tiễn về lái xe qua khóa huấn luyện thời chiến của mình quá ít ỏi, còn pháo thủ Kolia Rylin và người điện đài viên kiêm xạ thủ súng máy Vereschagin thì hoàn toàn không được học chút gì về lái xe. Khả năng thay thế của các thành viên tổ lái còn lại là hoàn toàn không có - thế là họ cứ tiếp tục nằm dài trên chỗ ấm áp của bộ phận động cơ. Trong khi đó tôi đang phải một mình chịu đựng với mức độ căng thẳng tột cùng, trên hết là phải lãnh nhận luồng khí lạnh rát như băng bị hút mạnh từ bộ quạt thông gió đang gầm rú đằng sau lưng tôi, phụt thẳng vào ngực.

Ngay trong chặng nghỉ chân đầu tiên, sau khi ăn xong món kasha (cháo lúa mạch – LTD) với xuất Lend-Lease tushonka (thịt hộp Mỹ viện trợ - LTD), chúng tôi phát hiện ra có một chỗ rò rỉ dầu ở động cơ xe. Cú lộn nhào xuống đáy khe cạn không phải là không có hậu quả. Chúng tôi xác định rằng vết rò không đáng kể và tiếp tục lên đường sau khi đã quấn chặt vết nứt bằng nhiều lớp băng vải rồi lấy dây buộc lại.

Sau khi đi thêm được năm mươi cây số thì có chuyện gì đó xảy ra: sau một chặng dừng ngắn máy xe không chịu nổ nữa. Không, chỉ là không khởi động được mà thôi. Chúng tôi đi tìm người kỹ thuật viên. Anh ta bò vào trong một lát để cố xem xét động cơ bằng một cái xà beng rồi tuyên bố:

"Chỉ có một thằng đần độn mới nghĩ cái thứ băng garô như vậy là đủ để giữ cho dầu khỏi chảy ra! Nó chảy hết tiệt ra rồi! Động cơ của các cậu bị nghẹt rồi...”

"Chúng tôi phải làm gì bây giờ?" trung uý hỏi.

"Binh đoàn trưởng sẽ quyết định xem các anh sẽ phải làm gì. Nhưng xe tăng không thể đem ra sửa ngoài đồng trống được, cần phải thay cái động cơ, chúng tôi cần các dụng cụ cần thiết để làm chuyện đó. Bây giờ thì ngồi chờ đây đã, tôi sẽ đi báo cáo chuyện này, sáng mai chúng tôi sẽ gửi xe tới kéo các anh đi."

Đoàn quân lên đường và để chúng tôi lại một mình. Bão tuyết quay cuồng trên thảo nguyên trần trụi phủ đầy tuyết. Không một bóng cây, không một bụi rậm, chỉ thấy xa xa trên đường vài mái nhà thấp lè tè - một khu trại ven đường.

Không thể ngồi lại bên trong chiếc xe tăng đang đóng băng. Chúng tôi cố dựng tạm một thứ từa tựa túp lều bằng cách quàng tấm vải bạt qua nòng khẩu pháo. Chúng tôi đốt lên bên trong đó một xô dầu xăng để cố sưởi ấm và ăn chút gì đó. Vài giờ sau tất cả đều không thể nhận ra nhau vì đã nhuộm đầy muội bồ hóng.

"Thế này," trung uý thốt lên, "chúng ta không thể ngồi đến chết ở đây được... Hãy ra nghỉ đêm ở ngoài kia thôi," anh ta hất tay về phía mấy căn nhà ngoài xa. "Ở đấy có một ống khói, nghĩa là có lò sưởi. Có lẽ lại còn cả ít rơm sót lại nữa. Chúng ta sẽ để lại một người gác chiếc xe này. Cậu cũng cần phải ngủ một chút (anh ta hất đầu về phía tôi). Do đó cậu sẽ là người trực trước đúng một tiếng rưỡi đồng hồ - kế đó tôi sẽ phái người khác đến thay. Nhưng bù lại sau đó cậu sẽ được ngủ trọn giấc.”

Thế là tôi ở lại với chiếc xe tăng cùng một khẩu tiểu liên đeo trên vai. Thời gian từ từ trôi qua trong bóng đêm. Bước tới bước lui. Bước tới bước lui. Tôi không thể dựa lưng vào chiếc xe – mí mắt tôi luôn chỉ chực sụp xuống. Nhưng sau một tiếng rưỡi người thay thế vẫn không thấy tới, thậm chí sau cả hai tiếng đồng hồ. Quỵ xuống vì kiệt sức, bọn họ chắc đã lăn ra ngủ như chết. Tôi nã một phát tiểu liên – không có kết quả. Tôi cần phải làm một điều gì đó, nếu không đơn giản là tôi sẽ bị lạnh cóng cho tới chết. Đôi chân tôi không thể đứng vững được nữa. Tôi đóng kín cửa chiếc tăng lại và bắt đầu mò mẫm qua lớp tuyết dày trên thảo nguyên để tới chỗ mấy căn nhà. Tôi chật vật đánh thức tay trung uý, anh ta đang ngủ trên đống rơm, và cho anh ta biết về sự tồi tệ khi để cho tình thế diễn ra như vậy... Rylin, chật vật lắm mới hiểu được chuyện gì đã xảy ra, bò dậy từ chiếc giường ấm áp của mình và bước ra ngoài với khẩu tiểu liên. Tôi ngã vật xuống ngay chỗ của anh ta mà không cần suy nghĩ và ngủ như chết ngay lập tức.

Rylin đứng trong giá lạnh được một chốc – và rồi đã phá vỡ lời thề khi nhập ngũ của mình...

Chúng tôi bước ra khỏi căn nhà khi trời vừa hừng sáng, miệng lầm bầm nguyền rủa Vereschagin vì đã ngủ quên mất phiên trực của mình. Nhìn lại trên đường - chiếc xe tăng đã biến mất. Nó không có ở đó. Bị lấy mất rồi. Cũng không thấy cả Rylin. Chúng tôi tìm thấy hắn ta trong căn nhà kế bên nơi hắn đang ngủ ngon lành, tay ôm đang lấy khẩu tiểu liên. Khi chúng tôi giải thích tình hình cho hắn, hắn vội chạy ra ngoài như thể muốn chua xót đi kiểm tra lại. Sau khi tận mắt nhìn thấy điều gì đã xảy ra, hắn tuyên bố rằng thật ra đêm qua, ngay sau khi hắn tới nơi chiếc xe và nhận ra cái mà hắn phải canh gác đã biến mất, hắn đã quay trở lại và đi ngủ. Để trả lời cho câu hỏi rất hợp lý rằng tại sao hắn không đánh thức chúng tôi dậy và tại sao hắn lại đi ngủ trong một căn nhà khác, hắn ta trả lời rằng hắn đã không muốn quấy rầy chúng tôi...

Câu chuyện này, mặc dầu thật vô cùng phi lý, hoàn toàn có thể cứu hắn thoát cái tội trạng mà thực ra không phải là nhỏ. Đấy là lý do vì sao hắn lại đang đàng hoàng đứng trên mặt đất mà dối trá không chút xấu hổ, mắt nhìn thẳng vào cả ba người chúng tôi. Do lập luận của chúng tôi chẳng có gì hợp lý hơn để bẻ lại câu chuyện dối trá của hắn, tôi, kẻ đã tự động rời bỏ vị trí gác, hóa ra lại chính là vật hy sinh. Đồng thời người chỉ huy là trung uý Kuts, người luôn phải chịu trách nhiệm cho tất cả, cũng vậy.

Và thế là chúng tôi bắt đầu thất thểu trên con đường thênh thang vùng Kuban, dẫm trên những vết rãnh bánh xe đóng băng, lòng tràn ngập cảm giác bất hạnh và kiệt quệ. Sau khi đi bộ khoảng mười cây số trong cái im lặng như tờ, chúng tôi tới được ngoại vi một khu làng Côdắc khá lớn, tại đó chúng tôi nhận ra vệt xích chiếc xe tăng rủi ro của mình. Hóa ra đám kỹ thuật viên khôn ngoan kia đã tới đây hồi đêm và tìm thấy chiếc xe tăng không được canh gác. Họ mở khóa cửa chiếc xe bằng chìa khóa riêng của mình rồi kéo nó đi. Tất nhiên, họ trông thấy khu trại và hiểu rằng tổ lái đang ở đâu, nhưng đã quyết định đùa một chút cho vui...

Trò đùa đó, cộng với việc khăng khăng dối trá của người bạn và đồng đội của chúng tôi, Rylin, đã bắt chúng tôi trả giá khá đắt. Binh đoàn trưởng, do tất cả tội lỗi của chúng tôi, đã ra lệnh đưa trung uý Kuts và tôi ra trước tòa án binh và xử với hình thức nghiêm khắc nhất của luật thời chiến. Quyết định này được đưa ra chỉ sau một cuộc thảo luận ngắn.
Đó là một câu chuyện không vui vẻ gì, sau sự việc này tôi không bao giờ quay trở lại quân chủng xe tăng lần nữa. Mặc dù tôi đã thoát khỏi tai nạn này mà toàn mạng.
Ví dụ trên cho thấy sức sáng tạo vô bờ mà Số mệnh dựng nên khi Bà muốn chuyển một con người được Bà nâng đỡ sang một quân chủng khác. Còn ai nữa ngoại trừ chính Số mệnh có thể tạo ra một loạt những tai nạn kỳ lạ như vậy nhằm thực hiện được mục đích đó?

Cũng cần kể thêm rằng nhiều năm sau chiến tranh tôi đã cố gắng để tìm ra số phận của những thành viên còn lại của tổ lái. Nhưng Cục lưu trữ về khu vực Trung Á của Bộ Quốc phòng không giữ những thông tin như thế trong kho của họ. Những con người đó đã tan biến trong quá khứ mà không để lại một vết tích, và chỉ còn bóng dáng của họ lang thang trong mớ ký ức lộn xộn của tôi...

Thêm một điều nữa, Rylin hẳn đã chủ ý thí mạng tôi, hắn hoàn toàn biết thừa rằng như thế là hại tôi. Nhưng chẳng phải hắn cũng chỉ là một công cụ mù quáng của Số mệnh, người đang bảo vệ cho tôi, đấy sao? Mọi chuyện xảy ra đều tuyệt đối khắng khít với nhau trong cái thế giới xảo trá này.

Dịch từ Nga sang Anh: Oleg Sheremet

Dịch từ Anh sang Việt: Lý Thế Dân


[/img]
 
Phỏng vấn Semion Aria

Semion Lvovich, chiến tranh đã bắt đầu với ông như thế nào?

Tôi là sinh viên ngành kỹ sư vận tải quân sự tại Học viện Novosibirsk. Khi chiến tranh nổ ra, toàn thể lớp tôi đều được động viên. Người ta đưa chúng tôi tới Maskva, nhưng tôi không phải ra mặt trận bởi đoàn tàu chở chúng tôi bị trúng bom, tôi bị sức ép và nằm lại trong bệnh viện.

Sau khi ra viện người ta chuyển tôi tới Trung đoàn tăng huấn luyện số 19 đóng tại Nizhniy Tagil. Trung đoàn này gồm nhiều tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn huấn luyện cho lính tăng một chuyên môn riêng – có nơi thì huấn luyện thành xa trưởng, tiểu đoàn khác lại làm người tiếp đạn v.v. Tôi được đưa vào tiểu đoàn đào tạo ra thợ máy – lái tăng.

Việc huấn luyện được thục hiện trên xe thật: có xe tăng ngay trong tiểu đoàn, ch1ng tôi được dạy cách lái, cách liên lạc với chỉ huy, các bộ phận máy móc, cách vận hành chúng. Tôi cũng xin lưu ý là rất khó để có thể khởi động máy xe trong điều kiện mùa đông. Anh phải làm nóng nó trong suốt hai giờ trước khi chạy, nghĩa là phải đút một cái vỉ kích thước nhỏ hơn chiếc xe một chút xuống dưới gầm xe, đổ dầu vào đó rồi châm lửa. Sau khoảng một tiếng rưỡi, chiếc xe tăng, và cả chúng tôi nữa, đều phủ đầy một lớp muội bồ hóng, chính là lúc chúng tôi đã có thể nổ máy được rồi.

Kỹ năng thế chỗ cho nhau được yêu cầu đối với toàn bộ thành viên tổ lái. Trong thực tế điều này không thực hiện nổi - thời gian huấn luyện quá ngắn. Tuy vậy tôi cũng đã bắn pháo của tăng được rất nhiều lần. Người ta cũng chở chúng tôi tới thao trường, nhét chúng tôi vào xe tăng, cho chúng tôi lái thử qua một chướng ngại vật, tập thay các mắt xích xe (sửa xích xe là một công tác vô cùng khó). Trong hai hoặc ba tháng, tức toàn bộ thời gian huấn luyện, chúng tôi cũng đã tham gia lắp ráp xe tăng trong dây chuyền lắp ráp chính tại nhà máy.

Người ta có dạy các ông cách bò ra khỏi xe tăng không?

Không, người ta việc gì phải dạy cái đó? Anh chỉ cần đơn giản là mở cái cửa nắp và nhảy ra ngoài. Hơn nữa, còn có một cửa nắp ở dưới đáy xe, anh cũng có thể thoát qua cửa đó mà không sợ bị địch phát hiện. Nói chung chuyện này không cần phải huấn luyện.
Tôi được đọc rằng lính tăng của ta thường cắt bỏ túi áo khỏi quân phục áo vét để không bị mắc kẹt lại khi trườn khỏi cửa nắp xe.

Chúng tôi chẳng cắt cái gì cả, áo vét của tôi rất tốt. Làm sao ta lại có thể bị kẹt vì lý do đó được? Chiếc cửa nắp rất nhẵn nhụi, gờ được bo tròn, chui ra chui vào rất dễ dàng. Hơn nữa, khi ta đứng thẳng trên chiếc ghế của người lái, anh đã thoát ra ngoài xe cho tới eo lưng rồi.

Sau thời kỳ huấn luyện, người ta chất chúng tôi lên một đoàn tàu cùng những chiếc T-34 của mình, rồi chuyển chúng tôi ra mặt trận. Vì một lý do gì đó, lộ trình có chặng đi ngang qua vùng Trung Á. Chúng tôi đang đi từ Krasnovodsk tới vùng Kavkaz băng qua Biển Caspian Sea, trên một chiếc phà. Trên đường đi, gió mạnh thổi tung tấm vải bạt che chiếc xe tăng. Tôi xin kể thêm rằng sống trên xe tăng mà thiếu tấm vải bạt thì thật khổ vô cùng. Nó thật hữu ích – chúng tôi dùng nó để che chắn bản thân khi ngủ, dùng trải ra khi ăn, dùng để phủ lên xe tăng khi di chuyển trên xe lửa, nếu không bên trong xe sẽ mau chóng ngập đầy nước mưa. Đó là những chiếc xe tăng được sản xuất trong thời chiến. Không có thứ gì để che cho cái nắp cửa phía trên tháp pháo, còn nắp cửa của khoang thợ lái thì có tấm che nhưng vẫn không thể ngăn nước chảy vào được. Cho nên khi bị mất tấm vải bạt thì thật tồi tệ. Thế là tôi phải đi chôm một tấm vải buồm từ một cái kho quân đội, nhưng chắc chẳng cần kể thêm gì ra ở đây – đó không phải là chuyện chiến đấu, mà là một tội vi phạm kỷ luật quân sự.

Chúng tôi đi tới vùng Bắc Kavkaz. Tại đó chúng tôi tham gia trận chiếm Mozdok trong thành phần của Binh đoàn tăng số 2. Rồi chúng tôi được chuyển tới Trung đoàn tăng 225 để tham chiến tại khu vực Mineral'nye Vody (tiếng Nga: Mỏ nước khoáng- LTD) và tiếp đó là tại Kuban.

Bộ phận truyền động của xe tăng hoạt động có ổn định không?

Bộ truyền động của T-34 khá khác thường. Nó không có trục lái. Cần lái được gắn trực tiếp vào trục phụ của hộp số. Đó là lý do tại sao hộp số lại phải đặt ở giữa để ưu tiên cho trục quay - được thực hiện với những bộ phận đặc biệt. Nó phải được liên kết rất chắc chắn bởi chỉ một xung động nhỏ cũng dẫn tới sự phá huỷ của toàn bộ hộp số. Nói chung, thiết kế của chiếc tăng này đã rất thành công. Lấy ví dụ là việc chúng tôi đã sống sót sau cái tạn nạn kinh khủng như trên - chiếc tăng bị lật úp trên tháp pháo, nhưng sau đó vẫn khởi động lại được.

Trên xe của ông có gắn radio không?

Vâng, một máy điện đài được gắn ngay góc phải của thân xe, dùng để liên lạc với chỉ huy đơn vị. Liên lạc bên trong xe thực hiện qua máy bộ đàm, nhưng hoạt động rất tồi, tương tự như tất cả những thiết bị được sản xuất ra trong thời gian chiến tranh. Đó là lý do chúng tôi phải liên lạc với nhau bằng chân, tức là ủng của xa trưởng gác lên vai tôi, anh ta sẽ nhấn vào vai phải hoặc vai trái của tôi, thế là tôi sẽ theo đó mà lái chiếc xe sang trái hoặc sang phải. Sau này khi tôi hành nghề luật sư, sếp văn phòng của tôi là Krapivin, một Anh hùng Liên Xô, cựu trung đoàn trưởng một trung đoàn tăng. Khi tôi nói với anh ta là chúng tôi đã chiến đấu với quân thù bằng đôi ủng của mình, anh ta liền bảo: “Ồ! Giờ thì tớ tin chắc cậu đúng là lính tăng thực thụ rồi.” Ngoài ra, có một bộ kính quan sát ba góc thật khủng khiếp gắn trên cửa nắp cho thợ lái. Chúng được làm từ thứ nhựa đáng ghét màu xanh hoặc vàng gì đó và đem lại một tầm quan sát hoàn toàn méo mó, dợn sóng. Không thể nhìn rõ bất cứ thứ gì từ cái kính đó được, nhất là khi xe đang bị xóc. Đó là lý do tại sao chúng tôi thường chiến đấu với nắp xe mở sẵn để tiện quan sát.
Theo ý kiến của ông, vị trí dễ bị tổn thương nhất đối với pháo binh địch của xe T-34 là gì?
Phần giáp hông.

Nếu xích xe bị hỏng đứt trong khi chiến đấu, ông sẽ phảm làm gì: rời xe tăng, cố sửa lại xích hay sao?

Cố mà sửa lại xích. Đấy không phải là tình huống hư hỏng nghiêm trọng gì. Chúng tôi luôn đem theo sẵn những đoạn xích dự trữ, chúng được gắn bên hông xe và thực ra còn là thứ giáp bổ sung cho xe. Sửa xích không phải là công tác gì đó quá phức tạp.

Ông có thể chỉ ra điểm yếu nhất trong một chiếc T-34 không?

Hoàn toàn thiếu tiện nghi cho tổ lái. Tôi từng vào trong xe tăng Mỹ và Anh. Tổ lái trong đó thao tác ở điều kiện thật thoải mái: trong xe được sơn những màu sáng, ghế ngồi khá êm, có cả tay vịn. Khác hẳn với T-34. Trong đó tiện nghi cho tổ lái chỉ ở mức tối thiểu. Thật khó để tôi bình luận gì thêm, tôi đâu có phải là kỹ sư thiết kế.

Có lẽ ông cũng từng tham gia sửa chữa bên trong xe tăng? Bộ phận nào là kém ổn định nhất: hộp số, hay bộ truyền động?

Tôi chưa gặp phải bất cứ thiếu sót nghiêm trọng nào trong thiết kế hay kỹ thuật của chiếc xe tăng (T-34). Xe này rất tốt, đáng tin cậy.

Có ý kiến cho rằng xe Matilda của Anh dùng động cơ xăng nên dễ bốc cháy hơn xe của ta dùng động cơ chạy dầu diesel?

