Phanhoamay
New member
ЛОБАНОВСКИЙ
Валерий Васильевич
(1939-2002)
Заслуженный тренер СССР, обладатель Кубка европейских стран и Суперкубка
Không ai ngờ rằng cậu bé hiếu học, tuổi thơ sau chiến tranh say mê chơi bóng – một trò chơi hấp dẫn hơn là một công việc nghiêm túc, lại trở thành một cầu thủ bóng đá có hạng và là một huấn luyện viên nổi tiếng thời hiện đại. Valeri học giỏi phổ thông, đọc nhiều, nhưng cứ có thời gian rỗi là lại ra sân bóng. Giày rách, bóng nát, những tấm gỗ hàng rào được dùng làm “khung thành” bị Valeri sút tả tơi. Evghenhi, người anh của Valeri Lobanovski, luôn đóng lại các tấm gỗ hàng rào, còn bà mẹ Alexandra Maximovna thì dọa sẽ cắt vụn quả bóng, còn đôi giày da dùng làm giày đá bóng thì sẽ cho vào lò đốt. Dọa thì cứ dọa thế thôi, gia đình Lobanovski biết rằng bóng đá đã là một phần không thể tách rời của cuộc đời Valeri và đã tạo điều kiện cho Valeri phát triển hài hòa. Ông bố Vaxili Mikhailovich làm việc ở nhà máy Xay, còn ông anh Evghenhi sau này làm kỹ sư nhiệt điện rồi Viện trưởng, cả hai luôn khuyến khích Valeri chơi bóng và thường xuyên đi xem các trận có Valeri chơi.
Valeri tốt nghiệp phổ thông với huy chương bạc, sau đó tốt nghiệp Đại học Bách khoa với thành tích cũng cao như vậy. Các cầu thủ bóng đá mọi thời đại hiếm khi vào các trường đại học chuyên ngành kiểu này.
Ở Liên xô trong một lần “cải cách” nọ có liên quan đến bóng đá một cách ngu xuẩn, các quan chức thể thao quyết định cấm những người không học đại học TDTT không được nắm các đội ngoại hạng và hạng nhất giải vô địch Liên xô. Lúc ra nghị quyết, người ta “quên” mất rằng chuyên gia duy nhất không có bằng cấp lại chính là Valeri Lobanovxki, người vừa mới trở thành HLV “number one” trong bóng đá Liên xô vào thời gian đó.
Vào năm 1952 V. Lobanovxki bắt đầu vào học trường bóng đá số 1 nhờ HLV Nikolai Chaika, người đã phát hiện cầu thủ có năng khiếu này trong các trận bóng nhí. Ba năm sau, Valeri có mặt ở trường bóng đá trẻ Kiev, bốn năm sau nữa thì được mời vào Dinamo Kiev. Tất nhiên là thời gian đầu chỉ chơi dự bị cho đội bóng hay nhất Ucraina.
Lobanovxki hấp dẫn người xem bằng lối dắt bóng, khả năng làm đối phương bị lừa, những cú dốc biên trái và những quả đá phạt góc. Những quả phạt góc của cầu thủ Kiev này làm người xem ở Matxcowva, Tbilixi, Leningrad, Donhetsk, Erevan – và tất nhiên là cả ở Kiev nữa - thích thú. Các khán đài lúc đầu nín lặng, sau đó reo hò mỗi khi Lobanovxki cầm bóng đi về lá cờ phạt góc, đặt bóng, chạy lấy đà, điệu nghệ sút trái bóng sao cho hoặc trái bóng bất ngờ “lặn” vào góc gần hay lái vào góc xa khung thành. Oleg Vaxilevich rất nhiều lần nhảy cao đánh đầu ghi bàn thắng đẹp mắt từ những đường chuyền của Lobanovxki.
