Đứng vững đến cùng!

4.
Tuyết tan nhanh. Ở vùng châu Âu này tuyết ít khi đọng lại lâu. Nhiệt kế chỉ năm độ dương và không khí đã mang hương vị mùa xuân. Còn ở Mát-xcơ-va chỉ vào đầu tháng Tư hoặc khi mùa xuân đến mới có những ngày nắng ấm như hôm nay. Thế ở đây đang tháng Mười hai mà trời đã ấm áp thế này, mặc dầu ra đường vẫn phải khoác áo măng-tô mỏng.
Những đám mây trắng xốp, mịn màng trông giống như những chùm váng sữa ngon lành, đang bồng bềnh trên bầu trời xanh biếc vượt qua các mái nhà nhọn hình tháp nhan nhản khắp trong thành phố. Nhìn những chùm mây đó, Ma-ri-na chợt có ý nghĩ ngồ ngộ thầm so sánh chúng với những lớp váng sữa. Trời hôm nay nắng ấm. Không hiểu sao Ma-ri-na lại chợt nghĩ đến những cốc kem xốp. Ở Mát-xcơ-va, mẹ chị ít khi làm món kem sữa trong các bữa ăn gia đình và thậm chí Ma-ri-na chẳng chú ý gì đến cái món ăn ngon lành ngọt mát làm bằng váng sữa ấy. Nhưng ở đây, ở nước Bỉ này chị rất ngạc nhiên thấy hầu như các món ăn nào cũng đều có váng kem sữa ngọt pha vào, nó được đánh tơi xốp nổi lên như những nắm tuyết nhỏ bỏ vào miệng là tan ngay. Họ cho món kem ngọt này vào bánh, phết lên trên đĩa pho-mát tươi, cho vào nước bột quả và các loại bánh khác. Thật buồn cười khi thấy trên bàn ăn lại được bày nổi bật lên một liễn nhỏ kem sữa xốp tơi, cao vồng lên giữa các bát chè bột quả. Ma-ri-na làm quen khá nhanh với món ăn lạ này và đã thành thường lệ, những lúc rỗi rãi cho phép, chị đều vào hiệu giải khát gọi tách cà phê cùng với món kem sữa mát dịu.
Từ tầng bốn ngôi nhà này có thể nhìn rõ mọi cảnh tượng trong ngõ hẹp. Hiếm hoi có được những phút mặt trời chiếu thẳng góc với mái nhà, hắt những tia nắng vàng rực rỡ lên mặt tường, đùa dỡn với những ô cửa kính dài, long lanh lóe sáng. Một làn hơi nước mỏng đang bốc trên mặt đường và tan biến đi trong ánh nắng chan hòa.
Ngõ nhỏ lúc này đang náo nhiệt. Các chú học trò cặp đeo sau lưng đang đùa nghịch với nhau, đá những chiếc vỏ đồ hộp kêu vang mặt đường. Trước cổng nhà các cụ già đang túm tụm sưởi nắng, chuyện trò gì đó với nhau. Bên kia vỉa hè đầy đủ các gia đình: ông bố già nua, cao gầy râu cạo tươm tất và cạnh đấy là bà vợ, một cụ bà lưng đã còng vì năm tháng cuộc đời tần tảo làm ăn, hai cô con gái hay con dâu cùng ba đứa trẻ sàn sàn như nhau hai trai, một gái. Qua quần áo cũng biết được gia đình này thuộc loại nghèo…
Ma-ri-na muốn hòa vào đám người đang sưởi nẳng đó vì hầu như suốt ngày chị chỉ quanh quẩn trong phòng với bốn bức tường gỗ chật hẹp-hết nhận tin, giải mã lại đọc sách báo, đăm chiêu tư lự với nỗi thấp thỏm của một con người hoạt động bí mật. Hết những việc đó là công việc bếp núc muôn thuở. Cả phòng độc nhất chỉ có một chiếc bàn kê cạnh cửa sổ vừa là bàn viết, bàn ăn, làm bếp và bàn đọc sách… Chiếc giường đặt sát tường đối diện với cửa sổ chiếm mất một phần tư diện tích căn phòng. Bên cạnh cửa lớn là chiếc tủ quần áo ẩn trong tường, tiện lợi đến mức khi mở cửa cũng không thấy tủ được. Ngoài quần áo chị còn cất giấu điện đài và pin dự trữ vào đấy.