Xe tăng Mỹ cũng dùng động cơ xăng. Chúng bốc cháy tựa những bó đuốc. Thế đấy, một mặt - rất quan tâm tới tiện nghi cho tổ lái, mặt khác - lại không thèm bảo vệ cho họ. GIải thích điều này thế nào? Tôi thật khó mà nói được. Hơn nữa, mặt chân đế xe của họ rất hẹp, do đó xe hay đổ sang một bên khi chạy trên các sườn dốc. Chúng có những sai sót kỳ lạ, không thể hiểu nổi.

Thiết bị điện của T-34 có ổn định không?

Ổn định. Vũ khí của xe hơi thiếu bởi hai khẩu súng máy trên xe tăng không tạo được một hỏa lực có tầm hoạt động đủ rộng, do cả hai khẩu đều chĩa về phía trước. Tuy thế, ta cũng có thể quay tháp pháo để tăng tầm sát thương, nhưng như vậy thì quá mất công.
Súng máy của xe tăng có hiệu quả không? Nó có được sử dụng thường xuyên không?
Rất thường xuyên. Một khẩu súng máy gắn trên tháp pháo, người tiếp đạn sử dụng nó, khẩu kia gắn vào một ụ tròn trên thân trước xe. Khẩu này được sử dụng bởi người điện đài viên kiêm xạ thủ súng máy. Khẩu trên tháp pháo cũng gắn vào một ụ tròn, nhưng ụ này có góc tác xạ theo phương ngang rất nhỏ, tuy vậy khẩu ở dưới có góc tác xạ rất tốt – nó xoay được tới 45, thậm chí có thể tới 60 độ, hơn nữa tháo nó ra rất dễ.

Ông có sử dụng vũ khí cá nhân không?

Không, người ta không cấp thứ đó cho chúng tôi. Tôi đành phải tháo khẩu súng máy ra khỏi ụ để dùng. Ừ, hình như chúng tôi không có bất cứ thứ vũ khí cá nhân nào cả. Nếu không tôi đã nhớ ra rồi. (Xin lưu ý thời điểm mà Semon Aria đang nhắc tới đây là thời kỳ đầu chiến tranh, khi ông còn trong quân chủng xe tăng. Thời kỳ này vũ khí Hồng quân rất thiếu và việc phân phối thực hiện rất kém. Tuy vậy không đến nỗi như trong “Enemy at the Gate”: tới thời Stalingrad đã cải thiện nhiều. Việc cấp 5 người một súng trường chỉ trong thời kỳ bảo vệ Maskva, và chỉ trong tổ chức dân vệ opochenyie như Vladimir Dolmatov đã nhắc tới. – LTD)

Người ta có hướng dẫn gì cho các ông trong trường hợp đối đầu với xe tăng địch không? Giao chiến hay né tránh chúng?

Giờ thì tôi không thể nói về điều đó được.

Nhưng không lẽ ông chưa bao giờ đối đầu với xe tăng hay pháo tự hành của địch hay sao?

Không, tôi chưa bao giờ đối đầu với chúng. Chúng tôi chiến đấu với pháo chống tăng, ụ đại liên, thậm chí cả pháo phòng không. Trung đoàn tôi, trong suốt thời gian tôi phục vụ tại đó, có lẽ có khoảng 12 xe tăng bị tiêu diệt.

Khi xe tăng bị phá huỷ, tổ lái có kịp bò ra ngoài không?

Khoảng 50/50. Nếu viên đạn lọt vào trong xe thì tất cả sẽ cháy thành than, nhưng nếu viên đạn bắn chệch văng ra, hoặc nếu viên đạn bắn trúng khoang động cơ và xe tăng bốc cháy thì tổ lái có thể bò ra ngoài được. Thiệt hại cũng rất lớn, hiếm khi một người lính xe tăng có thể chiến đấu suốt cuộc chiến mà vẫn còn sống. Thiệt hại tương tự như đối với phi công tiêm kích chiến đấu. Tuổi thọ một phi công tiêm kích ngoài mặt trận thường tối đa là 40-60 ngày. Tương tự như vậy đối với các đơn vị xe tăng, nhưng vẫn có những người từng chiến đấu suốt một hoặc hai năm.

Có những tay Át như vậy trong đơn vị của ông không?

Có. Tôi còn nhớ một người - Sustavniov. Anh ấy là thợ lái, khắp người phủ đầy huân chương. Anh ta được công nhận là một lính tăng xuất sắc và cực may mắn.

Phẩm chất nào của một chiếc xe tăng là quan trọng nhất trong hoàn cảnh chiến trường?

Ô, tất cả đều quan trọng, khả năng cơ động, tốc độ, thật khó để chọn ra cái nào là quan trọng hơn. Trước tiên, tất nhiên, phải là sức bền, khả năng chống đạn, khả năng phòng thủ.

Điều kiện phòng thủ chống tăng của bộ binh Đức có tốt không?

Cũng như bộ binh Nga thôi. Người lính bộ binh thì có những gì nào? Chiến hào. Anh ta đào cho mình một cái hố và ngồi trong đó. Nếu anh ta bỏ chạy thì sẽ không thể làm gì để chống lại xe tăng được. Trang phục của chúng (lính Đức – LTD) và trang bị của chúng thì đáng kể hơn, chúng đã chuẩn bị rất kỹ cho chiến tranh. Nhưng đối với chúng tôi thì mọi thứ đều trong tình trạng rất tồi tệ, quân đội chưa sẵn sàng để tham chiến, cả về lực lượng lẫn trang thiết bị. Mọi thứ đều được thực hiện trong chiến đấu, trên những đống thây người. Tôi đã tận mắt trông thấy chúng ta hành động ngu xuẩn thế nào trong suốt nửa đầu của cuộc chiến tranh. Dân số ta rất đông - mồi thịt cho đại bác (chair à canon) quá nhiều. Nếu đất nước ta không rộng đến vậy, bọn Đức hẳn đã dễ dàng thắng cuộc chiến này rồi.

Người ta nói rằng xe tăng chỉ chiến đấu dọc các con đường, có đúng thế không?

Tôi chưa bao giờ thực sự để ý về chuyện này, nhưng nói chung, tất nhiên xe tăng luôn tìm cách tránh những địa hình khó vượt qua. Tất cả những câu chuyện kể về xe tăng chạy xuyên tường ra sao, ủi đổ cây cối – tất cả đều là thứ rác rưởi. Có lẽ điều này là phù hợp thực tế - xe tăng thường chiến đấu dọc các con đường. Bởi vì một chiếc xe tăng có thể bị lật úp giữa một cái khe hoặc bị mắc kẹt trong đầm lầy. Không có chuyện xe tăng chạy ầm ầm trong rừng, nó có thể húc đổ cây cối mọc thưa thớt, tất nhiên, nhưng tôi chưa bao giờ trông thấy một chiếc tăng húc xuyên qua tường gạch như người ta vẫn chiếu trên phim ảnh.

Ông có quan tâm tới điều kiện địa hình khi lái xe không?

Tôi xin tuyên bố rằng rất không nên chạy qua một khe cạn! Tôi có thể kể cho anh một trường hợp xảy ra với tôi tại Bắc Kavkaz. Tôi đang lái xe dọc một con đường núi, nhưng khi tới một quãng hẹp, một bên xích xe của tôi chạy trật một chút sang phía phải đường và thế là cả chiếc xe tăng bắt đầu trượt dài xuống dốc. May là không có đoạn dốc nào dựng đứng, chỉ là một sườn đồi toàn đá nghiêng 45 độ. Tôi trượt trên đoạn dốc đó cho tới tận đáy hẻm núi. Và người ta đã phải rất chật vật để kéo được tôi lên. Nếu ở đấy có một đoạn dốc đứng thì sẽ ra sao nhỉ?

Quân Đức có gài mìn trên mặt đường không?

Có.

Các ông có dụng cụ dò mìn không?

Không, thời kỳ đó trong các đơn vị xe tăng không có dụng cụ dò mìn.

Quân Đức có lựu đạn chống tăng không?

Mìn chống tăng thì có, tôi đã từng gặp loại đó; nhưng tôi chưa bao giờ trông thấy bộ binh sử dụng lựu đạn chống tăng. Lựu đạn chống tăng Xôviết của ta – chỉ đơn giản là những chùm lựu đạn thường buộc túm lại.

Còn mìn? Ông gặp chúng thế nào, hay chỉ trông thấy chúng thôi?

Vâng, tôi không chạy lên trên chúng, tôi chỉ trông thấy chúng. Chúng cũng gần giống như bây giờ, tựa như những cái đĩa.

Có bao giờ xe ông bị trúng đạn chưa?

Có, nhưng giáp xe không bị xuyên thủng. Khi một viên đạn bắn trúng, có một tiếng leng keng vang lên như trong một cái chuông, và rồi tai bạn sẽ điếc tịt.

Vỏ thép xe có bị móp méo khi bị trúng đạn như thế không?

Không, vỏ thép khá đàn hồi.

Làm thế nào ông xác định được một chiếc tăng có thể chạy qua một cây cầu hay không? Ai sẽ chịu trách nhiệm về điều đó?

Ồ, ai đi xác định chuyện đó? Một chuyên viên trong đơn vị công binh sẽ quyết định được rằng chiếc xe phải có tải trọng bao nhiêu, có thể chạy qua đó được không, nhưng ngoài chiến trường thì mọi điều kiện đều là tối thiểu, mọi thứ đều chỉ có thể phỏng tính.

Có thể nói là ông đã may mắn khi được chiến đấu trên một chiếc T-34 không?

Đúng, anh có thể nói như thế.

Ông có thể nói gì với chúng tôi về loại xe KV?

Có rất ít xe tăng loại KV. Chúng rất nặng nề, tất cả cầu cống đều đổ sập dưới sức nặng của chúng. Chúng là những chiếc tăng rất không thành công.

Trong năm 42, khẩu pháo 76mm của xe T-34 có thể xử lý được tất cả các loại mục tiêu trên chiến trường không?

Trong thời kỳ đó thì đúng thế.

Ông đã viết là xe ông không còn đèn pha ngay sau trận chiến đầu tiên. Có phải đơn giản là do chúng bị đạn bắn hỏng không?

Tất nhiên, chúng bị quét sạch vì mảnh đạn.

Ông có trình độ học vấn khá cao. Xét cho cùng, ông đã từng học tại một học viện trước khi chiến tranh nổ ra. Tại sao ông chỉ trở thành thợ lái mà không phải là xa trưởng?
Tôi không có được lon sĩ quan.

Ông tác xạ như thế nào, khi đang di chuyển hay trong những chặng dừng ngắn?
Trong những chặng dừng ngắn.

Ai sẽ theo dõi luợng đạn trong xe tăng? Có phải thông qua thủ tục gì để bổ sung đạn không? Có một thứ định lượng tiêu thụ gì không?

Định lượng gì? Không, anh chỉ đơn giản là bắn theo nhu cầu của mình. Tôi không biết ai theo dõi điều đó, có lẽ là xa trưởng. Mà anh phải theo dõi cái gì? Đơn giản là đạn sẽ được bổ sung sau khi bắn hết. Thế thôi. Không có bất cứ thứ định lượng tiêu thụ nào hết.

Nhiệm vụ nào là thường xuyên nhất: yểm trợ cho bộ binh, chống tăng địch, uy hiếp tiêu diệt hỏa lực pháo đối phương?

Cần xét tới thực tế rằng bộ binh luôn đi cùng chúng tôi, có lẽ có bộ binh yểm trợ ngồi trên nóc xe tăng chúng tôi. Không có một chiến tuyến liên tục ở vùng Bắc Kavkaz mà chiến trận nổ ra theo từng đòn dột kích. Nhưng nói chung, nhưng câu hỏi như vậy nên để dành cho các sĩ quan. Lính trơn thực ra không được biết tất cả những vấn đề về chiến thuật như vậy. Lính tráng chỉ thực hiện chức năng kỹ thuật thuần tuý.

Nhờ Trời xe tăng của ông chưa từng bị phá huỷ đúng không?

Chưa hề.

Tốc độ chạy khi chiến đấu của ông là bao nhiêu?

Chúng tôi chạy với tốc độ bình thường trong chiến đấu, luôn khoảng 45-50 kilômét một giờ.

Có bao giờ ông bắn cầu vồng không?

Không.

Có bao giờ ông phải đào ụ chiến hào cho xe tăng không?

Có.

Người ta có bố trí lính bộ binh cho ông để làm chuyện đó không?

Chúng tôi tự đào lấy. Chúng tôi làm trong khoảng ba tiếng đồng hồ bởi theo lệ, chúng tôi không khi nào đào trên đất bằng mà cố gắng đào sau một thứ vách đất để có thể giảm thiểu khối lượng phải thực hiện. Dàn hỏa tiễn "Katiushas" cũng được lái vào các chiến hào tại vị trí chuẩn bị, nhưng không phải tại vị trí khai hỏa.

Dàn "Katiushas" luôn phải có một vị trí chuẩn bị ban đầu, và rồi là chạy tới vị trí bắn. Có phải thế không?

Đúng. Bắn một loạt rồi quay trở về.

Có bao giờ ông bị máy bay địch tấn công không?

Không phải trong thời gian chúng tôi ở Bắc Kavkaz. Tôi gặp máy bay địch khi đang chiến đấu trong một đơn vị "Katiusha". Tôi đã nhận được cấp bậc cao nhất khi phải đối phó với máy bay địch. Nhưng tại đấy, tại vùng Bắc Kavkaz, không quân Đức có số lượng không đáng kể.

Ông nói cấp bậc cao nhất là có nghĩa gì?

À, tôi bị thương vì bom rải thảm và oanh tạc. Tôi trông thấy máy bay địch, không phải loại "Messers" mà là "Heinkels" thì đúng hơn, chúng bay qua đội hình chúng tôi đóng gần một thị trấn, bay thấp gần đụng với ông khói.

Chúng có bị bắn như người ta chiếu trên phim ảnh không?

Vâng, nếu nó bay thấp thì anh sẽ không có đủ thời gian để bắn – nó sẽ bay ào qua đầu anh với một tốc độ chóng mặt. Nhưng chúng tôi vẫn bắn.

Tôi không phục vụ lâu trong quân chủng xe tăng - chỉ từ tháng Mười năm 42 tới tháng Hai, hay khoảng tháng Giêng năm 43. Sau đó tôi bị ra tòa án binh vì tai nạn với chiếc xe của mình và tôi không quay trở lại quân chủng đó lần nào nữa. Sau khi trải qua đại đội trừng giới, tôi có mặt trong một đơn vị hỏa tiễn “Katiusha", tại đó tôi phục vụ cho hết chiến tranh với vị trí quan trắc mục tiêu cho tiểu đoàn hỏa lực.

Sau khi tham gia đơn vị súng cối Cận vệ, ông có trở thành người quan trắc mục tiêu ngay lập tức không?

Tôi làm tài xế môtô một thời gian, tức là người liên lạc với sở chỉ huy trung đoàn. Thực ra, người ta đã bỏ qua lý lịch không phù hợp của tôi bởi họ có một chiếc môtô, nhưng lại không có ai biết chạy. Thế là họ giao cho tôi lái chiếc môtô, nhưng sau hai-ba tháng thì chiếc môtô tiêu tùng - nó bị bắn hạ khi đang chạy, nhưng lúc đó không phải do tôi lái. Sau đó tôi được chuyển sang làm người quan trắc cho tiểu đoàn.

Nhiệm vụ người quan trắc mục tiêu cho tiểu đoàn là gì?

Chúng tôi chọn ra trong những đỉnh đồi, xây dựng một chốt quan sát, bố trí ở đấy một ống quan sát lập thể, quan sát quân địch, chuẩn bị số liệu tọa độ cho các sĩ quan. Chúng tôi không phải đi ra sau phòng tuyến địch.

Ông có phải làm những con tính cần thiết không?

Không, người quan trắc chỉ có trách nhiệm xác định mục tiêu, đo góc, chuẩn bị số liệu rồi hô nó lên cho người sĩ quan nghe thấy, anh ta ngồi đó với cái cặp bản đồ và một tờ giấy can, tính toán lượng giác (có những phép tính lượng giác rất phức tạp) để chuẩn bị bắn. Nhưng tôi cũng biết cách làm chuyện đó, và có thể thay thế anh ta nếu cần thiết.

Nhìn chung, đài quan sát được bố trí bên trong vùng quân ta kiểm soát hay tại khu vực giữa chiến tuyến?

Trong vùng ta kiểm soát, đằng sau lực lượng quân ta. Chúng tôi ít khi leo lên các ống khói hay cối xay gió – như thế thật nguy hiểm vì những điểm đó, theo lệ thường, luôn bị quân địch theo dõi chặt chẽ. Chúng sẽ cố bắn sập chúng để phòng hờ mà không phải là do bắn lầm.

Đám xạ thủ súng trường có làm phiền ông không?

Tất nhiên ở đấy có bọn xạ thủ súng trường. Chúng sử dụng bọn xạ thủ và pháo, bắn hạ những điểm chúng nghi ngờ bằng bất cứ giá nào. Do đó chúng tôi luôn tự đào hầm tránh xuống dưới ngọn đồi của mình.

Đơn vị ông có loại vũ khí gì?

Chúng tôi có loại M-8 và M-16, gắn trên xe Studebaker.

Ông đã gặp súng cối phản lực của Đức chưa?

Bọn Đức bắt đầu sử dụng thứ này chỉ vào cuối chiến tranh. Chúng tôi chỉ gặp súng cối phản lực Đức lần đầu tiên tại Hungary. Thứ vũ khí này, được gọi là "Vaniusha", có nhiều nòng, chúng phát ra một tiếng hú nghe lạnh cả người. Và chúng tôi chỉ được tận mắt nhìn thấy chúng lần đầu khi ở Áo. Chúng bắt chước loại "Katiusha" của ta, nhưng thiết kế để phát ra thứ âm thanh kiểu Đức. Dàn phóng được lắp trên một xe tăng hạng nhẹ. Một người ngồi trong đó và lái chiếc xe này vào vị trí bắn tực tiếp, hắn ta không cần số liệu tác xạ nào hết, việc ngắm bắn được thực hiện bằng quan sát trực tiếp, hắn tự mình ngắm mục tiêu, nã đạn, quay vòng xe lại rồi bỏ đi. Nhưng loại "Katiusha" của ta thì tầm bắn rất xa, ngắm bắn như pháo binh bình thường. Thông số bắn được tính bằng bảng tính lượng giác rất phức tạp, điều chỉnh theo địa hình thực tế. Do đó bọn Đức kém xa ta trong chuyện này.

Độ tán xạ của đạn có lớn không?

Độ tán xạ khá lớn, nhưng chúng tôi biết cách khắc phục. Viên đạn có phần đuôi để có thể xoay tròn khi bay. Nhưng độ tán xạ vẫn lớn hơn pháo thường, vì thế chúng tôi phải bắn theo cung phần tư góc và không nhắm vào mục tiêu cụ thể. Hoặc chúng tôi tính toán để khi bắn nhiều viên đạn thì ít nhất một phát sẽ trúng mục tiêu được chọn.

Ông đã trông thấy "Katiusha" bắn từ ngoài khoảng trống chưa?

Có, nhưng rất hiếm vì như thế rất nguy hiểm, và Katiusha thì rất đắt tiền. Hơn nữa, một dàn Katiusha hoàn toàn lộ diện khi bắn bởi nó tuôn ra một cột khói lớn. Vì thế chúng tôi cố bắn chỉ khi trời tối. Nếu bắn ban ngày, khả năng quân địch phản pháo trúng chúng tôi sẽ tăng cao. Vì thế Katiusha không có vị trí bắn cố định. Chúng đóng trú tại ụ trú ẩn, từ đó chúng chạy ra ngoài vị trí bắn. Chúng phải chuyển đi ngay sau mỗi loạt đạn để không có đủ thời gian cho quân địch phản pháo. Thêm nữa, theo một thông lệ, chúng tôi bắn trực tiếp trên bánh xe, không cần sử dụng bộ phận càng chống hỗ trợ như yêu cầu.
Khi ở trong đơn vị súng cối Cận vệ, các ông có được bảo vệ phòng không không?
Không.