Những cú sút phạt góc “bản hãng” của V. Lobanovxki đã đóng một vai trò nhất định trong việc Dinamo Kiev đoạt ngôi vô địch năm 1961. Tất nhiên là chúng không có được ngay lập tức, lúc đầu chúng chỉ là các bảng tính trên giấy của chàng sinh viên Bách khoa 22 tuổi, sau đó là mỗi ngày hàng trăm đá tập quả phạt góc; nắng nóng, mưa lầy, tại cơ sở tập luyện ở Kiev hay ở các thành phố khác. Đối với quả phạt góc hay với bất cứ cái gì ông làm trong đời, Lobanovxki luôn quan tâm một cách đặc biệt chu đáo, tính toán cẩn thận từng bước một.
Lobanovxki may mắn gặp được những huấn luyện viên giỏi, những người từng huấn luyện ông ở Dinamo Kiev – Vachexlav Xolovev và Victor Maslov, Oleg Oshenhikov ở Thợ mỏ Donhetsk. Vào giữa những năm 60, huấn luyện viên xô viết nổi tiếng Maslov, người mà Lobannovski vẫn gọi là “trời sinh”, đã phát huy thành công vô địch của Xolovev, người đã đưa V. Lobanovski vào đội hình chính. Lobanovski cho rằng: “Maslov đặc biệt nhạy cảm với những cái mới trong bóng đá, ông vượt trội nhờ nhiều phát kiến chiến thuật cũng như những cách tân trong quá trình tập luyện, những cái mà sau này chúng ta thán phục tiếp thu từ nước ngoài song lại quên rằng những cái đó chúng ta cũng đã từng có nhưng không được hiểu và đánh giá một cách xứng đáng. Ví dụ sơ đồ chiến thuật dùng 4 tiền vệ thì Maslov đã nhiều lần áp dụng từ rất lâu trước khi sơ đồ đó “lên tiếng” trong lối chơi của người Anh tại giải vô địch thế giới 1966.
Lobanovski từng tranh luận với Maslov, người muốn xác định cho cầu thủ những chức năng mới, khác với những chức năng cầu thủ thường thực hiện. Người tiền đạo đội Dinamo Kiev tin vào sự đúng đắn của mình, nhưng cùng với năm tháng, anh hiểu ra rằng cái đúng của người thầy Maslov cao hơn nhiều so với cái đúng của người cầu thủ trong anh.
Với tư cách cầu thủ Lobanovski chơi trong các giải vô địch Liên xô 253 trận, ghi 71 bàn thắng. Từ 1957 đên 1964 ông chơi cho Dinamo Kiev (144 trận, 42 bàn thắng), từ 1965 đến tháng 3 năm 1967 cho “Người Hắc hải” Odetsa (59 và 19), từ tháng 3 năm 1967 đến 6 năm 1968 cho “Thợ mỏ” Donhétsk (50 và 14)...(lược bỏ - ND)
Ở tuổi 29, Lobanovski bắt đầu huấn luyện đội hạng nhất “Dnhepr“ (Dnhepropetrovsk), đưa đội lên ngoại hạng và chiếm ngay vị trí số 6. Bước nhảy vọt bất ngờ của người huấn luyện viên trẻ đã làm cho những người lãnh đạo chịu trách nhiệm về Dinamo - đội bóng tốt nhất của Ucraina phải quan tâm. Tháng 10 năm 1973, Lobannovski được gọi về Kiev. Ông tưởng đó là về họp hành gì đó và rất mừng là sẽ được dạo chơi quanh thành phố mùa thu mà ông ít khi có dịp ghé qua, thành phố mà ông luôn nhớ dù đang ở bất kỳ đâu. “Từ lâu chúng tôi theo dõi công việc của anh ở Dnhepropetrovsk và nay đề nghị anh lãnh đạo đội Dinamo Kiev” - người ta nói với anh như vậy. Ông gọi điện cho Oleg Bazilevich, người đồng đội một thời ở Dinamo, người cùng đồng chí hướng trong công tác huấn luyện và hiện đang làm việc ở “Thợ mỏ” về cùng làm việc với mình.