Chị tự nấu ăn lấy. Chị biết làm một số món ăn vừa ngon vừa rẻ. Những tháng qua chị sống khá chật vật. Chị buộc phải dè xẻn, tiết kiệm. Thức ăn chính thường chỉ là món cháo kiều mạch, xúp đậu, khoai tây rán hoặc luộc và sữa với giá rẻ. Lúc nào nhận được tiền chị mới cho phép mình vào quán cà phê hoặc mua hẳn một buồng chuối. Quanh năm cả cùng thuộc địa châu Phi đã cung cấp cho nước Bỉ nhiều loại quả ngon lành. Không vào thì thôi, chứ đã bước vào cửa hàng mắt cứ hoa lên. Những trái cam to vàng rực, những rọ chanh xanh tươi mọng nước, hàng chồng dưa bở tròn trĩnh, bóng bẩy, những quả dưa màu nâu khô đét và từng đống dứa vàng rộm. Cuối cùng là xoài và cơ Ma-ri-na nào là chuối tiêu. Mọi thứ đều chất đống trong các dãy quầy lớn, chỉ có điều người mua thưa thớt vì như Ma-ri-na thường hay nói “giá như cắt cổ”.
Nhưng cuộc sống vẫn là cuộc sống. Tuy phải dè xẻn chi tiêu, có lúc đã từng phải ăn bánh mì với nước chè nhưng cũng có lúc Ma-ri-na phải cho phép mình nếm những loại quả hấp dẫn kia. Dứa thì chị không thích lắm nhưng còn chuối thì khỏi phải nói. Đó là loại quả hình như mọi phụ nữ Bỉ đều ưa thích. Vả lại so với các loại quả khác thì giá chuối cũng tạm được như chị vẫn tự an ủi mỗi khi định mua vì “nó hợp với túi tiền”. Trên bàn ăn của Ma-ri-na thường có chuối tuy không phải là thường xuyên. Ma-ri-na đã hiểu được khá nhanh các đặc điểm của hàng tư nhân. Cửa hàng nào càng sang trọng, trưng bày kiểu cách thì giá hàng ở đấy càng cao. Nhưng cũng ngay trên một đường phố thôi nếu có cửa hàng khác gỉan dị hơn tuy cũng bán loại hàng ấy nhưng giá lại rẻ hơn nhiều vì không cần trưng bày quảng cáo cầu kỳ. Các hiệu nhỏ này thường có giá cả niêm yết những loại hàng hạ giá. Hàng quả không thể để lâu nên dù đắt dù rẻ, đến hạn chín nục thì các vị chủ hiệu đều buộc lòng bán rẻ đi. Thế là Ma-ri-na đành tận dụng cái quy luật này vậy.
 
Ở thành phố lớn, luôn luôn có nhiều thứ cám dỗ, quyến rũ và quả thật khó sống được nếu trong ví bạn chỉ có những khoản tiền nhất định để chi tiêu những việc thiết thân. Riêng với phụ nữ thì sự chịu đựng day dứt đó lại tăng lên gấp hai lần vì mọi thứ hàng hóa cám dỗ, đẹp đẽ, lịch thiệp, tiện lợi luôn được trưng bày ra trước mắt như chiếc kính nhiều màu sặc sỡ. Nào là giầy dép, bít tất, mùi-soa, áo quần đủ kiểu, đủ loại, tất tay, tất chân, nước hoa, túi đeo, đồ lót hẫp dẫn và bao thứ linh tinh khác… Có thể giờ đây họ lắc đầu xua tay không mua chúng với lý do biện bạch là đang chiến tranh, ăn mặc tiềm tiệm như thế này cũng được, có nhiều lúc đi ngang qua Ma-ri-na cố làm ra vẻ như không nhìn thấy những hàng hóa trưng bày bóng lộn này, cứ phớt lờ chúng đi. Nhưng cũng có lúc dù chỉ liếc qua và với cặp mắt bao quát của phụ nữ thì lại dễ nhớ những thứ mà mình ưa thích. Rồi về sau, khi ngồi một mình trong phòng giữa những buổi chiều ảm đạm dài lê thê hoặc lúc đứng trước tấm gương tuy không chủ tâm nhưng bạn lại thoáng ước ao được thử chiếc váy hoặc chiếc măng-tô vừa nhìn thấy ngoài cửa hiệu, được thử chiếc săng-đay len hợp với sở thích để tự hỏi xem nó “có vừa với khổ người mình không”.