Còn máy bay chiến đấu của ta?

Vâng, máy bay tiêm kích không bảo vệ hay chia ra một phi đội cho thậm chí cả một trung đoàn Katiusha. Họ bảo vệ một khu vực của mặt trận, bảo vệ những vị trí chiến thuật quan trọng, còn chúng tôi là một trung đoàn độc lập. Nó luôn di chuyển hướng này hướng khác. Thậm chí đôi khi người ta chỉ điều đi cả các tiểu đoàn độc lập. Katiusha có uy lực rất mạnh, do đó thậm chí người ta sử dụng cả những khẩu đội độc lập để bắn từng loạt một.

Cần bao nhiêu thời gian giữa hai loạt đạn để nạp lại đạn cho một dàn Katiusha?

Không nhiều đâu. Khoảng 15-20 phút. Một tổ lái Katiusha bao gồm 5 người. Họ thao tác rất nhanh chóng - nạp đạn, và ngay trước khi bắn, đút ngòi nổ vào trong viên đạn.

Giấy thông hành
Trung đoàn Súng cối Cận vệ 51
15 tháng Chạp 1943
Giấy thông hành cấp cho thượng sĩ Cận vệ S.L. Aria
Do nhận được giấy này, anh ta được phép tới Malaya Belozubka, Briansk,
Veseloe, Melitopol' theo nhiệm vụ công tác được giao
Lý do: theo lệnh của chỉ huy đơn vị
Thời gian chuyến đi là 15 ngày, từ 15 tháng Chạp 1943 tới 30 tháng Chạp 1943.
Báo cáo khởi hành
Chỉ có giá trị khi xuất trình cùng giấy tờ xác minh tuỳ thân
/giấy căn cước Hồng quân /

Chỉ huy đơn vị GKMP 51 Thiếu tá Cận vệ Gribovskiy


Đã bao giờ ông phải bắn loạt đạn thứ hai tại cùng một địa điểm chưa?

Cũng có, nhưng rất hiếm khi. Thường là chúng tôi bắn rồi chuyển đi ngay. Chúng tôi quen lái xe đi và nạp lại đạn ở đâu đó khuất sau đồi ụ hơn là lại bắn tiếp tại cùng một chỗ.

Các ông bị thiệt hại có nặng không?

Trong trung đoàn tôi à? Còn tuỳ theo anh so sánh với ở đâu. Nếu so với các đơn vị xe tăng hay tiêm kích chiến đấu thì tổn thất của chúng tôi không lớn lắm. Nhưng nói chung thì chúng tôi luôn bị tổn thất về người. Trong hai năm tôi phục vụ trong trong đoàn này, quân số được bổ sung chiếm tới khoảng 50 phần trăm. Chỗ chúng tôi luôn có người bị chết hoặc bị thương. Tổn thất nhiều nhất là do máy bay oanh kích.

Trong khi hành quân ông có luôn thực hiện đúng quy định về công tác nguỵ trang (tiếng Nga: maskirovka - LTD) không?

Có, tuân thủ tuyệt đối. Lấy ví dụ, lúc trời tối xe cộ chỉ được bật đèn xanh khi di chuyển. Kế đó, đơn vị phải nguỵ trang bằng cành lá và lưới nguỵ trang mà không được phép sai sót. Chúng tôi thường dừng xe lại ở những vườn trồng cây ăn quả nếu quanh đó không có rừng. Nói chung, quy định về nguỵ trang maskirovka luôn được tuân thủ, người ta giám sát chuyện đó rất chặt chẽ.

Xin nói thêm về maskirovka: ta nên hiểu maskirovka không chỉ đơn thuần là nguỵ trang, mà là tổng hợp các công tác nguỵ trang, phản gián, nghi binh, tung tin giả đánh lừa đối phương... Về quy mô, một maskirovka tầm chiến dịch của Liên Xô không thua kém chút nào so với quy mô Chiến dịch Overlord đổ bộ Normandy của quân Đồng Minh, nếu không nói là hơn nhiều. Một trong những lý do là các chiến dịch của Liên Xô tiến hành sâu trong lục địa, chiến tuyến trải dài và quân số, khí tài cũng như chiều sâu phòng ngự-đột kích rất lớn. Hơn nữa, người Nga có một vị thầy đại tài về maskirovka, đó là chính Quân đội Đức. Chính những chuyên viên nghiên cứu lịch sử Thế chiến 2 của phe Đồng Minh cũng phải thừa nhận sự thật này trong các bài viết của mình – LTD

Có nhân viên đặc biệt nào được cử riêng để giám sát việc thực hiện quy định nguỵ trang maskirovka không, hay các ông tự mình làm điều ?

Không, các chỉ huy thông thường có trách nhiệm giám sát chuyện đó, không có nhân viên đặc biệt nào cả. Chỉ huy phải tự giám sát vì nếu bị phát hiện vi phạm maskirovka thì chính họ sẽ phải gặp rắc rối.

Khi ông làm công tác quan trắc mục tiêu, có khi nào ông phải mã hóa thông tin truyền đi chưa?

Chuyện đó là rất cơ bản, cũng hệt như mọi chỗ khác thôi. Người chỉ huy được gọi theo con số thay vì tên thật, đạn dược - lấy theo vài loại rau quả. Nhưng liên lạc qua điện đài thì được mã hóa, tất nhiên rồi. Anh sẽ không biết được nhiều từ tôi bởi tôi chỉ là lính trơn, những thứ đến được tay tôi đều không trực tiếp. Tôi xin kể cho anh một câu chuyện vui xảy ra trong thời bình. Sau chiến tranh tôi hành nghề luật sư tại quận Krasnopolianskiy, và người ta cấp cho tôi, một tay lính phục viên, một mảnh đất để xây nhà. Mảnh lớn trong khu đất ấy đã được cấp cho những ông tướng để họ tuỳ ý xây dựng, và những mảnh nhỏ còn lại được phân phối cho đám dân thường. Vì thế tôi bị vây quanh bởi các lô đất của toàn những ông tướng và do đó, tôi được biết nhiều điều về cánh hàng xóm tướng tá của mình. Có lần tôi được mời đến ăn tối tại nhà một ông tướng. Chúng tôi ngồi cùng bàn, và người ngồi cạnh bên phải tôi là một vị trông rất oai vệ, phong độ và đẫy đà. Thế đấy, tôi thì rót vodka cho ông ta, còn ông ta sẻ salad vào đĩa cho tôi, câu chuyện bàn nhậu bắt đầu, bàn qua tán lại. Và như thường xảy ra, chúng tôi lan tới đề tài chiến tranh, hóa ra là cả hai chúng tôi đã cùng chiến đấu với nhau, hơn thế nữa, chúng tôi đã luôn cùng hành quân theo đúng lộ trình của nhau. Ông ta hỏi tôi: “Anh chiến đấu ở tập đoàn quân nào?” Tôi đáp: “Tôi ở Tập đoàn quân số 44”. Ông ta nói: “Tôi cũng ở Tập đoàn quân 44. Anh đóng lon gì ở đó?” Tôi đáp: “Ờ, tôi là lính trơn. Còn ông?” “Tôi là tư lệnh tập đoàn quân”. Đấy chính là Trung tướng Mel'nik, Tư lệnh Tập đoàn quân số 44. Tôi mới bảo ông ta: "Kondrat Semenych, thật tiếc là chúng ta đã không được cùng uống với nhau ngay từ hồi ấy!”

Ông có hỏi ông ấy về trận Balaton không?

Không, lúc ấy ông ta không còn chỉ huy ở đó nữa. Ông ta đã gặp rắc rối gì đó khi chiến đấu ở Ukraina, tôi cho là ông ấy đã bị giáng chức. Tuy vẫn ở lại trong Phương diện quân Ukraina số 3, ông ta không bao giờ còn được làm tư lệnh tập đoàn quân nữa.

Quan hệ giữa ông và cư dân tại các nước vừa được giải phóng như thế nào?

Rất khác biệt. Biến thiên từ tình cảm anh em thắm thiết ví dụ như tại Bulgaria cho tới cực kỳ thù oán như tại Hungary. Người Hung căm hờn sâu sắc chúng ta và hay bắn vào sau lưng quân ta. Tất nhiên, chuyện đó không phải là vô lý do, dù trong thời kỳ này trong Hồng quân chưa phổ biến tình trạng cướp phá như ta thấy ngày nay, nhưng dấu hiệu của nó cũng vẫn dễ dàng nhận thấy.

(Người Bul, người Tiệp, người BaLan, người Serbia cùng là gốc Slave trong khi dân Hung, Roumani và Croatia thì không và rất ghét dân Nga. Đế quốc Nga khi đánh bại Đế chế Ottoman đã giành độc lập cho Bulgaria, Hy Lạp và Serbia. Trong Chiến tranh Thế giới 1, người Croatia và Hungary khủng bố người Serbia và người Nga đứng ra bênh vực. Roumani thì luôn tranh giành vùng Moldova với Nga. Để lôi kéo Rumani tham chiến trong Thế chiến 2 chống LX, nước Đức đã giành cho Rumani phần Moldova. Về phần Balan, tuy là Slave nhưng theo Thiên Chúa giáo do ảnh hưởng từ luồng xâm lược của các Teutonic Knight, hay đúng hơn là do sự đồng hóa tôn giáo của các man tộc người German. Hơn thế nữa, suốt nhiều thế kỷ liên tiếp, nước Nga, Ba Lan, Lithuanie và Teutonic Knight tranh giành nhau tại vùng Trung Âu. Trong lịch sử, nhiều lần người Ba Lan và Nga cùng dân Côdắc hợp sức chống trả quân Thổ, nhưng họ cũng nhiều lần đánh nhau dữ dội. Mãi tới giữa thế kỷ 18, nhờ sự lớn mạnh của đế quốc Nga sau Piotr Đại đế, Ba Lan suy yếu và bị Catherine II nước Nga ba lần thôn tính. Đồng thời, Nga giành lại độc lập cho Belorussia và Ukraina từ tay Thổ và Ba Lan. Nhưng đời sống các nước này dưới ách Đế quốc Nga cũng cực khổ không kém. Tới trước Thế chiến I, một nửa Ba Lan nằm trong tay Nga, nửa còn lại trong tay Phổ. Vô số cuộc khởi nghĩa của những người yêu nước Ba Lan bị hai đế quốc trên dìm trong biển máu. Thế Chiến I kết thúc với sự tan rã của Đế quốc Nga và sự tái hình thành Ba Lan, Phần Lan và ba nước Bantích (ba nước này là từ Lithuanie nói trên đã bị Nga thôn tính). Trong Chiến tranh Vệ quốc Bulgaria cũng trong phe Trục và có gửi một ít quân xâm lược Liên Xô. Tuy vậy cần thông cảm cho chính phủ họ khi nằm gần một đế quốc quá mạnh vừa nuốt trọn hàng loạt quốc gia Châu Âu. Ngoài Bulgariara, Hung, Ý và Rumani đều tham chiến xâm lược Nga. Sau khi Bulgaria, Rumani đầu hàng Hồng quân năm 44, quân đội các nước này đã phải lập tức quay súng đánh lại đồng minh trước đó của họ là quân Đức. - LTD)

Còn trong trung đoàn ông?

Vâng, trung đoàn tôi dù gì đi nữa cũng có văn hóa hơn, vậy mà thậm chí vẫn xảy ra những chuyện lộng hành tương tự như thế.

Những tay đó là người Slave hay dân Trung Á (nguyên văn Asian, do đó tôi xin vậy vậy cho chính xác hơn. – LTD)?

Dân Slav, luôn là dân Slav! Đám Côdắc là đặc biệt man rợ hung ác.

Điều gì khiến ông sợ nhất ngoài mặt trận?

Chúng tôi sợ cái chết. Thần chết luôn quanh quẩn chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và từ mọi phía. Anh có thể đang ngồi yên ổn uống trà và đột nhiên một viên đạc lạc rơi đòm ngay bên cạnh. Không thể quen với điều đó được. Điều đó không có nghĩa là tất cả chúng tôi đều liên tục bị kích động, rằng mọi người đều ngồi hay đi đấy chờ đợi cái chết đến mọi lúc mọi nơi. Đơn giản là cái chết có tới hay không thôi. Thật đáng sợ trong những cuộc oanh tạc ồ ạt bằng máy bay. Con người ta mất trí đi vì sợ. Cảm giác như thể mỗi quả bom đều đang rơi thẳng vào đầu ta vậy. Thật khủng khiếp! Bầy máy bay lượn tròn trên bầu trời, hai hoặc ba trăn chiếc, và bom rơi xuống như mưa, tất cả chúng đều hú rít khủng khiếp. Kinh hoàng! Tôi còn nhớ có một tay Nekrasov – anh ta thậm chí đã phát điên. Khi cuộc oanh kích kết thúc không cách nào tìm ra anh ta. Và rồi người ta tìm thấy anh ta trong một chiến hào. Anh ta từ chối chui ra! Và nỗi sợ hãi kinh khủng ngập đầy trong ánh mắt anh... !

Binh lính có tin vào những dấu hiệu hay bùa chú có thể bảo vệ họ khỏi chết không?

Người ta hay đeo theo bùa hoặc thánh giá. Có những người có thể dự cảm thấy điềm xấu về nguy hiểm chết người. Ví dụ có tay Kondrat Hugulava trong đơn vị tôi, một người Grudia, miệng rất rộng. Chúng tôi là đồng đội với nhau, anh ấy đã cứu mạng tôi hai lần, và tất nhiên, cả mạng anh ấy nữa. Lần đầu tiên là khi người ta yêu cầu chúng tôi đi lập đường dây liên lạc với một trung đoàn bộ binh. Chúng tôi đang đi trong chiến hào trục thì anh ta thốt lên: “Chúng ta hãy dừng lại.” Tôi hỏi lại: “Tại sao thế?” “Đừng đi, chúng ta hãy dừng lại đây!” Chúng tôi dừng lại, và vài giây sau một viên đạn đại bác rơi đúng vào chiến hào ngay sau một khúc quanh! Đáng lẽ chúng tôi đã bỏ mạng tại đó! Lần thứ hai chúng tôi đang trú bom trong một ngôi nhà đổ nát. Anh ấy lại bảo tôi: “Hãy ra ngay khỏi đây và chạy tới một góc nhà khác.” Chúng tôi dời đi - một quả bom rơi sầm ngay vào góc nhà nơi chúng tôi vừa trú. Những điều kỳ lạ như thế vẫn xảy ra. Linh cảm... Tôi thì không có được.

Các ông chôn cất đồng đội hy sinh như thế nào?

Rất chu đáo ở nửa sau chiến tranh. Có ghi cả bia mộ nữa.

Ông có thứ vũ khí cá nhân gì?

Tôi từng có một khẩu carbine, một khẩu tiểu liên, một khẩu tiểu liên Đức, tôi đem theo chúng cho tới tận cuối chiến tranh, nhưng tôi chưa giết ai bằng vũ khí cá nhân của mình cả. Tất nhiên, tôi cũng có sử dụng chúng, bắn vào đâu đó...

Ngay lúc này anh đang cầm trong tay một cái dù pháo sáng của Đức. Các cô gái ở Ukraina may áo choàng cho họ bằng những mảnh lụa như thế này đấy. Khi đó không có nguồn cung cấp vải may. Khi một hộp những quả pháo sáng như thế này lọt được vào tay chúng tôi, bọn họ liền cắt chỗ lựa này ra, may nó lại và thế là nó trở thành một cái áo blouse.

Có người phụ nữ nào trong đơn vị của ông không?

Trong đơn vị của tôi thì không. Chỉ thấy xuất hiện mấy cô lính thông tin, về sau tất cả cánh sĩ quan đều kết hôn với họ. Khi sau này có một cuộc họp mặt các cựu chiến binh của trung đoàn ở Maskva, tôi có gặp lại những cô gái ấy, giờ đã là vợ của các sĩ quan trung đoàn tôi. Hồi đó tôi đã nghĩ rằng bọn họ vốn đĩ thoã, nhưng hóa ra mối quan hệ của họ kéo dài cho tới suốt cuộc đời.

Ông được nhận huân chương vì chuyện gì?

Huân chương tôi nhận được là vì đã tham gia chiến đấu để giải phóng Vienna. Trận đánh ở đó không phá huỷ nhiều nhưng thiệt hại nhân mạng khá nặng nề.

Thế cụ thể là do chuyện gì? Vì thành tích thế nào?

Anh biết đấy, phần thưởng vì những chiến công xuất sắc rất ít khi kiếm được ngoài chiến trường. Đặc biệt trong những đơn vị pháo binh, không thể có mối liên hệ giữa một cá nhân với thành công của một phát đạn, do đó nếu một người đã tham gia chiến đấu, bộc lộ sự kiên cường, dũng cảm, thì tới lúc nào đó người ta sẽ xem xét, viết một điều đặc biệt gì đấy vào tờ giấy đề nghị khen thưởng, nhưng torng thực tế tất cả đều là tưởng tượng. Và do tôi được đánh giá tốt trong trung đoàn, tới một lúc người ta điền tên tôi vào danh sách khen thưởng. Và bắt đầu ghi ra: “Trong chiến đấu, vì đã bộc lộ lòng dũng cảm kiên cường và xem thường hiểm nguy chết chóc như thế như thế...” Đấy, những truyện cổ tích như vậy đấy.

Ông đã từng chiến đấu trong một tiểu đoàn trừng giới phải không? Cơ cấu của nó thế nào? Ông đã “trả nợ” như thế nào?

Tôi bị đưa vào một đại đội trừng giới, trong đó có khoảng 150 người. Chúng tôi chỉ được vũ trang bằng súng trường. Không có thêm bất cứ khẩu tiểu liên hay đại liên nào. Tất cả sĩ quan chỉ huy đều là sĩ quan thường, nhưng lính tráng và hạ sĩ quan thì là toàn phạm binh. Anh chỉ có thể sống sót thoát khỏi tiểu đoàn trừng giới khi hoặc là đã bị thương, hoặc nếu anh nhận được sự phê chuẩn của chỉ huy trong chiến đấu, và anh ta (chỉ huy) sẽ đề nghị lên trên là bản án của anh được xóa bỏ.

Làm cách nào ông thoát ra được? Bản án của ông được đề nghị xóa bỏ sao?

Vâng. Đó là tại Taganrog trong Phương diện quân Miền Nam. Tôi tham gia một trận đánh trinh sát. Do tình thế là đi hay chết, tôi hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất. Và thành công. Ngay sau đó có đề nghị huỷ bỏ bản án cho tôi, và sau vài ngày tôi được gọi lên Sở chỉ huy Sư đoàn, tới tòa án binh, tại đó người ta huỷ án cho tôi. Sau đó tôi được chuyển sang một đơn vị lính thường.

Giấy chứng nhận của Tòa án binh Sư đoàn bộ binh 151
Cấp cho trung sĩ Semion Lvovich Aria, xác nhận rằng do đã bộc lộ sự dũng cảm và gan dạ trong chiến đấu chống bọn phát xít, bản án của anh ta đã được Toà án binh của Sư đoàn bộ binh 151 huỷ bỏ ngày 17 tháng Ba năm 1943.
Chủ tịch Toà án binh
Luật sư quân sự cấp 3
Sorokin


Ông ở trong đại đội trừng giới trong bao lâu?

Ba tuần.

Ông kể về thời kỳ này rất sơ sài. Tại sao vậy?