Bao giờ người ta cũng đòi hỏi và mong đợi Dinamo Kiev thắng. “Cặp” Lobanovski-Bazilevich sau 2 năm rưỡi đã bắt đầu cho chiến thắng. Hai ông nghiêm túc tuân thủ quy trình huấn luyện được thiết kế đặc biệt, thay đổi cơ bản tính chất tiến hành các hoạt động thi đấu, và dẫn đầu một hướng mới trong bóng đá.
Năm 1975 Dinamo Kiev trở thành đội bóng xô viết đầu tiên giành được một giải châu Âu danh giá - Cúp các đội đoạt cúp, và sau đó là Siêu Cup, thắng cả hai trận trước Bavaria... Các cầu thủ cùng huấn luyện viên của mình là nòng cột của đội tuyển Liên xô.
Sang năm sau, 1976, Dinamo Koev “chỉ” lọt được vào vóng tứ kết Cúp C1...
“Các nguyên lý không bao giờ thay đổi, chúng chỉ hoàn thiện thêm”. Lobanovski, người đã mấy chục năm nằm trong số các HLV giỏi nhất thế giới đã nói như vậy. Bóng đá Ý gọi ông là “Đại tá”, Đức thì gọi là “Tướng” để nhấn mạnh sự kính trọng đối với các đội bóng do Lobanovski dẫn dắt. Đồng nghiệp theo dõi sát sao công việc của ông. Nhiều HLV Ý hoàn toàn có thể nói rằng họ trưởng thành “nhờ Lobanovski”. Vào cuối thu năm 1967, một đoàn rất đông các HLV Nga đi thăm tìm hiểu một số CLB Ý như Milan, Roma, Juventus. Marchello Lippi dẫn dắt Juve lúc đó nói: “Tôi hiểu sự quan tâm của các bạn đến công tác huấn luyện của chúng tôi nhưng chính chúng tôi đã từng học được rất nhiều ở nơi mà từ đó các bạn đến, chúng tôi đã đặc biệt quan tâm đến những gì mà Valeri Lobanovxki đã làm ở Dinamo Kiev và ở đội tuyển Liên xô”.
(còn tiếp)
Валерий Васильевич
(1939-2002)
Заслуженный тренер СССР, обладатель Кубка европейских стран и Суперкубка
Không ai ngờ rằng cậu bé hiếu học, tuổi thơ sau chiến tranh say mê chơi bóng – một trò chơi hấp dẫn hơn là một công việc nghiêm túc, lại trở thành một cầu thủ bóng đá có hạng và là một huấn luyện viên nổi tiếng thời hiện đại. Valeri học giỏi phổ thông, đọc nhiều, nhưng cứ có thời gian rỗi là lại ra sân bóng. Giày rách, bóng nát, những tấm gỗ hàng rào được dùng làm “khung thành” bị Valeri sút tả tơi. Evghenhi, người anh của Valeri Lobanovski, luôn đóng lại các tấm gỗ hàng rào, còn bà mẹ Alexandra Maximovna thì dọa sẽ cắt vụn quả bóng, còn đôi giày da dùng làm giày đá bóng thì sẽ cho vào lò đốt. Dọa thì cứ dọa thế thôi, gia đình Lobanovski biết rằng bóng đá đã là một phần không thể tách rời của cuộc đời Valeri và đã tạo điều kiện cho Valeri phát triển hài hòa. Ông bố Vaxili Mikhailovich làm việc ở nhà máy Xay, còn ông anh Evghenhi sau này làm kỹ sư nhiệt điện rồi Viện trưởng, cả hai luôn khuyến khích Valeri chơi bóng và thường xuyên đi xem các trận có Valeri chơi.
Valeri tốt nghiệp phổ thông với huy chương bạc, sau đó tốt nghiệp Đại học Bách khoa với thành tích cũng cao như vậy. Các cầu thủ bóng đá mọi thời đại hiếm khi vào các trường đại học chuyên ngành kiểu này.