Ma-ri-na cũng không tách khỏi những ước mơ nhỏ nhoi đó. Chị sống một mình, người quen biết rấn hạn chế, những lúc nhàn rỗi chị quanh quẩn trong căn phòng nhỏ mà chị vẫn tự gọi đùa là-“tu viện nữ” nhưng trí tưởng tượng của chị lại không có giới hạn. Chị vẫn thầm đo, ướm thử và ước ao rằng, biết đâu lại chả có người nào đó đến tặng chị và dĩ nhiên chị sẽ không từ chối, rằng sẽ… Nhưng chẳng có ai đến tặng chị cả hoặc như người ta thường nói điều ước muốn không phải lúc nào cũng có thể thành hiện thực. Chị sống rất tiết kiệm, nếu không nói là nghèo nàn, song cái nghèo này lại phải giấu nó đi, phải làm mọi cách sao cho vẻ bề ngoài cũng phải lịch sự, tinh tươm để người ta nhìn vào cũng có thể biết đây là một phụ nữ Bỉ trẻ tuổi, bình thường. Những loại phụ nữ này khá đông trong thành phố. Nhịn tất cả, phải dè xẻn chi tiêu nhưng muốn gì thì muốn, quần áo vẫn phải lịch sự. Bộ cánh phụ nữ-đó không phải chỉ là đồ trang sức bề ngoài mà nó còn là tấm danh thiế, tấm hộ chiếu của cuộc đời, là “vũ khí” của họ nữa. Ngạn ngữ Nga có câu “trông mặt mà bắt hình dong’ vẫn còn là câu khá hợp thừi ở thành phố phương Tây này. Trước chuyến đi “ccông tác dài hạn”, ở Mát-xcơ-va người ta đã nói kỹ với chị điều này. Và ngay những tuần lễ đầu tiên ở Bỉ chị cũng đã khẳng định được điều này. Tuy là thành phố bị chiếm đóng, cuộc sống có nhiều khó khăn, phải đánh vật với giá cả luôn tăng vọt, nhưng phụ nữ vẫn là phụ nữ. Ma-ri-na buộc phải giữ mức bình thường, theo dõi những thay đổi của mốt thời trang, vẫn phải lo lắng đến chuyện may mặc, vẫn phải chú ý sửa sang mái tóc cho hợp…
Ma-ri-na đi tàu điện đến quảng trường Pô-đơ Na-min-rơ. Đối diện ngay trước bến tàu điện là tòa nhà đồ sộ quét vôi xám của bộ tư lệnh quân chiếm đóng Đức. Lá cờ phát-xít với hình chữ thập ngoặc đen viền trắng ở giữa đang phất phơ Lây-man lắt trên cái cán dài ngay trên vòm cổng lớn. Bọn sĩ quan và binh lính Đức thường hay tụ tập thành từng nhóm riêng trước cổng tòa nhà này, đặc biệt trong những ngày nắng đẹp. Chúng không cần chú ý xung quanh mà cốt để chỉ trỏ chọc ghẹo những người đi đường, cười nói hô hố với nhau.
Nhiều người dân Brúc-xen đều cố ý tránh xa ngôi nhà này cho dù phải đi vòng quan hẳn một đường phố xa hơn, đặc biệt sau ngày xảy ra cuộc hành hình một phụ nữ yêu nước. Nhưng với Ma-ri-na lại khác, chị không thích đi tránh, và mỗi lần phải qua đây chị đều ngẩng cao đầu, mắt nhìn thẳng không thèm ngó ngàng để ý gì đến lũ quan lính phát-xít thường hay dán mắt vào tấm thân cân đối hấp dẫn của người phụ nữ Bỉ này. Nhưng chị vẫn nhìn, vẫn nghe, vẫn thấy tất cả…
 
Hôm nay cũng vậy. Khi qua gần đấy chị chợt giật mình vì có hai tên sĩ quan Đức, khá trẻ, chuếnh choáng say, sán đên bên chị rồi kèm hai bên lải nhải, mời chị đi ăn hiệu.
Người đẹp hiểu cho, hãy ban cho chúng tôi một vinh hạnh, chúng tôi không quen người bạn gái nào ở cái thành phố tuyệt diệu này. Hôm nay cậu Hen-rích lại có hai niềm vui-ngày sinh cậu ta và đồng thời hắn được thưởng huân chương chữ thập sắt.
-Xin lỗi, tôi không hiểu. Ma-ri-na lạnh lùng đáp lại bằng tiếng Pháp và cố rảo bước.
Một tên, có lẽ là gã có tên Hen-rích liền cố phun ra những lời tán tỉnh bay bướm rẻ tiền bằng tiếng Pháp nhưng thằng bạn say rượu sướt mướt của nó cứ cố ngăn cản, rồi buông ra một tràng tiếng Đức thô lỗ:
-Thôi, đừng tán nữa. Nào con con cá măng ngon lành của anh. Phải biết là chúng ta đã cúi mình xuống mời cô em đấy nhé!
Ma-ri-na nóng mặt nhưng cố kìm mình: “Hãy bình tĩnh nào, hãy cố bình tĩnh nào. Cứ điếc như không hiểu chúng nó nói gì.-Chị tự ra lệnh cho mình.-Cái chính là không thèm đáp chuyện với chúng!”.
-Phơ-rích, cậu không hiểu biết một tí gì cả, đồ quỷ ạ.-Thằng Hen-rích gạt hắn ra và cố làm ra vẻ lịch sự.-Chỉ cần một đêm với người phụ nữ tuyệt vời này là đủ nhớ suốt đời, hiểu chứ.