Tôi đã kể rất nhiều về chuyện này cho Yuriy Ivanovich Koriakin (xem hồi ức của lính thông tin Koriakin – LTD), và rất nhiều lần anh ấy nài ép tôi mô tả lại nó. Nhưng cứ mỗi lần tôi thử làm, tôi lại nhận ra chuyện đó là quá sức mình, bởi tôi sẽ phải kể lại cả những gì trong đại đội trừng giới và tất cả những gì liên quan tới nó, và để làm được việc đó anh phải có khiếu về văn chương. Có lần, cách đây đã nhiều năm, một nhà văn chuyên nghiệp rất nổi tiếng, sau khi nghe tôi kể, đã nài nỉ tôi viết nó lại. Tôi viết, ông ta xem qua rồi bảo rằng nó thật rác rưởi, là một thứ cứt đái của đám trí thức intelligentsia [trong xã hội Nga (và cả trong xã hội Xôviết), intelligentsia là một tầng lớp gồm những người kiếm sống bằng lao động trí óc và khác biệt với mọi người về văn hóa và lối sống – Oleg Sheremet]. Sau đó tôi không bao giờ thử làm thế lần nữa. Vấn đề ở những câu chuyện lòng thòng tẻ ngắt quanh vùng Kuban diễn ra trước khi tôi có mặt ở đại đội trừng giới. Sự việc ngẫu nhiên xảy đến với tôi: tôi bị mất hoàn toàn các giấy tờ và hồ sơ bản án. Chúng tôi có một bộ hồ sơ chung cho cả ba người, nhưng hai người kia bị chuyển đi xa mà thiếu tôi, và tôi phải ở lại một mình mà không còn chút giấy tờ gì. Mọi chuyện diễn ra tiếp theo tựa như một cuộc hành trình vào nơi hoang dại với quang cảnh xáo động tột cùng. Và khoảng thời gian bước khi ra tòa án binh, khi tôi nằm trong một phòng giam chờ ra thi hành án tử hình, cũng cần được mô tả lại, không thể né tránh được, nhưng thật khó để mô tả nó thành văn viết. Cho tới giờ tôi vẫn chưa quyết định được phải làm việc đó như thế nào.

Vậy điều đáng sợ nhất là gì?

Một đợt xung phong tấn công – đó là cuộc thử thách khốc liệt nhất. Anh biết rằng rất có thể mình sẽ trúng đạn, nhưng anh vẫn bắt buộc phải tiến về phía trước - điều đó thật khủng khiếp! Rất khó để ngóc đầu dậy, có cảm giác gần như chắc chắn rằng anh sẽ không thể quay trở về, điều này cũng thật khó khăn. Đạn cối bắn dữ dội và súng máy quét cật lực. Quá đủ cho mọi thứ. Đường đạn bắn, bắt đầu nã xuống từ phía trên, trong khi anh chỉ trông thấy cái luồng sáng hạ xuống thấp dần, thấp dần, từ từ quét về phía anh, rồi nó sắp sửa tới gần và cắt anh ra làm đôi. Vâng, tóm lại, chiến tranh là chiến tranh, có gì để nói nữa đâu.

Thế rồi ông có mặt trong một đơn vị súng cối Cận vệ?

Không, không phải ngay sau đấy đâu. Tôi được chuyển từ đại đội trừng giới tới một đơn vị bộ binh, từ đơn vị bộ binh tôi chuyển qua Trung đoàn Dự bị số 2, đóng tại thành phố Azov, từ đấy tôi rời khỏi chiến trường. Tại đó người ta đưa tôi qua một nhóm dự bị đi học trường sĩ quan, chỗ đó sẽ dạy tôi trở thành một xa trưởng thiết giáp. Nhưng tôi đã quá rõ làm một xa trưởng là thế nào rồi nên tôi bỏ trốn khỏi đó. Chỉ đơn giản là tôi chuồn đi chỗ khác.

Làm một xa trưởng thì phải như thế nào?

Thật đáng sợ. Cũng cực nhọc tương tự lính thường, nhưng trên tất cả anh lại phải chịu trách nhiệm đối với mọi người. Tôi không ham làm sĩ quan một chút nào hết. Đó là lý do tại sao khi người ta tới tuyển người vào đơn vị pháo binh, tôi đã mau chóng cùng đi với họ. Lập tức quẳng balô lên xe tải và bỏ đi. Thời đó tôi rất có thể sẽ bị ra tòa án binh vì làm như thế, nhưng mọi chuyện đã diễn ra suôn sẻ. Và tôi vẫn được ở lại với trung đoàn pháo. Thế rồi khi tới được mặt trận, hóa ra đó lại là một trung đoàn Katiusha. Thật là may mắn! Ở đó người ta cho chúng tôi ăn uống đầy đủ, quân phục thật tuyệt vời, thương vong xảy ra không đáng kể. Tôi vô cùng hạnh phúc vì đã được làm thành viên của một đơn vị tuyệt vời như vậy.

Phỏng vấn: Artem Drabkin
Dịch từ Nga sang Anh: Oleg Sheremet
Dịch từ Anh sang Việt: Lý Thế Dân
 
Rất cám ơn bác TuDinHuong.

Cố lên bác Nina.

Các bác cố gắng đóng góp nhé.

Xin những bác còn lại góp chân góip tay cho vui!
 
Obrynb’a Nhikolai Ippolitovich

Trích từ hồi ức “Hoạ sĩ và thời gian”

Phần 1.

Tiến độ xây dựng khu trại du kích của chúng tôi ngày càng nhanh chóng và ổn định. Công việc xây dựng được tiến hành nhộn nhịp đến nỗi từ cuối thu-đầu đông chúng tôi đã ra một quyết định táo bạo là cướp lấy một động cơ hơi nước từ doanh trại của bọn Đức về làm máy phát điện trong trại. Họ chuyên chở động cơ về vào ban đêm trên cái xe do một đôi bò thiến kéo. Tuyết đã rơi. Người ta dựng nên một nhà kho lớn, đặt các ống sắt và trại đóng quân của chúng tôi vang lên tiếng động cơ. Hơi nước làm quay bánh đà, bánh đà – làm quay động cơ và đèn sáng lên trong các căn hầm. Điện đã xuất hiện như vậy đó ở chỗ chúng tôi. Ngọn đèn đầu tiên Dubrovxki và Lobanok chia đến chỗ chúng tôi, để tôi có thể làm việc ban đêm và in ảnh, vì nó rất cần để làm giấy tờ cho cánh trinh sát. Bolodia Lobanok nghĩ đến việc tổ chức một xưởng in trong trại vì truyền đơn viết tay và các bản tin đánh máy không đủ cho văn phòng thông tin Xôviết. Mọi người mang phần còn lại của một bộ chữ in chì từ Usachei đến và soạn lại. Trong đội có Klim Pasheiko trước là biên tập báo địa phương và ông được giao nhiệm vụ thành lập xưởng in. Mọi người dọn dẹp, chừa ra một khu vực, các trinh sát thuyết phục và đưa về hai người tạp vụ, và chúng tôi bắt đầu làm báo vùng và báo đội, còn bản tin thì được in hàng ngày. Nhikolai Guchievu được giao việc in truyền đơn và biểu ngữ. Nhikolai cắt miếng vải sàn ra, sau đó in chữ lên – trông cũng y như thật. Sau đó, chúng tôi còn vẽ rất nhiều truyền đơn bằng giấy than, rồi trang trí bằng màu nước, các dòng chữ thì viết tay hoặc in trong xưởng in.

Thành phần chính của đội chúng tôi đóng trong toà nhà của ngôi trường ở Antunovo. Trong phạm vi 5 cây số quanh trại, ngoài du kích, người ngoài không được vào. Ở đây, phiá bên ngoài là vũ khí của chúng tôi, còn các chiến sỹ pháo binh thì ở ngay trong toà nhà để có thể xuất quân thuận tiện hơn. Ngoài ra, trong trường còn có xưởng bánh để bảo đảm có bánh cho các doanh trại xa, còn trong rừng có xưởng bánh riêng để cho những người sống trong trại và những nhóm bí mật đi làm nhiệm vụ.

Nông trại viên chở thực phẩm đến Antunovo, rồi còn từ Antunovo du kích tự chuyên chở vào trại, rồi trong trại mới chia vào các hầm chứa. Ở trong rừng chúng tôi xông (khói) thịt, giò (kolbaxa); nướng bánh mì – cũng những cái bánh mì hình viên gạch, như trước chiến tranh. Tôi rất ngạc nhiên: giữa một đầm lầy, trên một rẻo cát nào đó mà đặt được lò, làm các khuôn sắt và làm ra những cái bánh mì còn ngon hơn là các lò bánh thực sự.

Chủ nhật hàng tuần, những người muốn gia nhập du kích đến Antunovo gặp Ủy ban, và người ta cũng đến đây để giải quyết mọi việc. Đây chính là trung tâm của chính quyền Xôviết trong vùng du kích. Gần đến mùa xuân 1943 ở đây có tổ chức một sân khấu và quy tụ được du kích, thanh niên từ các làng quê lân cận; có nhiều người đến nhảy rồi ở lại làm du kích luôn. Biểu diễn trên các sân khấu này là các nghệ sĩ du kích, họ ca những bài hát, những bài dân ca về những đề tài thời sự, diễn những vở kịch nhỏ, đọc thơ. Trong trường Antunovo luôn treo chân dung Stalin, rồi biểu ngữ, báo tường, bản tin, vào những ngày lễ thì chăng các dây hoa kết từ lá linh sam (cây họ thông) và các khẩu hiệu trên giấy đỏ.

Ở Antunovo có hàng loạt các loại xưởng. Trong xưởng may người ta may áo khoác ngụy trang và trang phục cho du kích. Và khi máy bay (tiếp tế) đến chỗ chúng tôi, thả các bao đạn dược, thuốc men xuống, thì những cái vỏ bao lại được dùng để may áo va-rơi và quần dài. Những cái dù cũng được việc: may đồ lót cho du kích. Lông cừu thì được ép thành ủng. Người ta làm cả giày cao su từ các lốp (vỏ) xe hơi. Thu xếp được cả xưởng thuộc da và rồi may áo da ngắn, mũ và mũ lông cao.

Cần phải trang bị ủng cho du kích chuẩn bị vào mùa lầy lội. Mọi người học được cách làm ủng, để làm việc này đã có da ngựa, bò, hươu nai. Nhưng để làm ủng thì da ngựa là tốt nhất. Người ta mang đến Antunovo ngựa chết, và giết bớt đi những chú ngựa già yếu. Trại trú quân đóng trong khu bảo tồn ở Berezinxki, nên cả du kích lẫn nông dân không được phép giết thú hoang, và mọi người nghiêm túc tuân theo. Nhưng thỉnh thoảng, những khi mà thức ăn thiếu thốn quá thì nguời ta bắn 2- 3 con hươu theo lệnh của Dubrovxki, và da thì chuyển sang xưởng thuộc. Thu xếp được một ngành thuộc da là cả một công trình. Bởi vì cần phải có các chất thuộc da, phải tìm đuợc thợ thuộc da thạo công việc này. Trước chiến tranh các sản phẩm da làm thủ công bị cấm, nên khó tìm được thợ thông thạo hết toàn bộ công nghệ. Nhưng vào tháng 2 -3 tôi đã vẽ những người du kích (Gorgishel, Danhich) được trang bị hoàn toàn nhờ nền sản xuất của mình – từ mũ lông cao và áo khoác da ngắn đến giầy, ủng, bao tay. Họ còn tổ chức lấy được một máy tiện từ Lepel và mang về trại. Lắp đặt xong, những người thợ vũ khí đã tiện ngay được những chi tiết cần cho việc sửa chữa. Búa thợ rèn đồng lòng nện, và họ sửa chữa vũ khí, chế tạo, cải tạo – và đấy nhìn xem: vũ khí trên các bánh xe và các bệ kiểu mới. Từ những súng trường đã bị cháy xém người ta làm ra những cái mới. Những khẩu súng cối tự chế tạo mới tuyệt làm sao! Và cả súng máy nữa, cải tạo từ khẩu súng trường SVT. Những người thợ rèn bất đắc dĩ trở thành những thợ kim hoàn, làm nên những điều kỳ diệu, họ chẳng những chế tạo được vũ khí và mọi thứ cần thiết cho sản xuất từ kim loại, mà còn làm được công cụ để chế tạo các phụ tùng.

Trong các lò rèn đặc biệt, họ nấu chảy đạn đại bác, lấy thuốc nổ làm mìn để đánh phá đường sắt. Công việc thật vô cùng nguy hiểm và liều lĩnh này được các thợ rèn của nông trại học làm thành thạo. Phần lớn số súng máy là tước được của lính Đức và tháo từ máy bay (bị bắn rơi - LTD) của ta, nhưng không dùng bằng tay được, bởi tốc độ bắn của nó rất cao. Thợ rèn Perednhia từ Putilkovich’ sáng chế ra một bệ xoay, như cái giá đỡ, và súng có thể tha hồ xoay xung quanh, đủ một vòng. Sau chiến tranh bản thiết kế phần bệ này đã được áp dụng làm bệ cho súng máy của quân đội, bởi cơ chế quay này giúp cho súng máy của ta trở nên tiện lợi hơn những cây súng trên giá đỡ 3 chân tiếng tăm của Anh. Cấu trúc của Perednhia thông minh hơn và súng máy nhẹ hơn. Cũng chính Perednhia sáng chế ra súng cối từ các đoạn ống nước, để bắn các quả thủ pháo, dù không xa nhưng rất mạnh, - các qủa đạn này rít lên ghê rợn, nổ chói tai và gây ấn tượng kinh hãi cho kẻ thù, chúng tạo thành một cột nấm sát thương khổng lồ bằng các mảnh sắt nhỏ.

Điều làm tôi ngạc nhiên là sự sáng tạo tài tình của nhân dân khi họ chủ động đấu tranh và nhìn thấy thành tựu của cuộc chiến đấu này. Đó là nguyên nhân tại sao có thể đặt được đến 300 km dây liên lạc và hình thành trạm điện thoại cực mạnh, liên kết được tất cả các doanh trại du kích. Nhưng còn cần phải gỡ được 300km đường dây của Đức. Và nếu nói thêm nữa rằng hơn nghìn cây súng được làm lại từ những cây súng cháy; hàng chục nghìn viên đạn được lấy lên từ lòng sông Dvin hoặc được thu về từ vùng phòng tuyến cũ, rồi được các phụ nữ của chúng tôi chùi bằng bột gạch thì sẽ thấy rõ về công việc sản xuất khổng lồ mà đội chúng tôi tiến hành. Giai đoạn chuyển tiếp này của đội du kích từ các đơn vị chỉ chiến đấu trở thành một thể thống nhất như là một thời đại phát triển của xã hội đã sinh ra ý thức rằng tất cả, tất cả đều có thể thực hiện được! Chỉ cần cho những người thợ cả này tự do và họ, như Levsa, sẽ làm được những điều không tưởng tượng nổi. Và khi tôi nhìn thấy, cảm nhận thấy điều này, trước mắt tôi hiện lên tầm vóc tài năng của nhân dân ta, tài năng và trí tuệ bẩm sinh cho thấy, rõ ràng, điều này và chỉ có điều này có thể chặn được quân thù, những kẻ được trang bị kỹ thuật hiện đại và kỹ năng chuyên nghiệp dày dặn. Và cũng rõ ràng rằng: chiến đấu không chỉ có quân đội, mà toàn thể nhân dân chiến đấu! Tất cả mọi người đều bước vào cuộc chiến để quật ngã quân thù, không có ai từ chối rằng không thể làm được điều gì đó vì thiếu phụ tùng hay nguyên liệu. Cần phải chiến đấu và chúng tôi đã tạo ra mọi thứ để có thể chiến thắng quân thù.