Ở Liên xô trong một lần “cải cách” nọ có liên quan đến bóng đá một cách ngu xuẩn, các quan chức thể thao quyết định cấm những người không học đại học TDTT không được nắm các đội ngoại hạng và hạng nhất giải vô địch Liên xô. Lúc ra nghị quyết, người ta “quên” mất rằng chuyên gia duy nhất không có bằng cấp lại chính là Valeri Lobanovxki, người vừa mới trở thành HLV “number one” trong bóng đá Liên xô vào thời gian đó.
Vào năm 1952 V. Lobanovxki bắt đầu vào học trường bóng đá số 1 nhờ HLV Nikolai Chaika, người đã phát hiện cầu thủ có năng khiếu này trong các trận bóng nhí. Ba năm sau, Valeri có mặt ở trường bóng đá trẻ Kiev, bốn năm sau nữa thì được mời vào Dinamo Kiev. Tất nhiên là thời gian đầu chỉ chơi dự bị cho đội bóng hay nhất Ucraina.
Lobanovxki hấp dẫn người xem bằng lối dắt bóng, khả năng làm đối phương bị lừa, những cú dốc biên trái và những quả đá phạt góc. Những quả phạt góc của cầu thủ Kiev này làm người xem ở Matxcowva, Tbilixi, Leningrad, Donhetsk, Erevan – và tất nhiên là cả ở Kiev nữa - thích thú. Các khán đài lúc đầu nín lặng, sau đó reo hò mỗi khi Lobanovxki cầm bóng đi về lá cờ phạt góc, đặt bóng, chạy lấy đà, điệu nghệ sút trái bóng sao cho hoặc trái bóng bất ngờ “lặn” vào góc gần hay lái vào góc xa khung thành. Oleg Vaxilevich rất nhiều lần nhảy cao đánh đầu ghi bàn thắng đẹp mắt từ những đường chuyền của Lobanovxki.
Những cú sút phạt góc “bản hãng” của V. Lobanovxki đã đóng một vai trò nhất định trong việc Dinamo Kiev đoạt ngôi vô địch năm 1961. Tất nhiên là chúng không có được ngay lập tức, lúc đầu chúng chỉ là các bảng tính trên giấy của chàng sinh viên Bách khoa 22 tuổi, sau đó là mỗi ngày hàng trăm đá tập quả phạt góc; nắng nóng, mưa lầy, tại cơ sở tập luyện ở Kiev hay ở các thành phố khác. Đối với quả phạt góc hay với bất cứ cái gì ông làm trong đời, Lobanovxki luôn quan tâm một cách đặc biệt chu đáo, tính toán cẩn thận từng bước một.
Lobanovxki may mắn gặp được những huấn luyện viên giỏi, những người từng huấn luyện ông ở Dinamo Kiev – Vachexlav Xolovev và Victor Maslov, Oleg Oshenhikov ở Thợ mỏ Donhetsk. Vào giữa những năm 60, huấn luyện viên xô viết nổi tiếng Maslov, người mà Lobannovski vẫn gọi là “trời sinh”, đã phát huy thành công vô địch của Xolovev, người đã đưa V. Lobanovski vào đội hình chính. Lobanovski cho rằng: “Maslov đặc biệt nhạy cảm với những cái mới trong bóng đá, ông vượt trội nhờ nhiều phát kiến chiến thuật cũng như những cách tân trong quá trình tập luyện, những cái mà sau này chúng ta thán phục tiếp thu từ nước ngoài song lại quên rằng những cái đó chúng ta cũng đã từng có nhưng không được hiểu và đánh giá một cách xứng đáng. Ví dụ sơ đồ chiến thuật dùng 4 tiền vệ thì Maslov đã nhiều lần áp dụng từ rất lâu trước khi sơ đồ đó “lên tiếng” trong lối chơi của người Anh tại giải vô địch thế giới 1966.
Lobanovski từng tranh luận với Maslov, người muốn xác định cho cầu thủ những chức năng mới, khác với những chức năng cầu thủ thường thực hiện. Người tiền đạo đội Dinamo Kiev tin vào sự đúng đắn của mình, nhưng cùng với năm tháng, anh hiểu ra rằng cái đúng của người thầy Maslov cao hơn nhiều so với cái đúng của người cầu thủ trong anh.