Ma-ri-na vẫn phớt lờ, lạnh lùng rảo bước thầm hỏi: “Chúng nó có biết sự kiện ở Mát-xcơ-va không nhỉ?”.
Không một tờ báo nào ở Béc-lin hay ở Brúc-xen được phép đăng một lời nào về thất bại nhục nhã của bọn phát-xít ở Mát-xcơ-va cả. Nhưng có thể nói là hầu như mọi người dân Bỉ đều biết rõ thắng lợi của quân Nga qua tờ báo bí mật “Tiếng nói Mát-xcơ-va” của lực lượng kháng chiến Bỉ phát hành ở Brúc-xen và một số địa phương.
Vượt nhanh qua quảng trường, thoát khỏi hai tên sĩ quan say rượu, Ma-ri-na lẩn ngay vào dòng người đông đúc trên đường phố lớn. Mặt trời vừa nhô ra khỏi đám mây, tỏa những tia nắng ấm dịu vàng rực lên vòm nhà băng quốc gia, lên những cung điện lộng lẫy, lên các khách sạn và đường phố rộng đẹp của Brúc-xen. Những chiếc xe hơi thuôn dài như tàu thủy lao vun vút ngược xuôi theo đường phố lớn, trong xe bệ vệ các quan chức cùng phu nhân ăn vận sang trọng và vênh váo, các tiểu thư kiêu kỳ đài các vùi kín trong những chiếc áo lông Pa-ri hợp thời trang. Một con chó nhỏ lông xù dương đôi mắt tròn to, thè chiếc lưỡi đỏ hỏn ra ngồi gọn trong vòng tay một phu nhân, lơ đãng nhìn người đi đường.
Ma-ri-na đã đi vòng tới hai lượt dọc theo phố lớn này để như người ta nói, ngắm xem những người đi đường, ngắm nhìn những quầy tủ hàng sang trọng và cũng để cho thiên hạ ngắm mình nữa. Chị muốn đi xem phim nhưng lại bỏ ngay ý định này khi nhớ lại lần trước chị bị hai tên lính Đức say rượu thô lỗ xán lại tán tỉnh, thế nhưng khán giả xung quanh cứ phải câm lặng như không có chuyện gì xảy ra.
Chị đang muốn rẽ vào hiệu cà phê bên kia đường để nghỉ chân chốc lát. Bỗng nhiên chị thấy phía xa trước mặt, sau những mái nhà cao nhọn kia một cột khói lớn, đen ngòm đang ùn ùn bốc lên kèm theo những tiếng nổ trầm trầm. Mọi người trên đường phố đèu dừng lại nhìn về cột khói dựng thành hình chiếc nấm khổng lồ giờ đây đang biến thành màu da cam. Nhưng rồi mọi người, như sực tỉnh, lại vội vàng rảo bước, tránh sang các lối rẽ. Đường phố lớn trong chốc lát quang hẳn bóng người.
-Nhà máy hóa chất! Nhà máy hóa chất bị cháy!-một thanh niên để đầu tóc bù xù vừa phóng xe đạp như bay trên đường phố vừa la lên lanh lảnh.
Chỉ vài ba phút sau, bốn chiếc xe tải chở đầy lính Đức súng lăm lăm, rú còi thất thanh, phóng như bay về hướng đám cháy tất cả những ô-tô cùng chiều cuống cuồng dạt ra hai bên đường…
Ma-ri-na nhìn theo bóng những chiếc xe hớt hải đó, bỗng dưng mỉm cười: “Nhanh lên, phóng nhanh nữa lên lũ phát-xít.-Đây là lời chào những người yêu nước Bỉ gửi Mát-xcơ-va”.
Hiệu cà phê đông người, náo nhiệt vui vẻ. Tiếng nhạc mời chào như rộn rã hơn. Ma-ri-na tươi cười chọn một chiếc bàn bên cửa sổ. Chị gọi một tách cà phê và cốc kem sữa. Lát sau cô hầu bàn duyên dáng đã đặt trước mặt chị những thứ được gọi. Nhưng Ma-ri-na chưa kịp thưởng thức ngụm cà phê thơm ngào ngạt thì một giọng đàn ông ngọt ngào, lịch thiệp cất lên trên đầu:
-Nếu cô không phản đối, tôi xin phép được ngồi ở chiếc ghế trống này.
Chị vội ngẩng nhìn, trước mặt chị là một viên sĩ quan không quân Đức thân hình cao, hơi gầy, nét mặt thanh tú, mái tóc vàng tơ lịch thiệp. Anh ta mặc bộ quân phục không quân màu xanh thẫm. Ma-ri-na không thấy vẻ kênh kiệu đáng ghét của những kẻ tự xưng là người chiến thắng mà chỉ thấy vẻ bối rối, lúng túng của một khuôn mặt trẻ trung, trí thức.