Dịch từ Nga sang Việt: TuDinhHuong
 
Phần 2: Chúng tôi nghỉ ngơi rồi đến gần sáng thì đi ra đường sắt. Iarmosh, đại uý pháo binh quân đội, bố trí vũ khí hỏa lực trong rừng thông cạnh đường rày; chúng tôi nằm trên một triền dốc. Một đoàn tàu dài xuất hiện, phía trước đầu tàu là hai đường kè tàu. Iarmosh nâng ống phóng lên và bắn trực diện vào đoàn tàu. Đầu tàu phun trắng hơi nước, đạn trúng ngay vào nồi hơi, đoàn tàu dừng lại, khực… và một tíc tắc sau - bùng! – đó là các đội viên đánh mìn thực hiện, họ cho nổ phía đuôi đoàn tàu. Súng máy của ta vãi từng lọat đạn ngắn, rồi dài lần lượt, rải khắp đoàn tàu. Năm phút sau, pháo hiệu bay lên, tất cả tập hợp lại và chạy tới đoàn tàu. Không có người trong các toa tàu nhưng thay vào đó trong các toa đổ vỡ toàn là ngũ cốc. Tôi ở phía đầu đoàn tàu khi súng máy bắn vào bên hông. Lại có pháo hiệu, nhưng pháo hiệu trắng – tín hiệu rút lui. Vanhia Kitisha chuyển cho tôi cái đèn đỏ lấy từ đầu tàu, và chúng tôi lúp xúp chạy ngược vào rừng, bởi vì bọn Đức bắn ngày càng dữ dọc theo đường rày, cố gắng tách du kích ra khỏi đoàn tàu. Ai nấy đều rất hài lòng, về đến làng, mỗi người kể cảm giác và hành động của mình, và tôi tự hào với cái đèn của mình: tuyệt, quá hợp để làm ảnh. Về đến căn hộ. Chủ nhà đã không còn lạ chúng tôi nữa, mà làm bánh đón chúng tôi. Ông chủ nhà hoá ra là trưởng thôn, vợ ông là người Ba Lan, rất vui tính, xinh xắn và khéo léo, tên là Iadia, Iadviga. Sự lạ lẫm biến mất, và bao nhiêu là chuyện đùa, là tiếng cười trong căn nhà của người phụ nữ vui tính này, bà đúng là người giữ bếp lửa, nhìn đâu cũng thấy rõ Iadia chăm sóc chồng mình như thế nào. Mitia Frolov và chồng bà, ông trưởng thôn có một thoả thuận là: ngay khi chúng tôi ra khỏi thôn thì ông phải chạy vào trung tâm và báo cảnh binh; nhưng đến được trung tâm thì mất 15 cây số, cho nên chúng tôi tính là, trong khi ông đến báo được cảnh binh thì chúng tôi đã xa rồi, mà ông lại không bị trách vì đã không trình báo.
Một thời gian sau khi chúng quay lại vùng biên một lần nữa và dừng lại tại nhà trưởng thôn thì tôi đã được Iadia tin tưởng. Bà biết tôi là họa sĩ, và đề nghị tôi vẽ chân dung cho bà. Tôi để bà ngồi cạnh cửa sổ và bắt đầu vẽ. Lúc đó có một du kích bước vào, đội mũ calô có gắn ngôi sao, Iadia với lấy cái mũ, khéo léo đội lên đầu mình, chỉ ngón tay vào ngôi sao, bà bảo:
- Phải làm cho nó lấp lánh đấy nhé!
Khi bị hỏi để làm gì thì bà trả lời:
- Để mai mốt tôi sẽ bảo tôi cũng đã từng là nữ du kích. Chẳng lẽ tôi không phải là du kích sao? – bà ấy đã bắt đầu tự hào vì tham gia vào công việc của du kích. Mà sự thực là như thế - người phụ nữ Ba Lan này và chồng bà đã là những chiến sĩ du kích. Và tôi vẽ Iadia như một chiến sĩ: đội mũ calô gắn ngôi sao. Bức chân dung hoàn thành. Ba tuần qua đi, trong 3 tuần đó có ba lần đánh phá tuyến đường sắt bên cạnh làng của Iadia, và lần nào ông trưởng thôn cũng cần mẫn thông báo cho cảnh binh. Nhưng khi chúng tôi quay lại Ugla lần nữa thì ông đã không còn. Bọn Đức đã bắn ông sau khi lục soát, bởi vì chúng tìm thấy bức chân dung của Iadia. Chúng cũng bắn cả bà như bắn một nữ du kích.
Cái chết của Iadia để lại cho tôi chấn động vô cùng, và đến tận bây giờ vẫn có một chút gì như ân hận, cùng với cảm giác đó là suy nghĩ chiến tranh đã huy động hết mọi bất ngờ, mọi điều không thể lường được.
Sau chiến tranh mẹ tôi đã kể chuyện một tên khách trọ Đức giết người hàng xóm như thế nào. Người hàng xóm này ở chơi nhà người quen muộn quá giờ giới nghiêm nên ngủ lại đó. Sáng sớm, khi quay về nhà, vợ ông ta đùa “Ôi, chàng du kích của tôi!”. Tên Đức rút súng lục bắn ông ta chết ngay lập tức, mặc dù hắn đang ngồi trong bàn ăn, ăn món ăn sáng mà chính bà chủ nhà dọn cho. Trong chiến tranh không được đùa với bất cứ chuyện gì, cuộc sống được dệt từ những sợi chỉ đen và trắng. Nhưng kết cục này ở Ugla đến tận tháng Hai tôi mới biết, còn bây giờ thì chúng tôi ngày ngày chuẩn bị cho những cuộc tấn công mới đánh phá đường sắt.
Tối đến Dubrovxki gọi tôi tới giao nhiệm vụ:
- Cậu đi cùng với Bulba theo nhóm 1, cần phải cho nổ cái máy xúc cạnh ngã rẽ.
Bulba là biệt danh của Xtepan Nhikolaievich Shenka, làm trong đường sắt Đức. Shenka vạm vỡ, không cao, tóc vàng, mắt xanh lá cây và nói giọng miền Tây Belorus. Cứ cách hai ngày, sang ngày thứ ba là ca trực của Shenka nên anh có đủ thời gian vào đội thông báo mọi thông tin cần thiết rồi quay về.
Tôi và Bulba ngồi trên xe trượt tuyết của nhóm trưởng vòng vèo một lúc lâu trong rừng, Xtepan Nhikolaievich giải thích từng mỏm đất: chỗ nào nên nằm canh, chỗ nào để ẩn tránh nếu quân Đức tấn công từ ga ra. Chúng tôi đi xuyên qua khu rừng nhỏ thì bắt đầu bão tuyết, đêm tối đen và lạnh lẽo. Cuối cùng thì chúng tôi cũng về đến trạm, hay đúng hơn là nơi tập kết vào trận của nhóm, và nằm nối đuôi nhau bên ven rừng. Nhóm đánh mìn biến vào bóng tối trước, để đặt thuốc nổ phá cái máy xúc trên công trường xây dựng nền đường ray. Những giây phút mỏi mệt…
Bỗng nhóm đánh mìn quay lại, hoá ra là không đủ thuốc nổ, cần phải lấy thêm và đi đặt lại. Nằm cạnh tôi là một chú du kích bé con, chú thì thầm hỏi:
- Chú ơi, thế mình nhắm vào đâu?
Tôi giải thích rằng khi nghe tiếng nổ, nếu quân Đức tấn công thì chúng ta cứ nhè chúng mà “nhắm”. Thời gian vẫn trôi…. Thật lạ là tôi cứ luôn có duyên đụng với mấy chú bé con, vào trận hay ở trại, lúc nào quanh tôi cũng có mấy chú du kích 13 – 14 này.
Đột nhiên có tín hiệu báo động ở ga, quân Đức đổ xuống, rất đông, lại có ngay một đoàn tàu đứng ở ga và chúng bắt đầu bắn về phía bìa rừng, nơi chúng tôi đang nằm. Chắc là chúng phát hiện ra nhóm đặt mìn. Vài phút nữa trôi qua, đạn tiếp tục bắn mà vẫn chưa có tiếng nổ. Nghĩa là phải bò lại đó và đặt lại mìn. Nhóm đặt mìn vừa nhích về phía nền đường thì xung quanh bỗng sáng loà và mặt đất rung chuyển – mìn nổ! Nghe tiếng kêu la của quân Đức, súng máy bắn liên hồi. Chúng tôi bắn trả lại. Anh chàng du kích của tôi dán sát vào người tôi nhưng cũng đáp trả đâu ra đó. Và xảy ra một chuyện không thể tưởng tượng nổi: cái quy – lát súng của tôi lỏng ra và rơi xuống tuyết mất. Hiểu là không được tỏ ra lo lắng, tôi cố mò mẫm tìm nó lắp lại. Cuối cùng cũng lắp lại được nhưng mải mê với việc này tôi không nhận thấy là mọi người đã rút lui, chỉ còn lại mỗi hai chúng tôi với nhau. Chúng tôi nép vào những bụi cây, xung quanh đạn nổ tán loạn, như là chúng bắn từ khắp nơi vậy. Cuối cùng thì chúng tôi cũng thoát được và tìm thấy quân mình. Quân ta buộc phải rút vào rừng.
Nhóm hành động quay về làng, trận đánh đã thành công, quân Đức chết rất nhiều, còn quân ta không mất ai. Ba giờ khuya, chúng tôi về đến nhà, ở Ugla, và bàn tán cảm tưởng với các chiến sĩ nhóm 3.
Ban ngày ở trong thôn, đêm đến lại ra “đường rày”, tôi đã thuộc nhóm của Mitia Korolenko. Bulba dẫn đến nền đường sắt cạnh cầu và chỉ cho biết, bao nhiêu lính canh và ở chỗ nào cùng giờ tàu chạy: vào lúc 1 giờ đêm một đoàn tàu từ Đức sang, mười phút sau khi con tàu phía tây sẽ có con tàu phía đông đi qua cầu. Một giờ thiếu 10 phút, lính canh đổi gác, quân ta đặt mìn vào phần trên thân cầu và đầu cầu, kéo dây về. Định là sẽ cho nổ ngay khi đoàn tàu lên cầu. Không phải đợi lâu. Một tiếng nổ long trời với các cột khói đen, lửa và các mảnh sắt bay làm đinh tai chúng tôi – cây cầu nổ tung, và như dự đoán, đầu tàu không thể dừng lại được, lao vào chỗ gãy và đổ nát. Súng máy của chúng tôi bắt đầu lên tiếng, nã vào các ô cửa sổ đoàn tàu, vũ khí của địch bị chìm trong hàng loạt đạn súng máy dài. Từ phía nhà ga súng máy hạng nặng bắt đầu bắn, chúng tôi buộc phải di chuyển. Nhưng rồi tiếng “Ura-a!” vang lên – và tất cả lao vào tấn công lên đoàn tàu. Quân Đức đã trấn tĩnh lại và bắt đầu bắn trả, nhưng lựu đạn và khói mạnh đến nỗi chúng đành phải rút lui. Và đoàn tàu từ phía đông tới gần. Đầu tàu ngừng lại cách đoạn bị phá đứt khoảng vài mét. Chúng tôi bắn súng máy vào nhưng nó hoàn toàn yên lặng – không một phát súng trả lời. Korolenko cử nhóm phá nổ đi đánh nổ đoàn tàu. Tiếp theo lại cử Pashieia Petra mang theo bom loại 50kg.
Đạp lên lớp tuyết lầy lội, tay ôm quả bom to đùng, Petro chạy đến nền đường ray, và gặp ngay các chiến sĩ đặt mìn đang từ đầu tàu chạy ra; Trong bóng tối Petro nhận ra lính Đức đang bám đuôi nhau đi tới, và tên chỉ huy khẽ ra lệnh: “Suỵt, Suỵt, du kích..”. Petro ném qủa bom xuống và nhảy vào bụi cây chắn bảo vệ nền đường ray. Anh ta vốn cao lớn, nên khi lao vào bụi cây thì cây súng đeo ngang phía sau bị vướng vào những cành thông và hất ngược anh ta trở lại, về phía quân Đức. Chúng túm lấy anh. Nhưng anh vùng được ra và bò luồn dưới gốc những cây thông. Lính Đức không kịp túm lại, mà bắn thì không được vì sợ để lộ tung tích.
Korolenko bực mình không chịu nổi – đoàn tàu không đánh nổ được, mà thuốc nổ lại bị mất. Đứng trước mắt anh ta là hai chàng trai, anh ta thì thầm:
- Thuốc nổ phải nổ hoặc là phải được mang về đây. Chẳng nhẽ để lại cho bọn Đức à? Tôi không thấy các cậu. Mang chất nổ về đây, rồi báo cáo!
Hai người lính đánh mìn quay lại. Chỉ có sự tháo vát mới giúp được họ hoàn thành nhiệm vụ. Lính Đức im lặng rải dọc theo thân tàu và tấn công, lính đánh mìn luồn qua hàng rào lính Đức, đến đuôi đoàn tàu rồi bò dọc dưới gầm con tàu đến đầu tàu, và gỡ lại qủa mìn ngay trước mũi lính Đức, rồi quay ra cũng bằng cách luồn dưới gầm toa tàu.

Trong các toa tàu binh lính bị thương rên rỉ, nhân viên y tế chạy tới chạy lui nhưng quân Đức thì không thấy đâu sau lọat bắn nhau đó. Lính đánh mìn mang mìn về cho Dmitri Timofeevich, nhưng một người trong số họ bạc trắng cả đầu (vì căng thẳng và sợ - LTD) Mệnh lệnh thật khắc nghiệt, nhưng những người lính hiểu là không thể khác được, không thể không có kỷ luật, mà nhóm 3 của Dmitri Timofeevich Korolenko là nhóm đáng tin cậy nhất, kỷ luật cao nhất trong đội.

Quân Đức nhảy ra khỏi toa và đi theo hàng dọc theo toa tàu. Korolenko ra lệnh rút, và chúng tôi rút vào rừng. Nhiệm vụ chỉ hoàn thành được nửa chừng, vì không giật nổ được đoàn tàu thứ hai, đoàn tàu này hoá ra tàu chở quân, điều này chúng tôi không ngờ và phải rút lui để tránh nguy cơ bị bao vây. Nhưng ba ngày sau chúng tôi được biết rằng trong trận đó, lính trên đoàn tàu bị thương và chết rất nhiều, khỏang vài trăm tên phát-xít.

Đó là cuộc tập kích lớn đầu tiên vào tuyến đường sắt. Nhưng thực tế cho thấy rằng cần phải tìm những cách giải quyết mới. Phá nổ đầu tàu hay đoàn tàu không cho hiệu qủa cao, không đủ mìn để hất đoàn tàu ra khỏi đường ray; cần một chiến thuật đặc biệt – xử lý tất cả các toa, tiêu diệt mọi giá trị vật chất và lực lượng chiến đấu trên tàu. Một thủ thuật mới được nghĩ ra. Bức tranh “Đoàn tàu cháy” là để tặng nó.
Gần sáng cả đội lui về trại. Tôi và Nhikolai Gutievui đi bên tuyến hông. Phía trước hàng quân bao giờ cũng là trinh sát đầu não và hai bên cách khoảng 100 –150 mét là tuyến hông, chúng tôi cần điều tra tất cả mọi chỗ xung quanh để đề phòng phục kích hay bị đánh úp bất ngờ. Tôi và Nhikolai Gutinevui song song với cả đội, lúc lên gò, lúc xuống lũng.
Hai cuộc hành quân, hai ngày – và chúng tôi đến nhà. Kolia và TASS, chú chó của tôi mừng chúng tôi trở về. Dựng nên một nơi tắm mới, ngâm suốt trong đó, chốc chốc lại mấy chàng trần như nhộng nhảy ra lấy vội thêm nước, rồi chạy ngược vào nhà tắm, những người khác lại nhảy ra lăn trên tuyết rồi lại chạy ngược vào. Thật là sung sướng vô cùng khi được tắm táp sau trận đánh, được mặc quần áo sạch và quay lại căn hầm, nơi công việc và bạn bè đang chờ.
Tôi xếp những tấm tranh vẽ trong cuộc hành quân ra, Nhikolai thích những tấm tranh này, bạn bè đưa ra nhận xét. Kolia cũng cho xem những gì anh ta làm ở trại – phác thảo chân dung, truyền đơn, ấn phẩm cho đội.
Buổi chiều Korolenko, Dubrovxki và Lobanov – chính trị viên của đội lại đến hầm, hôm nay tất cả được nghỉ ngơi. Chuyện trò về chiến dịch, Lobanov trêu chọc tôi về việc tôi biết “tháo” quy – lát. Mọi người quay ra xem xét khẩu súng của tôi và cái quy – lát lại rơi ra tay. Súng của tôi có cái báng mới, đã từng bị cháy, nghĩa là lại phải đưa sang xưởng vũ khí lần nữa.
Hai ngày sau mấy cảnh binh đến xin nhập du kích, và một trong số họ kể rằng:
- Khi các anh đang ở Ugla, đánh phá tàu và quay về, thì chúng tôi phục kích trên đường đi của các anh. Chúng tôi nguỵ trang trong tuyết, dưới các gốc thông. Và rồi, có hai người các anh tới, ngồi xuống, ngay trước mặt chúng tôi, giải quyết nỗi buồn và đi tiếp. Chúng tôi muốn bắn họ nhưng không được phép. Chúng tôi tưởng là một nhóm nhỏ tới, và sẽ bắn, thế mà nguyên một đoàn…
Quả thực, khi đi cùng với Nhikolai trong tuyến hông, chúng tôi thấy có nhu cầu, nhưng lại không được để mất dấu cả đoàn, nên đành phải ngồi ngay trên gò cạnh một cây thông phủ đầy tuyết, rồi lại đi tiếp.
Trong trận phục kích đó có 30 cảnh binh, và hầu như một phần ba số đó – 8 người, ra với ta, gia nhập du kích. Như người cảnh binh nọ nói thì “cuộc phá hoại” của chúng tôi gây một ấn tượng mạnh đến nỗi họ hoàn toàn ý thức được sự thất bại của mình. Nhưng tôi với Nhikolai thì may, không nhận ra quân phục kích nguỵ trang thành cây thông trong tuyết. Bạn không bao giờ đoán trước được, không bao giờ nghĩ ra, bạn đi bên cạnh cái chết của mình khi nào và như thế nào, cũng như điều gì cứu bạn thoát khỏi nó.
 
Chao cac ban !
Minh la thanh vien moi ,chua cobai viet nao de cac ba nho ten ca.
Minh khong muon rang minh yeu nuoc Nga, nhu the nghe co ve sao rong ,cac ban chua thay minh lam gi dung khong ?
minh se lam gi do ,cu the nhat ,trong mua he nay de the hien tinh yeu do .Minh se noi ro hon du dinh cua minh neu co ban nao thuc su quan tam .
Chuc cac ban mot mua thi thanh cong va mua he y nghia nhat !
Tinh nguyen vien mua he xanh .
 
Có đây có đây! Nhưng phải từ từ cái nào!
Mấy "đại gia" tiếng Nga như các bác Nina, TuDinhHuong chắc đều lên kế hoạch dịch giúp Danngoc cả rồi, nhưng chắc không xuể được vì còn nhiều việc khác nữa.
Đề nghị huy động thêm lực lượng mấy em SV nữa đi. Các em này có nhiều thời gian, trẻ khỏe, giỏi giang lại cực kỳ nhiệt tình.
Nhưng mà ko thấy Danngoc nói gì đến mấy khoản hậu tạ cả?!? Mà các em SV là khoái món này lắm đấy!
Mà kể cũng lạ, anh Danngoc đẹp trai thế, lại chưa vợ nữa, thế mà ko em SV nào lao vào giúp ảnh à? Đảm bảo món hời đây!
Xung phong đê! Xung phong! :laser_shot_jump:
 
1 vợ 1 con rùi à? Thế thì càng khoái chứ seo!
Chỉ dịch hộ và xin hậu tạ thôi mừ, đã ai đe dọa đến tính mạng bác đâu, làm gì mà "phòng ngự" sớm thế? :biglaught: :biglaught: :biglaught:
 
Có vẻ như bác danngoc chưa lên ké hoạch kỹ càng cho chuyên mục dịch tiếng Nga này. Bất cứ dân tiếng Nga nào cũng muốn dịch tiếng nga, đó là điều chắc chắn, phải ko bà con?! Nhưng bác cần nêu thể lệ nhất định. Có 1 điều bác cần nhớ lại về thời sinh viên: nhiệt tình ko ai bằng SV, thời gian ko ai bằng SV, và đói ăn càng ko ai bằng SV!
Bà con ơi, có nên tổ chức thi dịch ko nhỉ? Tất nhiên là phải có thể lệ, có BGK, có giải thưởng và lễ trao giải v.v... Trong thể lệ nên hạn chế độ tuổi, chứ non nớt như chúng em mà phải đọ kiếm cùng các bác như tudinhuong... thi teo luôn.
Còn về giải thưởng: khó gì, chúng ta đi kiếm tài trợ chứ, thiếu gì các đại gia săn lòng giúp đỡ đàn em! (Ia cũng chỉ là cỡ đàn em, nhưng sẵn lòng tài trợ 1 đĩa salat Nga 4 người ăn nhòe!)
Bà con thấy sao?
 
Nina thấy không nên tổ chức thi dịch, lãng phí quá vì nhiều người dịch cùng một bài. Chỉ nên treo giải - người có bản dịch hay nhất hay gì đó tương tự thôi

Trong thể lệ nên hạn chế độ tuổi, chứ non nớt như chúng em mà phải đọ kiếm cùng các bác như tudinhuong... thi teo luôn.

Thì cho bác TuDinhHuong tham dự e-e, ngoài cuộc thi (вне конкурса) ấy, tức là chỉ được biểu diễn thôi :))

Thể lệ gì đâu nữa, chỉ cần có ai đó muốn và đồng ý dịch là bác danngoc sướng rồi :), ai ở TP HCM đồng ý nữa thì Nina xin tài trợ thêm 1 ly сметана nữa :)
 
Thật lòng nhờ các bạn giúp đỡ. Cũng là luyện thêm tiếng Việt nữa mà. Và cũng không yêu cầu chuyên nghiệp như bác TuDinhHuong đâu các bạn à. Tôi nhớ khi dịch hồi ức đầu tiên của Ivan Shelepov (có đăng ở trang chủ), tôi đã phải dịch đi dịch lại tới 4-5 lần mới thấy tạm vừa ý.

Bạn nào có điều kiện xin hãy email tới tôi

thedan@hcm.fpt.vn

Tôi sẽ reply hồi ức bản tiếng Anh hoặc tiếng Nga tùy điều kiện của bạn.

Cám ơn các bạn!
 
Phần 3

Chú ngựa xám mình phủ đầy sương muối đang nhảy nhót vui vẻ, nhưng tôi thấy lòng nặng nề vô cùng. Thứ nhất là vì việc tôi sắp phải làm: vào ngôi làng gần Atunovo và xử bắn một phụ nữ mà theo như báo cáo của dân làng là đã đến với cảnh binh ở Lepel’. Người phụ nữ này không phải dân địa phương, mà là người tản cư. Tôi không thích nhiệm vụ này, mà làm sao có thể thích được việc đi bắn phụ nữ kia chứ. Nhưng mệnh lệnh là mệnh lệnh, và nỗi sợ hãi của những người sống xung quanh cô ta là một nguyên nhân rất quan trọng, rất nặng ký, vì hành động đi đi lại lại Lepel’ với người yêu cảnh binh của người phụ nữ nọ làm tê liệt những người đang sống trong lo lắng, sợ rằng cảnh binh sẽ biết về các quan hệ của họ với du kích; do vậy thoạt nhìn thì thấy đây là một mệnh lệnh tàn nhẫn nhưng nó lại có cơ sở nhân bản – nó bảo vệ những người đang giúp đỡ cuộc đấu tranh với quân xâm lược. Tôi cũng hiểu thêm rằng mình đang bị thử thách, vì chính Markevich đã kể là ngay trong cuộc họp đội mọi người đã nói: Không biết Nhikolai có dám bắn, hay nói chung là giết chết ai không? Tôi tạo cho mọi người cảm giác (tôi) hơi yếu đuối, mà cuộc chiến đấu thì khốc liệt và đòi hỏi sự tự tin trong mỗi người lính.