Với tư cách cầu thủ Lobanovski chơi trong các giải vô địch Liên xô 253 trận, ghi 71 bàn thắng. Từ 1957 đên 1964 ông chơi cho Dinamo Kiev (144 trận, 42 bàn thắng), từ 1965 đến tháng 3 năm 1967 cho “Người Hắc hải” Odetsa (59 và 19), từ tháng 3 năm 1967 đến 6 năm 1968 cho “Thợ mỏ” Donhétsk (50 và 14)...(lược bỏ - ND)
Ở tuổi 29, Lobanovski bắt đầu huấn luyện đội hạng nhất “Dnhepr“ (Dnhepropetrovsk), đưa đội lên ngoại hạng và chiếm ngay vị trí số 6. Bước nhảy vọt bất ngờ của người huấn luyện viên trẻ đã làm cho những người lãnh đạo chịu trách nhiệm về Dinamo - đội bóng tốt nhất của Ucraina phải quan tâm. Tháng 10 năm 1973, Lobannovski được gọi về Kiev. Ông tưởng đó là về họp hành gì đó và rất mừng là sẽ được dạo chơi quanh thành phố mùa thu mà ông ít khi có dịp ghé qua, thành phố mà ông luôn nhớ dù đang ở bất kỳ đâu. “Từ lâu chúng tôi theo dõi công việc của anh ở Dnhepropetrovsk và nay đề nghị anh lãnh đạo đội Dinamo Kiev” - người ta nói với anh như vậy. Ông gọi điện cho Oleg Bazilevich, người đồng đội một thời ở Dinamo, người cùng đồng chí hướng trong công tác huấn luyện và hiện đang làm việc ở “Thợ mỏ” về cùng làm việc với mình.
Bao giờ người ta cũng đòi hỏi và mong đợi Dinamo Kiev thắng. “Cặp” Lobanovski-Bazilevich sau 2 năm rưỡi đã bắt đầu cho chiến thắng. Hai ông nghiêm túc tuân thủ quy trình huấn luyện được thiết kế đặc biệt, thay đổi cơ bản tính chất tiến hành các hoạt động thi đấu, và dẫn đầu một hướng mới trong bóng đá.
Năm 1975 Dinamo Kiev trở thành đội bóng xô viết đầu tiên giành được một giải châu Âu danh giá - Cúp các đội đoạt cúp, và sau đó là Siêu Cup, thắng cả hai trận trước Bavaria... Các cầu thủ cùng huấn luyện viên của mình là nòng cột của đội tuyển Liên xô.
Sang năm sau, 1976, Dinamo Koev “chỉ” lọt được vào vóng tứ kết Cúp C1...
“Các nguyên lý không bao giờ thay đổi, chúng chỉ hoàn thiện thêm”. Lobanovski, người đã mấy chục năm nằm trong số các HLV giỏi nhất thế giới đã nói như vậy. Bóng đá Ý gọi ông là “Đại tá”, Đức thì gọi là “Tướng” để nhấn mạnh sự kính trọng đối với các đội bóng do Lobanovski dẫn dắt. Đồng nghiệp theo dõi sát sao công việc của ông. Nhiều HLV Ý hoàn toàn có thể nói rằng họ trưởng thành “nhờ Lobanovski”. Vào cuối thu năm 1967, một đoàn rất đông các HLV Nga đi thăm tìm hiểu một số CLB Ý như Milan, Roma, Juventus. Marchello Lippi dẫn dắt Juve lúc đó nói: “Tôi hiểu sự quan tâm của các bạn đến công tác huấn luyện của chúng tôi nhưng chính chúng tôi đã từng học được rất nhiều ở nơi mà từ đó các bạn đến, chúng tôi đã đặc biệt quan tâm đến những gì mà Valeri Lobanovxki đã làm ở Dinamo Kiev và ở đội tuyển Liên xô”.
(còn tiếp)