-Cô không nói, nhưng tôi đọc được câu trả lời trong ánh mắt của cô… Nó thể hiẹn rõ lắm!…
Anh ta nói có vẻ chân thật và chính điều đó làm Ma-ri-na chú ý. Chị đáp lại, giọng bình thản hơi pha chút mỉa mai:
-Có lẽ ông là người đầu tiên trong số những người của các ông chú ý đến những biểu hiện của đôi mắt.
-Tôi đồng ý với sự đánh giá của cô. Như vậy là cô không phản đối chứ?
-Ghế còn trống, ông cứ việc ngồi. Tôi đâu dám… Ma-ri-na thờ ơ và đanh đá trả lời.
-Ồ, nếu cô thấy phiền thì tôi có thể tìm chỗ khác.
-Đối với tôi, sao cũng được.
-Vậy thì tôi cứ ngồi đây vậy. Xin cảm ơn cô.-Viên sĩ quan kéo ghế ngồi đối diện với Ma-ri-na và thoáng một mùi nước hoa nam giới tỏa ra.
-Xin phép được mời cô một ly cô nhắc!
Viên sĩ quan đặt lên bàn tờ báo và cuốn sách dày, gọi cô phục vụ đặt hai ly cô nhắc và một ly cà phê. Ma-ri-na liếc nhìn cuốn sách “Gớt-tập một”.
-Có thể hỏi cô một câu được không?-Viên sĩ quan lại nhỏ nhẹ, lịch lãm.
-Xin mời.-Ma-ri-na bắt đầu thấy thú vị, trước trò chơi vui vẻ này.-Ông chưa thấy đủ à, ông trung úy. Rồi chị nghĩ nhanh: Lúc nào mày mới để lộ nguyên hình ra. Bây giờ hay lát nữa sau khi đã ngấm rượu?
-Xin cô nói thật, vì sao phụ nữ Bỉ lại có thái độ khinh ghét những người Đức chúng tôi như vậy?
“Bắt đầu như sách, nhưng cũ rồi”,-Ma-ri-na thầm nhận xét.
-Tôi chỉ có thể trả lời ông bằng câu hỏi ngược lại. Chỉ là một câu hỏi dễ hiểu thôi.-Ma-ri-na nói.-Chả lẽ, sau khi các ông tự cho mình cái quyền chiếm đóng nước chúng tôi rồi các ông lại tự cho mình cái quyền nữa là bắt buộc mọi người phụ nữ Bỉ đều phải dễ bảo và phải tỏ thái độ kính trọng các ông chăng?
-Xin lỗi, câu hỏi và trả lời của cô gay gắt quá đấy và có những nhận định quá sớm đấy.
-Tôi nói như vậy là xuất phát từ thực tế và kinh nghiệm riêng thôi.-Ma-ri-na vẫn điềm tĩnh.-Ban ngày không nên ra phố nếu không có việc cần thiết còn ban đêm thì khỏi phải nói.
-Tôi xin cô hãy thư lỗi cho tất cả những người nào đó đã có lúc làm cho cô cáu giận, phiền lòng,-viên phi công nói, hơi cúi đầu làm mái tóc xoăn của anh rủ xuống trán.-Nhưng không phải tất cả người Đức chúng tôi đều đáng ghét cả đâu.
-Cảm ơn ông, tôi đã hiểu và đã có kinh nghiệm riêng.
-Có thể cô chỉ mới nhìn thấy một vài chục, một vài trăm và thậm chí một vài ngàn người Đức. Nhưng nước Đức chúng tôi có hàng triệu người. Đó là những con người hoàn toàn khác nhau, cũng có lương tâm, cũng biết suy nghĩ như tất cả mọi con người trên trái đất này. Cũng có những người độc chiến sĩ, cũng có những người trí thức có lương tâm, có kẻ láo xược càn rỡ, nhưng cũng có những người hiền lành dịu dàng.-Anh ta cầm chai cô nhắc.-Xin mời cô một ly nữa?
-Toi không quen uống rượu nhiều đâu.-Ma-ri-na đưa tay ngăn anh ta lại.
-Tôi hiểu, tôi hiểu. Bây giờ cô sẽ đứng lên và bỏ đi để cho mọi người xung quanh sẽ không nói được là cô đã đi chơi, đã uống rượu với sĩ quan Đức. Tôi đoán đúng ý nghĩ của cô chứ?…
Phải, hắn đã đọc được những ý nghĩ của mình. Thật kỳ lạ. Chị hơi mỉm cười và trả lời luôn.
-Ông đoán đúng đấy. Tôi phải đi, vì đã đến lúc phải đi.
Viên sĩ quan cảm ơn Ma-ri-na đã cho phép gã ngồi nói chuyện và giở tờ báo ra. Cử chỉ của anh ta như muốn nói rằng, anh ta sẵn sàng đón nhận sự ác cảm của chị.