Cuối tháng 11, trời rất lạnh, buốt giá vô cùng, đợt rét đến đột ngột, tuyết phủ kín những ổ gà, những vết xe trên đường, cuộn thành những ụ nhỏ; đường ngày càng dễ đi xe trượt tuyết hơn, nhưng trên những gò đụn thì bánh xe vẫn còn nghiến ken két trên mặt đường đóng băng cứng như đá.

Đường phía trước còn dài, ngồi trong cái xe trượt tuyết nhẹ hai chỗ, Pavel, cũng như mọi khi kể hết chuyện nọ đến chuyện kia…

Chúng tôi đến ngôi làng vào ban đêm. Không có căn nhà nào có ánh lửa, chỉ có bóng những căn lều, và phía sau là rừng âm u. Ngựa dừng cạnh căn lều cần đến:

-Đấy, đến rồi đấy. Tóm lại thì, Nhikolai, thực hiện nhiệm vụ đi! Giờ thì xem xem cái mụ cảnh binh này là thế nào?

Anh ấy như muốn làm tôi tức điên lên vì biết rằng tôi sẽ rất khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này. Tôi muốn có chỗ dựa nên rủ anh cùng vào. Mở cửa cho chúng tôi là một ông cụ, rồi ông quay vào, vặn đèn và treo lên tường. Ánh sáng leo lét nhưng từ ngoài tối vào nên thấy nó rất sáng, soi rõ một vách ngăn bằng ván có dán giấy tường màu hồng. Phía trong khung cửa không có cánh, tôi thấy một cụ bà, nằm trên những chiếc ghế kê vào nhau, quay phía lưng tựa ra ngoài, chỗ trống bên cạnh chắc là của cụ ông. Tôi hỏi ông cụ:

-Những ai đấy?



Mùa xuân năm 1943 ở khu du kích Lepel’. Chữ ghi ngoài bìa: “Tôi đi ngựa đến làng, thấy người phụ nữ này. Vũ khí cất giấu ở bìa rừng, đợi quân Đức tấn công đến, còn bà cụ trồng khoai tây quanh chỗ để vũ khí. Tôi cho phép mình dùng cuộn phim mà tôi quý như vàng và quyết định ghi lại cảnh này. Sau chiến tranh tôi quay lại Pushno, lòng muốn gặp người phụ nữ này để hỏi về số phận bà. Ngay tại sân nhà bà, người ta chỉ cho tôi một hố bom và kể rằng bà đã mất mùa xuân năm 1944, khi đang trồng khoai tây. Máy bay tới, ném bom – rơi ngay xuống đây.

Ông cụ trả lời rằng hai ông bà sơ tán từ Leningrad về đây năm 1941 và từ đó ở lại đây luôn. Ông cụ đứng giữa nhà, khoác cái áo len phụ nữ, quấn chiếc khăn nhàu nhĩ ở cổ và nhìn chúng tôi với vẻ bất lực.

-Thế còn một người nữa đâu?

Tôi nói to, cố gắng tỏ ra nghiêm khắc, cố gợi cho mình cảm giác thù ghét người phụ nữ đi lại với cảnh binh, nhưng điều này chỉ làm cho tôi càng thêm bực bội và cảm thấy thật vô lý khi gào lên với những cụ già bất hạnh này:

-Cô Nadedzda á? Cô ấy ở đây, - cụ già nói và chỉ vào phía trong khung cửa, đằng sau tấm rèm - Cô ấy cũng là dân sơ tán, từ Leningrad.

Tôi gạt cái rèm ra và thấy một phụ nữ trẻ nằm trên giường sắt với hai đứa nhỏ, một đứa trai một đứa gái, bé gái chắc khoảng 3 tuổi, còn bé trai trông có vẻ lớn hơn. Trong lòng bỗng lẫn lộn bao nhiêu cảm xúc! Tôi phải thi hành mệnh lệnh! Mà mệnh lệnh bây giờ thì càng trở nên nặng nề hơn, tôi phải bắt đầu chiến công của mình bằng việc bắn vào người phụ nữ ngu ngốc rước bất hạnh vào mình và con cái này.

Nadedzda im lặng ngồi dậy. Cô ấy mặc áo sơ mi nam, mặt nhợt nhạt, với vài chỗ sưng vù. Tôi bắt đầu nói rằng vì hành vi của cô ta, vì cô qua lại với cảnh binh nên cô ta phải nhận án:

-Người ta đón nhận cô về sơ tán! Thế mà cô trả ơn họ bằng cách làm bây giờ cả làng sợ cô, không dám giúp đỡ du kích vì lo bị cô bẩm báo! Cô khéo chọn được lúc để yêu đương với cảnh binh nhỉ?

Nadedzda đứng cúi mặt như hoá đá, hai tay buông thõng, còn tôi thì dùng đủ mọi lời lẽ chua cay để lên án cô ấy, nhưng trong đầu thì ong ong: Rồi, bây giờ dẫn cô ta ra sân, và bắn, sau đó quay lại phòng và phải làm gì đó với lũ trẻ, các cụ già không nuôi nổi chúng, bản thân họ còn lay lắt, mà sau những chuyện như thế này thì trong thôn chẳng ai muốn cưu mang chúng đâu. Đưa chúng đi đâu bây giờ? Chẳng lẽ lại cứ để mặc chúng lại đây, một mình trong căn lều lạnh lẽo này rồi lên xe đi? Tôi quay sang hỏi Khot’ko:

-Pavel, làm gì với loại cỏ rác này đây?

Pavel cũng không biết làm sao nên trả lời ngắn gọn:

-Cậu nhận lệnh rồi, cứ thế mà thực hiện.

Tôi nhận thấy là mọi lời nói của tôi với tội nhân chẳng tạo nên ấn tượng gì, cô ta hoá đá vì bị sốc như phần lớn những người sắp lãnh án. Tôi lại bắt đầu:

-Tại sao cô không biết nghĩ đến bọn trẻ con? Sao lại có thể đến với bọn giặc như thế?! Chính vì bọn phát xít mà cô phải chạy khỏi Leningrad, thế mà bây giờ lại sang Lepel’ – đến với bọn chúng!

Tôi hiểu rằng những lời nói của mình là vô ích. Tôi quyết định: phải lôi cô ta ra khỏi trạng thái gỗ đá này, bắt cô ta phải cảm thấy nỗi sợ cái chết và khi đó mới nói tiếp.
Tôi nghiến răng thì thầm để không làm trẻ con thức giấc:

-Nào, mặc quần áo vào, ra ngòai trời!

Cô ta ngồi xuống như cái máy, ngoan ngoãn cho chân vào đôi ủng lính to đùng còn buộc dây kỹ, thấy rõ là đã lâu không buộc, không tháo gì, khoác lên vai cái áo lót lông mới phủ dưới chân cô ta và đi theo tôi. Đến cửa tôi nói với lại:

-Cầm lấy cái xẻng, sẽ tự đào mồ cho mình, chứ còn bắt ai đào cho nữa.

Chúng tôi bước ra ngoài bóng tối. Ánh sáng chiếu qua khe cửa, gió cuộn tuyết trên mặt đất. Tôi lại bị nhói lên vì ý nghĩ: Tôi đưa bọn trẻ đi đâu bây giờ? Người phụ nữ bước ra và các cái xẻng đi theo gò đất, kéo lê đôi ủng to tướng.

-Nào, - Tôi giận dữ nói, - đào đây!

Cô ta bắt đầu thử thúc xẻng xuống đất đóng băng… và bỗng rùng mình và khóc rền rĩ. Bây giờ lại phải quay lại căn lều, lại nói chuyện lại, cố tìm lối thoát, làm rõ xem tại sao cô ta đến Lepel’, khi đó sẽ hiểu rõ là cần phải làm thế nào với cô ta.

Chúng tôi bước vào căn lều, ngọn đèn chiếu thứ ánh sáng rầu rĩ, Pavel ngồi cạnh bàn, các cụ già co ro trên những chiếc ghế của mình, trẻ con ngủ. Và lòng tôi lại rối lên:

-Nhikolai, quyết đi, - Khot’ko nói, - cậu lằng nhằng với nó lâu quá.

Bấy giờ chúng tôi ngồi vào bàn và tôi thấy cô ta khóc. Tôi hỏi:

-Kể xem, khi nào và để làm gì?

Cô ta nấc lên, lấy tay che mặt, vai rung lêm:

- Tôi ra chợ… váy dài… cho trẻ ăn. …màu xanh, tơ lụa Trung quốc…tôi muốn bán. Hắn tới gần và bảo: “Đi với tôi, tôi mua cái váy cho”. Tôi đi với hắn, hắn bảo: “Tôi sẽ cho em một xô lúa mạch, tôi thích em”… Vào đến nhà, thế là …hắn…đẩy…lên giường…Hắn cho lúa …và tôi …về, ở nhà mọi người đang đói…


Nhóm tập trung ở hầm tham mưu, vào những ngày đầu tháng 10 này, chỉ huy đội cử một toán lớn – 10 người - đi đánh đường sắt. Dẫn đầu toán này là chỉ huy trung đội trinh sát Nhikifor Dzurko và trinh sát viên Vaxilii Vitko. Thiết tha đòi theo nhóm đi thực hiện nhiệm vụ có Fedia Moshov, một du kích trẻ, vẫn còn là một chú bé, nhưng chú không được nhận, tôi thấy đôi môi chú run run vì giận dỗi, muốn chú khuây khoả nên tôi dẫn chú vào hầm chúng tôi và quyết định chụp cho chú một pô ảnh, tôi có một cái máy ảnh “Kontack” lấy được của quân Đức. Vaxia Vitko đuổi theo chúng tôi và khi biết về việc chụp ảnh đã bảo chụp như vậy phí đi. Rồi họ quay lại với đầy đủ quân phục, Vitko còn có một khẩu súng máy chiến lợi phẩm, và tôi chụp họ cùng với nhau, rồi chụp một mình Fedor, sau đó chúng tôi sang chụp cả đội đánh mìn chuẩn bị đi làm nhiệm vụ. Vitko bước xuống từ cái xe đạp, bên cạnh đó có một trái mìn có đề dòng chữ: ”Reichstag (Nghị Viện Đức). Adolf Hitler”.

(Đây là chuyện bình thường khi lính pháo binh, không quân hay du kích viết sơn lên những viên đạn pháo hoặc bom chuẩn bị đánh vào đầu kẻ thù. Trong một đọan phim tư liệu quay cảnh trận Công phá Berlin, tôi trông thấy hai lính pháo binh Xôviết ghi lên quả đạn pháo dòng chữ tiếng Nga “Na Reikhstagu”, “Za Rodinu”, “Na Gitler” v.v. Viết chữ lên đạn cũng được không quân Mỹ và du kích Việt Nam sử dụng trong Chiến tranh Việt Nam - LTD)

Trên ảnh Fedia trông khá oai, nhưng rõ ràng là khuôn mặt rất buồn, như vừa khóc. Chú mới 13 tuổi. Cha chú, một du kích, bị bọn cảnh binh bắt giữ và chúng đặt một ổ phục kích trong nhà Moshov, vì chúng nghĩ: “Thế nào sói mẹ cũng tới cứu sói con”. Mẹ Fedia làm bánh nhân anh túc, thuốc cho lính canh ngủ và đêm đến bà cùng với con trai chạy thoát được qua cửa sổ, chạy ra rừng. Và thế là Fedia trở thành du kích – làm trinh sát, một trinh sát thông minh, giỏi giang.
Tất nhiên là mọi người chiều chuộng và cố gắng trang bị cho cậu bé Fedia, kiếm được cho chú áo khoác, đính thêm galife vào (cái này em chịu), ủng cũng tìm được đôi vừa chân. Vaxia Vitko còn cắt bớt cái báng súng Đức đi cho nhẹ hơn. Trên tấm hình còn cho thấy bộ bao đạn trên người Fedia cũng là của Đức, đạn cũng đạn Đức, trên thắt lưng là lựu đạn RGD, đó là của Vitko cho mượn, để cho ra vẻ một người lính hoàn hảo.


Người phụ nữ run rẩy vì sợ hãi, vì phải nhớ lại nỗi nhục của mình, nấc nghẹn, nhưng cô ta không được khóc, để không làm bọn trẻ con thức giấc, tôi cũng rùng mình ớn lạnh, tôi thấy thật tội nghiệp cho cô ta, tôi biết là cô ấy nói thật, tôi rùng mình vì cái sự thực khủng khiếp này, khi bạn phải kết án một người rơi vào vòng xoáy của các sự kiện. Và tôi chợt loé lên ý nghĩ – nhưng cô ta không có lỗi! Đây là hoàn cảnh bên ngoài đối nghịch cô ấy, còn cô – không có lỗi gì!!! Và không còn nghĩ đến việc phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ, tôi moi trong cặp ra một cuốn sổ, Khot’ko ngạc nhiên nhìn, không biết tôi định làm gì?

-Đây, Nadedzda! – Tôi nói – Hôm nay cô đã hiểu cuộc sống có thể quay lưng với cô, để lại hai đứa con mình côi cút như thế nào. Đừng nghĩ đến chuyện quay lại chỗ cảnh binh lần nữa nghe chưa? Mà thôi không đến Lepel’ luôn đi! Tạm thời tôi cho cô giấy đến kho của đội, đến Antunovo mà nhận nửa bao lúa mạch. Có thể hỏi xem có việc gì làm không, ở đó có các xưởng may quần áo ngụy trang cho chúng tôi.

-Cậu làm sao đấy, Nhikolai, điên à?! – Khot’ko không nhịn được, hỏi tôi.

Nhưng tôi thấy nhẹ lòng. Nadedzda đưa tay run run cầm tờ giấy tôi vừa xé ra. Tôi bước ra khỏi bàn, Khot’ko cũng đứng dậy, hai cụ già tiến lại chỗ chúng tôi, tôi nói với lại với các cụ:

-Các bác trông chừng cô ấy nhé, để cô ấy đừng làm điều gì ngu ngốc nữa. Sẽ không biết phải làm sao với bọn trẻ đâu.

Chúng tôi bước ra ngoài bóng đêm đầy gió và những bông tuyết bay là là trên mặt đất, phải đi thôi. Ngựa lạnh cóng, hăng hái kéo xe trượt đi trên mặt đường đóng băng, Khot’ko chỉ nói:

-Bọn Đức chó chết! Chắc là cậu đúng, chẳng biết làm sao với bọn trẻ. Có thể rồi đâu sẽ vào đấy. Chỉ cần trên đường về phải rẽ vào bảo họ đừng có đụng đến cô ấy nữa.

Dịch từ Nga sang Việt: Nguyễn Thủy (TuDinhHuong)
Hiệu chỉnh: L‎ý Thế Dân
 
Để Nina gửi bài này lên cho khí thế cái nhá

Phần 1
Larin P. I (ảnh của cá nhân)
- 22 tháng 6. Tôi đang trực canh, ở thành phố Zgiutomir. Chúng tôi có cả một quân đoàn, 2 sân bay quân sự, rồi sau đó, khi người ta nói về lúc bắt đấu chiến tranh thì luôn luôn nhắc tới Zgiutomir – nơi đấu tiên bị ném bom. Lúc ấy là gần 4 giờ sáng. Vậy là tôi đang trực canh, gọi là trực đôi ấy mà. Tôi cùng một đồng đội đứng gác thì nghe tiếng ấm. Thế rồi chúng tôi được đổi gác “Đi vào doanh trại đi – cách đây gần 150 m ấy, hay là nghỉ ngơi ở đây đi, nhưng đừng đứng gác nữa”. Thế là chúng tôi cởi áo khoác ngoài cầm tay và đi khỏi trạm gác khoảng chừng 20 m, nằm xuống và …. Chúng tôi nghe thấy có những tiếng nổ, mà cũng có thể không phải tiếng nổ - chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra. Tiếng gì như vỡ đổ, khá to, rồi thì Ầm! Chẳng lẽ chủ nhật mà lại tập trận à? Mà nói chung ở vùng đó hay có tập trận – nhiều bộ đội mà. Tóm lại là chúng tôi chẳng biết gì cả. Dường như là những cái đó làm chúng tôi không ngủ được. Rồi sau đó thì các đồng đội đứng gác cũng không biết gì – sắp tới giờ ăn sáng. Một cậu trực ban cầm mấy cái phích nước đi đến: “Các cậu tới nhà ăn, đem bữa sáng lại đây nhé”. Thế rồi khi chúng tôi quay trở lại thì chiến tranh đã bắt đầu. Những tiếng ồn ào đó đúng là chiến tranh thật. Thế mà chúng tôi không ngờ đến! Chúng tôi ăn sáng rất nhanh: “Đi vào doanh trại.” Còn ở đó thì đang lộn xộn. Lúc đó đã biết rằng chiến tranh đã nổ ra, rằng người Đức đã ném bom sân bay và cây cầu. Ở đó có con sông Teteria – họ ném bom cả cây cầu bắc qua sông đó. Chúng tôi ở trong doanh trại như tất cả mọi người, vào lúc 13 giờ thì Molotov nói trên đài phát thanh và nói về chiến tranh, và tuyên bố rằng cuối cùng thì chúng ta sẽ chiến thắng. Các chỉ huy cũng không biết gì cả, và hình như chẳng có mệnh lệnh gì. Nhưng dù sao thì người Đức đã ném bom rồi, thế thì họ có thể ném bom cả doanh trại chúng tôi nữa. Vạy là tất cả đi lấy xẻng và đào công sự. Chúng tôi đào công sự ở chỗ trống ngay cạnh doanh trại. Rồi lại chờ đợi. Có lệnh nhận tài sản từ các kho chứa: ủng, áo va rơi. Tính đến lúc đó thì tôi mới ở trong quân ngũ được đúng 8 tháng.
- A.D. Anh là binh nhất đi nghĩa vụ?
- Binh nhất
- A.D. Đấy là bộ phận gì?
- Pháo binh siêu nặng
- А.D. Bộ phận này đã có ngay từ lúc đầu?
- Vâng. Những vũ khí như thế này. Ở đây là kích thước 203 mm, còn chỗ chúng tôi là 280 mm, chúng có nòng ngắn và dầy hơn. Còn những phần chính thì cũng thế thôi. Loại 203 là pháo hạng nặng, ở đó bức kích pháo 207- VM, còn loại cuả chúng tôi là OM. Đấy là nòng nhô, 280 mm. Đạn của nó nặng gần 300 kg. Nó chỉ bắn đến 11 km thôi, nhưng nó dùng để diệt các công sự vững chắc. Đơn vị của chúng tôi với vũ khí đó được thành lập vào năm 1939. Lúc đó là chiến tranh Phần lan đã bắt đầu. Và tiểu đoàn của chúng tôi (lúc đó tôi chưa nhập ngũ, tôi đi nghĩa vụ năm 1940, tức là sau khi họ đã chiến đấu xong), tiểu đoàn của chúng tôi tham gia vào chiến tranh Phần lan. Trên mặt trận Leningrad tại eo Kareli. Rồi sư đoàn của chúng tôi vào cuối chiến tranh được mang tên là “Tiểu đoàn pháo binh siêu nặng RGK Berlin 34 huân chương Cờ đỏ Cutuzov” – tên dài thế đấy
Thế là đơn vị của chúng tôi đã đi qua hai lần trên con đường của mình: trong các năm 39 -40 là Leningrad – Vưborg, đường nhựa và dọc đường nhựa là dải phòng ngự, nơi mà sư đoàn đã đánh các hỏa điểm. Ở đó chúng tôi đã chiến đấu xuất sắc, rất nhiều người chúng tôi đã được tặng thưởng. Trong đó có cả tiểu đoàn trưởng
- А.D. Bây giờ chúng ta quay lại năm 41, điều gì đã xảy ra?
- tiếp theo, tới chiều thì chỉ huy nói: “Sẽ có tăng viện, tân binh sẽ tới”. Còn chúng tôi thì đứng trong doanh trại, gần chỗ chúng tôi có 2 trung đoàn đại bác. Trước chiến tranh gần một tháng thì một trung đoàn đi đến gần biên giới, theo như họ nói là đi tập trận (huấn luyện). Thế mà họ đem đi bao nhiêu là đạn dược! Ở chân cánh lái xe cũng hàng đống hòm đạn. Họ đem đi tất cả đạn dược có thể đem. Tới cuối ngày thì người Đức ném bom các kho vũ khí gần đó – rất nhiều vũ khí. Chỗ đấy cách chúng tôi khoảng 400, mà cũng có thể là 500 mét. Kho cháy, đạn nổ, không phải là tất cả cùng lúc, mà là từ từ. Đến tối thì chúng tôi được giao trực canh vòng quanh doanh trại. Tức là phải đi dọc bờ rào, chỗ mà những cái vũ khí ấy đang nổ. Lúc đó thì chúng tôi đều sợ đến gần. Nhỡ nổ ngay thì sao – ai mà biết được! Chẳng ai có kinh nghiệm cả. Thế rồi thôi. Đến tối thì phiên trực của chúng tôi kết thúc. Chúng tôi nằm chợp mắt gần lều, chỗ công sự ấy. Mỗi người đều có áo khoác shinel, áo mưa bộ đội theo đúng điều lệnh nhé. Lúc đó lại có báo động – máy bay ném bom bay đến. Rồi thì những chiếc máy bay ném bom sáng lập lòe bay trên doanh trại của chúng tôi. Mà chúng tôi thì không biết phải làm gì, phải làm sao tiêu diệt chúng. Rồi các đồng đội của tôi bắt đầu bắn. Tôi thì thấy là vô ích nên không bắn, mặc dù tôi bắn cũng khá lắm – bắn 50 phát thì 50 trúng đích. Nhưng mà tôi không bắn vì thấy bắn chỉ phí đạn. Cuối bãi là một khoảng rừng nhỏ - cây bạch dương cao khoảng 8 – 10 m, qua các cành cây có thể thấy rõ máy bay và bom. Trên cây có ai đó – lính dù. Thế là cậu bạn tôi leo lên cây. Anh ấy trèo lên, tên lính dù cũng leo lên cao hơn. Cây bạch dương nghiêng xuống, thế là cả hai ngã xuống. Chúng tôi bắt giữ tên lính dù – hóa ra là hắn mặc quân phục Hồng quân. Cũng là lính, nhưng không phải đơn vị chúng tôi – mà là một đơn vị cạnh đó. Doanh trại ấy là bộ binh, lính từ vùng nào đó ở Tây Ucraina. Họ còn hát các bài hát bằng tiếng U, rất khó hiểu. Hóa ra là một anh chàng đào ngũ của đơn vị bên. Không phải lính dù, mà là đào ngũ!
- Thế rồi chúng tôi dẫn anh ta về đơn vị đó – thế là xong, yên tĩnh đến sáng. Sáng hôm sau khi chúng tôi ngủ dậy, thì cũng như mọi khi anh nuôi chuẩn bị thức ăn và phân phát cho mọi người. Nhưng chúng tôi vẫn không làm gì, chỉ ngồi một chỗ. Bỗng có lệnh “Các khẩu đội, lên xe”. Chúng tôi có xe hơi để chở người, máy kéo và rơ moóc để chở đạn. Chúng tôi lên xe và đi đến sân bay ở đầu kia thành phố. Tức là thế này, Zgiutomir có một thị trấn lân cận tên là Guivo – doanh trại của chúng tôi ở đó, còn nơi này thì ở tận đầu kia của thành phố - ở đó là sân bay phía tây. Chúng tôi rải quân ra ở sân bay này. Ở các chỗ trống trải cứ cách khoảng 40 – 50 m thì lại có lính, còn ở chỗ có rừng thì cứ 10 m một. Để chống đổ bộ. Quả thật là chúng tôi thì không thấy, nhưng đêm trước đã có rồi. Chúng bắn pháo hiệu để chỉ đường cho máy bay. Vào ngay đêm đầu tiên thì bạn tôi - Pasha Chernhiako đã bị thương. Ai đó đi trong rừng, cậu ta hét “Đứng lại, ai đó”, rồi thì nghe tiếng súng nổ, cậu ta bắn. Thế là cậu ấy bị thương. Đấy là đêm 26 tháng 6 chúng tôi có người bị thương. Còn sau đó à? Có một hôm họ rút tất cả chúng tôi ra. Ban đêm lên xe rồi đi đâu đó ra ngoài thành phố. Tôi cũng không nhớ, đi bao xa nữa, có lẽ là khoảng 15 – 20 cây số. Dọc đường nhựa thì đi theo đội hình chiến đấu, trinh sát dọc đường, các trạm quan sát, pháo thì ở đâu đó phía sau. Nghe nói: xe tăng Đức đã xông vào …
- A.D. Các anh với những vũ khí ấy đi chống tăng ư?
- Thế đấy, với những vũ khí cuả chúng tôi. Tất nhiên là không hay lắm khi dùng những vũ khí ấy đi chống tăng. Nhưng dù sao thì chúng tôi cũng triển khai đội hình chiến đấu. Cũng có ý nghĩ phòng hờ, có thể thế, hay là ra khỏi thành phố cứu lấy pháo. Chúng tôi đóng vài ngày phòng ngự như thế. Quả thật là từ phía tây đã nghe tiếng súng. Chúng tôi được lệnh “Lên xe!”. Thế là chúng tôi rời khỏi chỗ đó, vào thành phố ra ga và chất các thứ lên tàu rồi đi. Đi đâu ấy à? Đang có các trận chiến ở gần ngoại ô thành phố với những chiếc xe tăng đã vào được gần thành phố, vậy mà chúng tôi thì lại chất vũ khí lên tàu và đi.Chúng tôi được lệnh đi tàu thật nhanh đến vùng biên giới cũ – đó là cách thành phố Novograd-Volưnsk khoảng 120 – 130 km. Chúng tôi phải chiến đấu ở đó. Chúng tôi đang chuẩn bị chất hàng lên tàu thì bị ném bom. Thật kinh khủng. Không chất được gì lên cả - các toa xe lửa cháy, nhà ga cháy, tất cả đều cháy. Chúng tôi chạy xa nhà ga ra, vào chiến hào, mạnh ai nấy trốn. Hết ném bom thì mới tập hợp đội hình. Rất ít người bị thương – mỗi khẩu đội chỉ có 1-2 người. Tóm lại là rất may mắn. Có nghĩa là không có chất hàng gì hết, ai lên xe nấy và đi. Trung đội trưởng hạ lệnh cho bộ phận trinh sát, tức là chúng tôi ấy, đi lên trước đội hình theo con đường mà ông ấy chỉ ra trên bản đồ. Hóa ra là đi theo hướng tới Kiev. Đấy là quyết định riêng của chỉ huy, vì bây giờ mà đi đến Novograd-Volưnsk cũng vô ích thôi, đang đánh nhau ở sát bên chỗ đóng quân, thế thì chúng tôi đến Novograd-Volưnsk để đầu hàng quân Đức chắc? Có lẽ là chẳng có mệnh lệnh nào từ trên cả, còn chỉ huy pháo binh ở trong doanh trại thì không sao liên lạc với Ban tham mưu quân khu được.
- A.D. Đấy đã là ngày nào rồi?
- Đấy là vào khoảng ngày 30, đúng rồi. Chúng tôi đi ra khỏi thành phố, sắp thành hàng lối. Xe hơi đi trước, rồi đén máy kéo và vũ khí, máy kéo và đạn dược.
- A.D Thế các anh có những máy kéo loại gì?
- Ban đầu thì chúng tôi có những chiếc máy kéo “Voroshilovetx”, chúng có từ thời chiến tranh Phần lan đấy. Có khi là các anh cũng thấy những chiếc máy kéo ấy rồi. Máy kéo, sau ca bin nó thì có thùng xe, nơi mà khẩu đội ngồi, sau đó thì là vũ khí. Nhưng sau khi bắt đầu chiến tranh thì người ta thu mất của chúng tôi những chiếc máy kéo loại ấy. Mà họ đưa cho chúng tôi loại máy kéo nông nghiệp được động viên – loại máy kéo của Nhà máy máy kéo Cheliabinsk. Chúng cũng đủ mạnh để kéo nhưng thứ vũ khí mà ở trạng thái hành quân thì nặng 18 tấn. Khẩu đội có 2 loại vũ khí, tất cả có 6 khẩu pháo thôi, cứ mỗi khẩu đội có 3 máy kéo. Cái máy kéo thứ nhất kéo pháo, cái thứ hai kéo xe, trên xe là nòng pháo ở tư thế hành quân.
- A.D. Thế bình thường thì nòng pháo kéo như thế nào?
- Nòng pháo kéo về phía trước. Một cái xe đẩy đẩy đến chỗ càng pháo, trên đó thì có đường ray, rồi thì nòng lăn theo ray. Một cái máy kéo thì kéo càng pháo, cái thứ 2 thì chở nòng. Còn cái thứ ba thì kéo rơ moóc, ví dụ đạn dược hay là gì đó nữa. Vận tốc hành quân khoảng 15 km một giờ. Thế rồi thì chúng tôi làm hỏng những chiếc Voroshilovetx vì kéo đi nhanh quá. Vũ khí thì nặng, mà phần kéo thì yếu. Trên đường đi Kiev ban ngày chúng tôi thường xuyên bị ném bom, chủ yếu là bọn tiêm kích. Đầu tiên thì chúng bắn, rồi sau đó thì ném bom. Những quả bom cũng nhỏ thôi, nhưng mà chúng ném nhiều. Chúng tôi đi mất mấy ngày. Dọc đường toàn là những bức tranh đáng sợ. Những đơn vị bị chia xẻ, các anh bộ đội đi riêng lẻ - các vị chỉ huy riêng rẽ - 1-2 người, rồi cả dân chúng nữa dọc theo quốc lộ. Các nhân viên nông trang thì đem máy kéo của mình kéo các máy liên hợp gặt đạp đem đi đâu đó về phía đông ra xa khỏi kẻ thù (người Đức). Những cảnh tượng đó làm chúng tôi rất buồn. Chúng tôi rất đau, không cho ai tới gần các rơ moóc vì đó là dạn dược của chúng tôi và thuốc súng. Chúng tôi canh giữ. Khi máy bay bay tới và bắt đầu ném bom thì chúng tôi chạy tới cứu các máy kéo, không để ý tới máy bay nữa. Người lái máy kéo không nghe thấy gì, chúng tôi đập vào cửa ca bin, anh ta dừng lại và chúng tôi mau chóng chạy ra xa – chúng tôi có đạn dược. Nếu bom rơi trúng vào chỗ chúng tôi và nổ thì mạnh khủng khiếp. Sau đó chúng tôi ngoảnh nhìn lại – mảnh bom và đạn rơi vào chỗ vũ khí, làm đổ tung tóe một số, có lẽ là do vỏ ngoài của máy kéo bị nghiêng có màu vàng rất rõ. Thế là chúng tôi đã có kinh nghiệm, bây giờ mà ném bom là chúng tôi dừng máy kéo lại và nằm dưới rơ mo óc. Những viên đạn đại bác che chở thật tuyệt vời. Thế rồi có một hôm tôi ngồi xoay lưng lại phía trái ca bin, bên phải tôi là anh chàng trinh sát Kosinsky. Một quả bom nổ bên trái chiếc máy kéo của chúng tôi, và một mảnh bom rơi vào mũ bảo hiểm của tôi. Nhiều mảnh bom khác bay đến, làm bị thương đồng chí lái xe ngồi bên phải, và làm hỏng chiếc máy kéo. Mảnh bom trúng vào mũ, làm gẫy miếng kim loại, trong mũ là miếng nhựa đội ở trên đầu ấy, thế là mảnh bom đi vào miếng nhựa, làm cong queo, nhưng may mà nó đi tiếng. Nhưng vì cái mù bị cong nên làm tôi bị thương một ít. Tất nhiên là tôi bị chóng mặt rồi ngất đi, máu chảy ra, các bạn tôi sợ hãi, anh lái máy kéo bị thương. Nhưng tất cả cũng qua, các bạn băng bó cho chúng tôi (tất cả đều có túi cứu thương). Người cứ lâng lâng. Nếu anh bị lấy búa bổ vào đấu thì chắc là anh sẽ có cảm giác tương tự đấy. Mảnh bom! Đấy là ngày 5 tháng 7. Sau đó thì chúng tôi chỉ hành quân ban đêm... Đêm thì ngắn, khoảng 4 tiếng, thế là hết. Vì thế mãi đến hôm sinh nhật tôi, ngày 9 tháng 7 chúng tôi mới đến Kiev. Chúng tôi ở đây là chiếc áy kéo và cái rơ mo óc, vì tiểu đoàn đi trước trong khi chúng tôi chữa máy kéo sau trận bom.
Chúng tôi đến Kiev và để xe vào khu để xe ngoài rìa thành phố. Đến đó là thấy nhẹ nhàng hơn, vì ở đó có thợ sửa xe, dụng cụ và mọi thứ cần thiết. Không thấy tiểu đoàn đâu, mà cũng chẳng hiểu tiểu đoàn đi đâu, chẳng thấy ai cả. Chúng tôi ở đó hơn một ngày, đói khát, tôi thì có cái đầu đầy băng, anh lái máy kéo thì bị thương. Thế rồi đến hôm sau thì một chiếc xe của tiểu đoàn xuất hiện và đưa chúng tôi đến Borispol. Chúng tôi đóng trong rừng. Canh gác khắp nơi, tuần tra khu vực, ngụy trang mọi thứ, vì người Đức ném bom Kiev. Ban đêm thì người Đức đã sử dụng lính dù chỉ dẫn để ném bom đơn vị bên cạnh. Chúng tôi cũng sợ bị ném bom, vì thế rất nhiều người làm nhiệm vụ tuần tra. Tôi phải nói thêm là chúng tôi được bổ sung quân số từ các làng Ucraina, dân hộ khẩn vùng đó. Họ không khéo léo lắm – đã kha khá tuổi rồi, cỡ chừng 35 – 40. Một phần trong số đó đã đào ngũ khi chúng tôi hành quân từ Zgitomir đến Kiev. Vì họ được gọi nhập ngũ từ các làng gần dọc đường tới Kiev.
Chúng tôi đóng ở Borispol vài ngày rồi lại được điều tới Kiev. Chúng tôi chiếm lĩnh vị trí bên bờ trái cạnh cấu (bắc qua sông Dnepr). Cánh trinh sát chúng tôi thì có điểm quan sát cách cầu khoảng 70 – 80 m. Nhiệm vụ của cánh trinh sát và cả tiểu đoàn nói chung là bắn vào người Đức, khi họ tới phía tây Kiev. Bắn về phía đó, và nếu người Đức dùng xe tăng Đức đánh xung kích thì bắn về phía đầu xa của cầu, đầu gần thành phố ấy. Thế là chúng tôi phòng thủ ở đó gần một tháng. Người Đức ném bom cầu, thì chúng tôi cũng được một ít bom. Sau đó chúng tôi được điều đến Brovar.
- A.D. Thế anh có bắn không?