 
Nhưng Ma-ri-na bỗng chú ý đến tờ báo: một khuôn mặt phụ nữ có vẻ quen thuộc đang nhìn thẳng vào chị. Nét mặt chị quen thuộc đến lạ lùng. Ma-ri-na nhìn chằm chằm vào bức ảnh. Mái tóc bạch kim rẽ ngôi thẳng để lộ vầng trán cao bướng bỉnh. Đôi mắt mở to có vẻ sợ hãi hay căm giận thì đúng hơn, đang chằm chằm nhìn Ma-ri-na. Cặp môi đầy đặn rõ từng nét cong, mím chặt bộc lộ nét oán hờn và đau khổ. “Mình đã gặp người phụ nữ này”. Đó là lần đầu tiên Ma-ri-na khẳng định. Nhưng ở đâu, vào lúc nào? Chỉ lúc này chị mới để ý tới dòng chữ in đậm nét chạy suốt cả trang báo, nhưng tờ báo gấp nên chị chỉ nhìn thấy phần cuối “… tội phạm đã bị bắt”. Ma-ri-na lại nhìn bức ảnh cố tìm ra mối liên hệ giữa người phụ nữ với đầu đề bài báo. Đầu đề nói về một vụ phạm tội nào đó. Ma-ri-na hiểu ngay điều này, nhưng bức chân dung nói lên cái gì. Sao lại có ảnh người phụ nữ này ở đây? Vụ ám sát nào? Chúng đã bắt được ai?
Nếu không phải đứng dậy thì các câu hỏi này sẽ được giải đáp ngay, nhưng muốn vậy thì lại phải tiếp chuyện viên sĩ quan Đức đang làm ra vẻ chăm chú đọc tờ báo. Ma-ri-na không muốn nói lại câu chuyện đã chấm dứt. Chị hiểu, một câu hỏi tiếp theo của chị sẽ đáng giá như thế nào. Viên sĩ quan sẽ tỏ vẻ đắc thắng và hắn sẽ nở nụ cười lịch thiệp nhất rồi bắt đầu tán tỉnh. Lúc ấy khó mà dứt được. Mình đã gặp người phụ nữ này ở đâu nhỉ? Ma-ri-na cương quyết đứng dậy.
-Xin chào ông.
-Cảm ơn nhã ý của cô.
Chị bước nhanh ra hiệu cà phê. Ngày tháng chạp ngắn ngủi đã tan ánh nắng.
Ma-ri-na nhìn quanh tìm chú bé bán báo. Phía trái hiệu cà phê một người tàn tật, cụt chân phải đang ôm trong tay cả một chồng báo.
-Tin giờ chót đây! Người phụ nữ ấy đã ra đầu thú trước bộ chỉ huy ủy ban quân quản thành phố! Năm mươi con tin đã được trả tự do!…
Ma-ri-na mua một tờ và vội giở ra xem lại hình ảnh người phụ nữ bí hiểm. Chị chợt nhớ và nhận ra, chị đã gặp con người này trong một quán cà phê. Đúng là buổi gặp gỡ ngắn ngủi và tình cờ. Không lẽ lại là chị ta? Hôm ấy Ma-ri-na cho rằng chị ta là một kẻ khiêu khích. Hoàn cảnh đặc biệt khién chị phải luôn luôn đề phòng, cảnh giác, khi có một người lạ mặt lại tự xưng tên mình cũng là Ma-ri-na.
Ma-ri-na muốn dừng lại đọc kỹ hơn bài báo nhưng chị không dám làm vì hiểu rằng ở đây, phụ nữ thường không có thói quen tò mò các vấn đề chính trị. Chị chưa gặp một người phụ nữ Bỉ nào đọc báo ngoài đường phố cả. Không cần thiết gây nên sự chú ý của mọi người đối với mình. Chị đành cất tờ báo vào túi và vội về nhà.
Ngồi trên tàu điện, suốt dọc đường chị toàn ngoảnh nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng tâm trí lại cố nhớ lại những việc đã xảy ra, nghĩ về ngày thứ bảy ẩm ướt hôm ấy lúc tình cờ gặp người phụ nữ có cái tên trùng với tên chị. Bên tai Ma-ri-na như còn văng vẳng những lời nói căm giận uất ức của chị ta. “Chả lẽ ở Brúc-xen này không có lấy một người anh hùng nào đó có thể khuấy động cái vũng lầy đông cứng của cuộc sống đầy nhục nhã này hay sao?”.
Chạy nhanh lên phòng tận gác tư, Ma-ri-na mở cửa bước vào phòng rồi khóa cửa lại, bật đèn run run mở rộng tờ báo ra. Chị đọc nhanh những dòng thông báo của bộ chỉ huy quân đội Đức:
“… Tên khủng bố Ma-ri-na Xa-phơ-rôn-nô-va, kẻ đã sát hại viên sĩ quan trợ lý ngài tư lệnh ủy ban quân quản Đức đã phải hành phục chính quyền, thú nhận hết tội lỗi của mình.
Đây là lần phạm tội thứ hai, cô ta cố tình giết sĩ quan Đức. Lần này là một đại úy quân đội quốc trưởng…
“Ma-ri-na Xa-phơ-rôn-nô-va đã tấn công vào ông đại úy và đã đâm chết ông ta bằng một nhát dao trúng lưng ngay giữa phố lớn…
… Đội tuần tra đã kịp thời chạy đến khi nghe tiếng kêu rú của ngài đại úy đã bắt giữ ngay tên nữ khủng bố “đỏ”…
Kẻ khủng bố đã bị giải về bộ chỉ huy và đã nhận hết tội lỗi của mình.
Phía dưới bản thông báo in bằng chữ đậm “Năm mươi con tin thành phố Brúc-xen đã được trả tự do sáng nay”.
Ma-ri-na nhìn tấm ảnh trên tờ báo, nước mắt ứa ra. Chị đưa tay khẽ vuốt vuốt một cách trìu mến tấm ảnh người bạn gái dũng cảm rồi gấp tờ báo lại. Như vậy là ý thức, lòng căm thù đã biến thành hành động.
-Hãy tha lỗi cho tôi, người bạn gái cùng tên nhé. Hãy tha lỗi cho tôi,-Ma-ri-na thì thầm.
 
5.

Mi-cla-sốp đi nhờ được chiếc xe quân sự cùng chiều tới quảng trường Pu-skin. Đến nơi, anh cảm ơn lái xe rồi nhảy ào xuống mặt đường nham nhở tuyết do các loại bánh xe cào nghiến. Buổi sáng mùa đông tuyệt đẹp, mặt trời dìu dịu, lấp lánh như chiếc huy chương chiến trận treo lơ lửng trên bầu trời xanh trong, chiếu những tia nắng vàng nhạt lên thành phố phủ đầy tuyết. Các mái nhà, cành cây trụi lá, những quả không khí cầu phòng không dài thon thả, thả lơ lửng trong không trung Mát-xcơ-va, kéo căng sợi dây cáp cũng lấp lánh ánh nắng. Sau những ngày tháng Lê-nin-grát bị phong tỏa nặng nề, sống trong những hầm tuyết, đi trên những phố xá ngập tuyết vắng lặng, chứng kiến những trận oanh tạc bắn phá tàn ác, khốc liệt và với những ngày đêm căng thẳng thiếu ngủ, giờ đây Mi-cla-sốp có vẻ bàng hoàng không tin là mình lại được ở Mát-xcơ-va thân yêu và càng thấy không khí hậu phương vững chắc. Ở đây tuy vẫn có không khí chiến tranh nhưng dầu sao mọi người đi lại vẫn có vẻ đường hoàng hơn, không có cái không khí hốt hoảng lo sợ mối nguy hiểm bất chợt ấp đến, xe cộ vẫn nối đuôi nhau nườm nượp, và thú vị nhất vẫn vang lên tiếng chuông tàu điện leng keng quen thuộc…
Nhảy bám lên chiếc tàu điện vừa chạy tới, Mi-cla-sốp bước vào lối đứng ngay cửa ra vào. Tàu đang xuôi theo đại lộ Tơ-ven-xki. Trên đại lộ, giữa các hàng cây, bọn trẻ đang chơi tíu tít như bầy chim sẻ, chúng đang thi nhau đắp những pháo đài bằng tuyết. Một bà già, dắt con chó nhỏ lông xù che kín cả mắt, lững thững đi dạo. Một anh lính trẻ, tay quấn băng đang ngồi cùng cô gái, cả hai đang tranh nhau nói gì đó và cùng phá lên cười. Cuộc sống chiến tranh và cuộc sống bình thường của thành phố lớn vẫn song song diễn ra khẩn trương và êm ả.
Chiếc tàu điện cũ kỹ lăn bánh chạy dài theo đại lộ rực ánh nắng, xích nối kêu leng keng reo vui. Mi-cla-sốp nhìn vào buồng lái. Cô gái lái tàu khá trẻ có đôi má bầu bĩnh đỏ ửng, đôi mắt lanh lẹn, khuôn mặt ửng hồng trong chiếc khăn trùm bằng lông thú, một chùm tóc màu sáng ló ra dưới khăn. Cô chăm chú nhìn phía trước, đôi mắt hơi nheo lại, tay nắm chắc cần lái.