- Có bắn, nhưng ít. Chúng tôi không bắn cầu. Vì ở đó khắp nơi là cả đám không chỉ quân Đức, mà cả cánh lính xung kích của ta, có thể trúng quân ta mất. Thế rồi từ Brovar chúng tôi được đưa đi sang phía Đông. Chúng tôi dỡ hàng ở gần Kharkov, sau đó lại chất hàng lên và đi tới Liman Đỏ, rồi đóng quân ở Belaya Kalitva gần một tháng. Sau đó thì rút lui qua vùng Bắc Kavkaz. Chúng tôi ở Mozdok cùng khá lâu. Ban đầu thì phòng thủ. Đó là mùa thu năm 41. Người Đức lúc đó tiến rất nhanh chóng. Chúng tôi ở đó suốt cả mùa đông, rồi sang năm sau thì người ta lại điều chúng tôi đi xe lửa qua Makhachkal, Bacu, Derbent, rồi vòng theo đường xe lửa Zakavkaz sang phía tây. Rồi chúng tôi chuẩn bị trận địa ở Shankhor, vì lúc đó người Thổ chắc là sẽ tiến công ăn theo thành công của người Đức. Tình cảnh hay thật: chúng tôi ở đó, người Đức thì sau lưng chúng tôi trong núi, còn chúng tôi thì chờ người Thổ tấn công. Nhưng người Thổ không tiến công, có lẽ là do họ thông minh hơn. Thế là người ta lại rút chúng tôi đến Makhachkal. Đúng ra thì đến Makhachkal chúng tôi phải lên tàu đi sang phía tây chiến đấu, thế nhưng đến lúc đó thì đường sá đã bị cắt đứt, thế có nghĩa là không thể sang phía tây nào nữa. Chúng tôi ở đó, thỉnh thoảng bị ném bom, nhưng không nguy hiểm. Lúc đó các đơn vị vẫn còn đang rút lui từ Kavkaz. Cảnh tượng cũng y như ở gần Kiev: máy kéo dọc đường, kéo máy móc, người ta đưa các đàn gia súc lớn đi. Tất cả đi ngang qua chúng tôi. Nhưng hồi đó công tác hậu cần dở lắm – bánh mì đầy trấu. Cắn một miếng là nó kéo căng cả miệng . Người dân cho chúng tôi rất nhiều cá. Các nông dân của các nông trang rất tiếc phải bỏ lại cừu. Cừu nằm trên những chiếc xe ấy, con thì gẫy chân, hay sao đó. Thế là họ để lại cho chúng tôi những con cừu đó. Vậy là chúng tôi ăn đồ ăn quá béo. Bắt đầu có bệnh dịch lỵ. Chúng tôi để lại rất nhiều người trong các bệnh viện. Những người còn lại thì lên phà. Đó là một chiếc phà rất lớn, cả tiểu đoàn với xe cộ lên cũng vừa, thiếu mỗi đạn. Người ta chất đạn lên một cái phà riêng và với ca nô tuần hành họ đã chở chúng tôi qua biển đến Guriev. Chúng tôi đi trên biển hai tuần. Lương thực, nước uống đều cạn. Xung quanh thì đầy nước mà không uống được. Đầu tiên mỗi người được phát một bình nước, sau đó thì từng ca, uống ướt họng thôi. Rồi cũng đến Guriev. Chúng tôi ở Guriev cũng gần tháng – chờ đoàn tàu lưu động. Chúng tôi lên tàu đi Matxkva, rồi đi qua Matxkva sang phía đông. Đi đến Upha, chờ ở Upha, rồi người ta lại chở chúng tôi đi cách Upha khoảng 60 km, chắc là Ga Ilino. Ở đó thì chúng tôi dỡ hàng xuống, rồi phải quay lại. Khi chúng tôi còn ở mặt trận Kavkaz thì người ta thu mũ ca lô của cánh lính trinh sát chúng tôi và phát cho chúng tôi những cái mũ như mũ của lính biên phòng các vùng nóng. Mũ có lỗ cho thoáng khí. Trung đội trinh sát của chúng tôi trông khác tất cả các cánh lính khác. Thế rồi thì ở mặt trận Kavkaz, rồi thì Makhachkal, rồi qua biển, rồi ở Guriev – ngoài lương thực ra thì chẳng được tiếp tế gì nữa. Mà làm thì đủ thứ việc – chất hàng lên, khuân hàng xuống. Chưa kể cánh lính trinh sát khi trực chiến còn phải bò nữa. Thế là quần áo rách hết, chúng tôi cứ vậy mà dỡ súng đạn ra khỏi các toa tàu. Găng tay chẳng có, mà lúc đó thì trời rất lạnh – gần đến mùng 7 tháng 11 mà. Nhiệt độ âm 20 độ C. Áo khoác ngoài của chúng tôi đã xơ xác hết. Ở đó là một làng khá lớn, theo tiêu chuẩn Nga – khoảng 400 – 500 hộ. Chúng tôi chiếm trường học. Lúc đó mọi việc học hành dừng lại hết và chúng tôi ở đó. Không thể trực gác được, vì ủng và áo khoác rách hết cả. Thế là người thì lấy chăn, người thì lấy vải nào đó nữa chế thành mũ, tay áo. Rồi chúng tôi gặp dân làng. Ở đó đến năm 44. Mùa đông, lúc gần năm mới thì chúng tôi được lệnh lên đường. Nhưng lúc đó thì tuyết phủ đầy làng, có chỗ đống tuyết cao đến 5 m. Chúng tôi không lên đường được, vì không thể nhúc nhắc khỏi chỗ được.
Các trinh sát Ukin B.A. và Larin P.I. đang luyện tập năm 1942 ( ảnh của cá nhân)
Nói tóm lại là chúng tôi bị tuyết giữ lại, chúng tôi không thể đi khỏi đó được đến tận mùng 1 tháng 5. Kỷ niêm mùng 1 tháng 5 xong thì chúng tôi lên đường. Lúc đó (năm 44) thì quân ta đã giải vòng vây Leningrad, và các mặt trận đã tiến đến gần biên giới. Chúng tôi được đưa tới Mặt trận Leningrad. Đó là ga Levasovo, gần Leningrad, làng Pesôchnưi. Chúng tôi đóng quân ở làng này và chuẩn bị chiến đấu. Chỗ đó cách Leningrad khoảng 25 – 27 km. Ở đó có thị trấn Kirieki cuả Phần Lan, chúng tôi bày quân trước thị trấn này. Bộ binh đã đóng ở đó hơn một năm, hai bên đã không bắn nhau nữa. Chúng tôi thì rất ngạc nhiên: sao lại không bắn nhau? Tôi thì bắn rất tốt. Đại đội trưởng giao hai khẩu súng bắn tỉa cho tôi và một cậu nữa mà bây giờ tôi đã quên họ cậu ấy rồi. Chúng tôi đi lên phía trước như những người thợ săn tự do ấy. Chúng tôi ở phía trước cánh bộ binh, bắn tỉa. Dĩ nhiên là cũng đi đến cả Đài quan sát của chúng tôi nữa. Từ chỗ đó chúng tôi quan sát mọi thứ, biết cả trật tự chiến đấu: cái gì ở đâu của quân Phần Lan. Công sự, vật cản ở đâu, chúng tôi đã biết hết mọi thứ. Đi tới chỗ cánh lính bộ binh, vừa mới bắn thì người Phần Lan đã bắn trả cả tràng súng cối Минометов vào chỗ chúng tôi. Cánh lính bộ binh tí nữa thì nện cho chúng tôi: “Biến khỏi đây đi. Chúng tớ đang hòa bình, yên ổn” . Đến nỗi họ lấy cả lều trại trải ra bên cạnh công sự và nằm phơi nắng. Mùa hè, ấm áp mà, họ lại không bắn nhau. Cuối cùng thì chúng tôi không tới đó nữa. Hơi đâu mà xơi đấm của cánh lính bộ binh!
Tôi quên nói rằng năm 43 tôi trở thành tiểu đội trưởng. Sau đó quân đội của chúng ta cũng bắt đầu tới thêm. Không gian đầy thêm người, chật chội hơn. Người Phần Lan bổ sung thêm quân, chúng tôi quan sát thấy họ tập trung về dải phân cách với chúng tôi. Họ cũng làm thêm các công sự mới. Họ đào cái gì đó nữa, chắc là đào công sự. Nhìn qua cái ống nhòm có độ khuếch đại 10 lần có thể thấy rất rõ. Đến ngày 10 tháng 6 thì chúng tôi bắt đầu tấn công. Bắt đầu bắn vào các hỏa điểm, дзотам ở phía trước người Phần Lan từ ngày mùng 9 tháng 6. Đúng là ngày của lính pháo binh – phá hỏng hoàn toàn trật tự chiến đấu của kẻ địch. Máy bay cũng xử lý dải phân cách đó. Dường như tất cả đều tốt đẹp. Chúng tôi đã phá hủy các mục tiêu định trước. Một khẩu pháo thậm chí còn để trực diện đường giới tuyến, vì có một hỏa điểm hỏa lực rất mạnh, kiểu gì chúng tôi cũng phải tiêu diệt nó. Từ chỗ chúng tôi đến đó là khoảng 2 đến 2,5 km. Từ khẩu pháo thứ 10 chúng tôi tiêu diệt hỏa điểm bằng cách bắn thẳng. Đạn nặng đến 300 kg kia mà. Cũng cần phải nói là suốt cuộc chiến tranh không khi nào tôi đứng gần các khẩu pháo của mình lúc bắn cả. Tôi luôn luôn ở tiền tuyến phía trước. Nơi đặt pháo đối với chúng tôi là hậu phương. Thường thì chúng tôi luôn ở gần chỗ lửa đạn, ở “hậu phương” thì có bộ phận cấp dưỡng, rồi chúng tôi cử một cậu trinh sát đem phích nước đi lấy đồ ăn, chúng tôi ăn ngay ở “tiền tuyến”
- A.D. Thế khoảng cách từ chỗ tiền tuyến đến chỗ để pháo là bao xa?
- Khó mà nói chính xác được, thường thì khoảng 2 đến 2,5 km. Cũng có khi xa hơn. Tùy theo tình hình cụ thể. Ví dụ không thể đặt pháo ở những chỗ lầy lội. Dĩ nhiên là người ta cố gắng tới gần tiền tuyến hơn. Chúng tôi cũng không đến sát tiền tuyến được, vì cả người Phần Lan lẫn người Đức đều thực hiện trinh sát bằng đạn và có thể bắn tới. Cuối cùng thì hôm sau, hôm mùng 10 thì bắt đầu tiến công, máy bay lại ném bom ác đến nỗi làm bay cả khẩu đội súng cối gần đài quan sát của chúng tôi. Nhưng chúng tôi thì không bị sao.
Rồi sau đó thì quân ta bắt đầu tiến công vào sâu theo hướng Mannergeim. Thường thì chúng tôi luôn bị tụt lại so với bộ binh, vì đường sá thì không nhiều và rộng, mà quân thì đi dài dọc, chiếm hết cả đường. Này thì bộ binh, này thì pháo binh, rồi các xe chở nhiên liệu, chở đạn, các loại Kachiusa với lại Andriusa – tất cả đều dọc đường cả. Nhiều khi chúng tôi phải vượt lên thực hiện nhiệm vụ, nhưng mà không làm nổi. Nhưng chỉ huy trưởng của chúng tôi là người tháo vát, xứng đáng. Anh ấy bèn mặc áo buốc ca bên ngoài, đội mũ nhà binh, trông oách như một ông tướng. Rồi cầm gậy, ra ngoài đường và bắt đầu chỉ huy – ra lệnh nhường đường cho chúng tôi. Nhưng kiểu gì thì chúng tôi vẫn bị tụt lại so với những anh đi đầu. Mà nói chung thì cùng không cần thiết phải theo kịp. Rồi đến khi họ đã đến tận đường Mannergeim, đi xa khoảng 50 – 60 km, lúc đó thì mới cần đến chúng tôi. Trung đoàn đang tiến về đó, còn tôi được giao nhiệm vụ hỗ trợ cho tiểu đoàn chủ công xung kích, mà bây giờ tôi không còn nhớ số mấy nữa, nhưng chúng tôi cần phải liên hệ với nhau. Thế là tôi cùng với đại đội pháo binh cùng với đồng chí chỉ huy trinh sát lên xe đi tới cái ô vuông trên bản đồ, nơi mà cái tiểu đoàn kia đang phải đóng ở đó. Nhưng chúng tôi không tìm thấy tiểu đoàn đó, họ đã nhổ neo đi đâu đó mà không để lại địa chỉ là họ sẽ tới đâu. Chúng tôi thấy một số xe con Willis hay Emk, dấu hiệu cho thấy gần đó có ban chỉ huy nào đó, nhưng khi lại gần thì hóa ra không phải tiểu đoàn đó. Hai ngày chúng tôi tìm kiếm khổ sở, mà cuối cùng vẫn không tìm thấy cái tiểu đoàn mà chúng tôi phải nghe lệnh ấy. Đến ngày 20 tháng 6 thì quân ta đã chọc thủng phòng tuyến Mannergeim gần biển và rồi quân ta đã chiếm được Vưborg. Sáng sớm chúng tôi lên xe đi về phía trước, thẳng tới phòng tuyến Mannergeim. Đường trải nhựa, vẫn còn rất tốt. Chúng tôi qua làng Humola. Thường thì chúng tôi đi như thế này: trung đội trưởng, trong trường hợp này là đồng chí chỉ huy trinh sát ngồi bên phải lái xe, tôi ngồi phía bên trái quay lưng lại ca bin, - ra lệnh hoặc báo cáo những gì chúng tôi nhìn thấy. Ở đâu đó có tiếng súng bắn, mà khi cứ réo ù cả tai thì khó mà biết được tiếng súng ở xa hay gần. Mà cũng chẳng rõ là ở hướng nào, tóm lại là định hướng rất tồi. Chúng tôi vào làng Kumo thì tiếng súng im. Chúng tôi thấy, phía bên phải xe là quân ta, còn đằng kia là người Phần Lan. Và rồi cuộc đấu súng bắt đầu. Chúng tôi lăn từ trên xe xuống như bi, ở đó có một ngôi nhà đã bị phá hủy, mái chổng lên, còn bên trong thì chắc là bị xe tăng bắn hay là bị nổ gì đó. Đấy là sáng sớm vào khoảng 6 -7 giờ sáng, mặt trời đã lên. Thế rồi lính Phần Lan bắt đầu bắn vào xe của chúng tôi. Nhưng không ai việc gì, tôi chỉ bị một viên đạn làm xây xát. Mà ngay cạnh đó có xác một người lính Phần Lan với túi cứu thương. Chúng tôi tìm thấy trong đó băng dán, dán vào rồi kéo mù xuống che – mọi chuyện lại bình thường. Chúng tôi ở đó khoảng chừng nửa giờ, phòng thủ thành hình tròn nhưng không bắn. Còn lính Phần Lan thì bắn vào xe, làm thủng bình xăng, nửa thùng bị chảy ra, kính bị vờ hết, cabin bị xuyên thủng nhiều chỗ. Nhưng trong xe chúng tôi có hòm ống nhòm, còn 2 chiếc khác thì ở đơn vị. Có 4 cái ống nhòm trong đơn vị. Đạn xuyên thủng hòm, nhưng không làm hư hại các khí cụ quang học của chúng tôi., mà cũng không đụng đến chúng tôi. Sau đó thì dường như đã yên trở lại. Mà chúng tôi đã đói từ mấy ngày, từ khi lên xe ra đi chưa được ăn uống gì. Mà cái nhà đó dường như có hầm thực phẩm: “Này các cậu, lấy khoai tây đi!”. Lấy khoai tây, người thì lấy vào áo bông, người thì lấy vào áo khoác. Rồi chúng tôi quay trở lại. Lấy bánh xà phòng bịt các lỗ của bình xăng cho khỏi lắc – vẫn còn một ít xăng trong đó. Lái xe của chúng tôi thì rất khéo.
- A.D. Thế các anh có đẩy lùi lính Phần Lan ra không?
- Đẩy ra. Chúng tôi quay xe lại. Liên lạc với ban tham mưu, họ bảo cứ ra ngã tư và chờ họ. Ở đó có một đường đi về phía đường nhựa Vưborg, còn một đường dẫn qua phòng tuyến Mannergeim, có một làng nhỏ ở đó. Nhưng chỗ ấy có phòng thủ: hỏa điểm, ụ súng, dây thép gai xung quanh. Cây cối phía trước chúng tôi đã bị đốn, chẳng còn gì ngoài những mảnh vỡ. Chúng tôi quay lại chỗ gần ngã tư, làng Humo. Khi ra ngã tư thì thấy trên đường chúng tôi đi thì hầu nnhư chẳng có ai, còn trên đường kia thì đầy đủ mọi thứ binh chủng. Xe tăng thì đi ven đường, còn giữa đường là xe với pháo. Đầy đường.
Chúng tôi đi tới ngã tư, dừng lại, gọt khoai tây, rồi lấy cái xô nhỏ của đồng chí lái xe múc nước và luộc khoai. Khi khoai sắp chín thì những bộ phận đi đầu của cánh quân đã cùng ban chỉ huy đang đi tới. Cần phải nói là chỗ chúng tôi có một anh chàng trung sĩ rất đảm đang, chúng tôi lấy anh ta từ bên bộ binh. Anh ta làm anh nuôi bên chỗ chúng tôi, một anh chàng đảm đang quê ở Kiev, Sasha Strenchenko, “nào đưa đĩa đây”, anh ta múc cho tôi đầu tiên, chỉ huy mà. Nhưng vừa mới múc ra thù máy bay đến. Máy bay không phải từ phía mặt trận, mà là từ phía hậu phương. Ba chiếc máy bay bay đến, bổ nhào, “Báo động!”. Tôi nhìn thì thấy có vẻ như là máy bay quân ta, giống lắm. Nhưng hóa ra không phải, đó là máy bay Phần Lan. Bổ nhào ngay trên đầu chúng tôi rồi bắt đầu bắn. Tôi để khoai tây với cái thìa lại, thế là một loạt đạn trúng ngay vào chỗ khoai tây! Tất cả khoai tây bay ra tứ phía…chà, tiếc thật. Chúng tôi chạy trú bom, nằm xuống đâu bây giờ? Dưới cái xe, ba chúng tôi chui vào dưới xe, đạn bay ngang qua, bom bay. Bom nổ vào bộ phận trí thức pháo binh của chúng tôi. Ban tham mưu, trung đội tô pô, công binh, … tất cả tụ lại ở ngã tư đó. Họ bom chúng tôi kỹ lưỡng. Tôi nằm dưới xe, bên phải bánh xe. Một quả bom nổ gần ngay bánh xe, đĩa bánh có lỗ. Nổ, rồi lửa phực lên, luồn qua đĩa ấy làm bỏng bên phải. Rồi một mảnh bom bắn vào sau gáy tôi. Sờ vào, ối trời, máu. Tôi thoáng nghĩ: “Chắc mình bị chết rồi. À, mà có lẽ vẫn chưa, mình vẫn còn sống?”. Rồi tiếng ồn qua đi: tiếng rên, mấy cái xe của chúng tôi bị cháy. Nhưng cái xe chúng tôi ngồi thì không sao. Tôi tập hợp đội hình, mà không được. Trung đội của tôi mất 16 người, còn tất cả những người khác đều bị thương. Ngay sau khi ném bom là kẻ địch pháo kích – đạn bắt đầu nổ trên đường, xe cháy. Những dàn Kachiusa vừa đứng ở đây – Kachiusa cháy. Lửa lan khắp nơi. Đạn bắt đầu nổ, một ít rơi vào các khẩu đội của chúng tôi đang trải dài trên đường. Nói chung là lộn xộn, nhiều người bị giết. Trên đường là tiếng kêu la, rên rỉ. Tôi đang ngồi trên một hòn đá thì một quả “Andriusa” M-31 bay đến. Nó bay từ chiếc xe cháy nào đó, trúng vào hòn đá rồi bay đi, không đụng đến tôi. Một số đạn khác thì rơi thẳng xuống, phần phản lực thì cháy, chúng quay vòng vòng, nhưng không bay đi được. Chúng tôi rất hoảng khi thuốc nổ cháy. Ngọn lửa phủ ra 5, 7 m từ chỗ cháy. Tôi bắt đầu gọi điểm danh quân của mình – chẳng ai đáp lời cả. Lúc đó lại máy bay bay đến, lại ném bom, lại vào chỗ chúng tôi. Tôi với trung đội trưởng lăn xuống đất. Đầu tiên thì máy bay chỉ bắn. Một loạt đạn trúng vào trung đội trưởng – đạn trúng vào lưng, vai, bụng – khoảng 5 viên trúng vào anh ấy. Tôi chỉ nghe thấy người anh ấy giật lên khi trúng đạn, lúc ấy anh ấy vẫn còn sống. Còn tôi ở ngay bên cạnh thì lại không sao - tôi đúng là người may mắn. Máy bay bay đi, và tôi bắt đầu băng bó cho anh ấy, nghe tiếng anh ấy rên, tức là vẫn còn sống. Có một viên đạn vào bụng - lỗ rất nhỏ, hầu như không thấy, chỉ có một chút máu bên ngoài, thế mà chỗ đạn ra thì rách tươm. Tôi lấy dao găm ra, lính trinh sát thì lúc nào cũng có dao găm mà, rạch áo khoác của anh ấy ra, cởi áo sơ mi ra, băng lại. Dùng hết túi cứu thưong của mình tôi phải lấy túi cứu thương của anh ấy trong túi sau ra băng. Trong khi đang băng thì lại một bầy máy bay bay đến. Rồi bầy thứ ba nữa chứ, mà tất cả đều bắn vào chỗ chúng tôi! Tôi băng rồi nẵm xuống bên trái anh ấy. Đầu thì gần xe, đạn không thể xuyên qua xe được. Một quả bom nổ phía bên phải anh ấy, rất gần, chỉ cách khoảng 1m - 1.5 m. Bom nổ quẳng anh ấy lên người tôi. Khi đã yên yên và máy bay đã bay đi tôi đến bên anh ấy, thì thấy một mảnh bom đã cắt mất hàm của anh ấy, lưỡi thè ra. Anh ấy cố gắng chống tay phải nhỏm đậy (anh ấy đang nằm sấp), tôi thấy tay phải của anh ấy đã rời ra khỏi tay áo. Anh ấy bị trúng rất nhiều mảnh bom, tôi thấy anh ấy cố gắng nhỏm dậy, thở khò khè, muốn nói gì đó. Tôi nghe, nhưng anh ấy ngã xuống rồi ra đi. Tôi để anh ấy lại đó rồi chạy sang bên tới chỗ những người khác đang la hét. Tôi băng bó cho 9 người. Lúc đó tôi nhìn thấy anh huấn luyện viên vệ sinh của khẩu đội, Ivan Zgiutnhik đang đưng run rẩy. “Ivan, băng đi!”. Tôi còn văng tục nữa, bình thường thì tôi không chửi tục, nhưng lúc đó buộc phải “Băng đi, đứng trơ ra thế à!”. Cậu ta vẫn còn run vì sợ. Xung quanh toàn là người chết. Xe cháy, mùi thịt người nồng nặc. Lính bộ binh, pháo binh trên đường đều thiệt hại nặng. Tôi không biết chính xác nhưng có lẽ phải hơn trăm người bị chết ở chỗ đó. Chúng tôi chôn cất nửa trung đội điều khiển. Trung đội trưởng đã hy sinh, và tôi trở thành người chỉ huy trung đội. Tôi tập hợp bộ đội lại, còn lại 14 người trong đội hình. “Ai bị thương?” “Tôi, tôi, tôi…” Trong đội hình, nhưng bị thương. Nói chung là lúc đó tiểu đoàn mất khả năng chiến đấu. Người ta không điều chúng tôi đi đâu cả, mặt trận gần như đã vượt qua phòng tuyến Mannergeim, gần Vưborg. Vào lúc đó máy bay U-2, hay Po-2, như chúng tôi gọi, loại máy bay ném bom nhỏ bay tới, thả truyền đơn. Chúc mừng. Sáng ngày 20 quân ta chiếm được Vưborg

(Còn tiếp)
Phỏng vấn Artem Drabkin
 
Back
Top