Tàu vừa đến gần cổng Nhi-kít-xki, Mi-cla-sốp đã nhảy xuống. Anh giơ tay vẫy chào cô lái đang ngoái lại nhìn với vẻ trahc móc anh chàng vi phạm nội quy đi tàu. Trên quảng trường Nhi-kít-xki, dọc theo đài kỷ niệm Ti-mi-ri-dép là một dãy bao cát đè lên nhau tuyết phủ trắng xóa bao quanh một khẩu pháo phòng không bán tự động. Nòng pháo dài, lốm đốm tuyết trắng hếch lên bầu trời giá lạnh. Một anh lính trẻ và đăm chiêu tư lự trong chiếc áo da mới tinh, đi đôi ủng màu gio, đứng gác bên khẩu pháo. Lúc rẽ sang phố An-đéc-xen, để về nhà mìnhm Mi-cla-sốp thầm so sánh và lẩm bẩm: “Còn xa mới bằng cảnh gác ở hồ La-đô-ga. Thủ đô có khác!”.
Đôi chân dường như tự đưa Mi-cla-sốp bước lên có vẻ nhanh hơn. Anh cảm thấy nóng bức. Đây, ngã tư thời thơ ấu đây rồi. Thuở học sinh tay xách túi thường hay hẹn bọn bạn gặp nhau tại đây. Bọn con trai cũng hay phục bọn con gái ở đây để ném tuyết.
Mi-cla-sốp cố kìm nỗi xúc động đang tràn dâng đến nghẹn thở và rẽ vào chiếc cổng lớn quen thuộc. Anh chạy một mạch theo cầu thang có tay vịn bằng sắt lên tầng hai… Hít một hơi đầy lồng ngực, anh giơ tay ấn nút chuông điện. Lại ấn thêm một hơi dài nữa… Một lát sau, trong cánh cửa có tiếng dép lẹt xẹt. “Ai nhỉ? Mẹ? Hay là dì A-lếc-xan-đra?” Mi-cla-sốp hồi hộp đợi và đoán chừng.
 
Rồi cánh cửa từ từ mở và không phải là ai cả, mà là bác hàng xóm Ma-ri-na Xtê-pa-nốp-na ló đầu ra. Bác vẫn thế, không thay đổi là bao. Vẫn khuôn mặt hiền từ phúc hậu tuy nhiên đã nhiều nếp nhăn hơn, mái tóc màu nâu đồng xoăn tít, hai quầng mắt như béo hơn ra.
-Anh hỏi ai, anh bạn trẻ?
-Chào bác Ma-ri-na Xtê-pa-nốp-na…
-Xin lỗi, nhưng tôi không… Chẳng lẽ là I-go đấy ư? Bác run run ôm chầm lấy Mi-cla-sốp như ôm đứa con trai và cầm tay kéo anh vào phòng. Ôi cao hẳn lên thế này này. Phải cái hơi gầy đi! Sao ngoài mặt trận ăn uống khổ lắm phải không? Chán lắm hả?
Mi-cla-sốp cởi ba-lô, đặt lên chiếc bàn kê sát tường. Cửa phòng anh khoái ngoài bằng một ổ khóa to. Mi-cla-sốp nhớ là trước đây dì không bao giờ khóa ngoài cả. Như vậy có nghĩa là dì đi đâu vắng lâu. Phòng của mẹ cũng vậy. Căn phòng của thời thơ ấu và thanh niên, với cánh cửa cao bọc vải nhựa cũng lủng lẳng chiếc khóa to.
-I-go, cháu chờ một lúc. Chìa khóa bên phòng bác. Bác lấy ngay đây!-Bác Xtê-pa-nốp-na vừa nói vừa vừa đi vội về phòng mình. Có cả thư của mẹ cháu nữa đấy… Mẹ cháu vừa đi sơ tán với bệnh viện cách đây khoảng hai tuần. Theo mẹ cháu cho biết thì hiện giờ cả nhà cháu đang ở U-ran, thành phố I-giép-xcơ…
Mi-cla-sốp bước đến trước cửa phòng nhưng tần ngần không mở khóa. Anh sẽ làm gì, trong căn phòng trống trải này. Anh giữ chùm chìa khóa trong lòng bàn tay rồi quay lại phòng bác Ma-ri-na.
-Bác ạ, cháu tiện đường ghé quàng về nhà… Định vào thăm một lúc nhưng thôi vậy… Bác cho cháu gửi lại chùm chìa khóa. Buồng chiến sĩ có điện thoại không?
Mi-cla-sốp rút cuốn sổ tay trong túi ngực và quay số điện thoại mà đại tá I-lin-cốp ghi cho anh lúc ở Lê-nin-grát.
-Đại tá I-lin-cốp nghe đây,-trong ống nghe vang lên giọng nói ồm ồm.
-Báo cáo, tôi trung sĩ Mi-cla-sốp đã có mặt. Tôi đang ở Mát-xcơ-va.
-Nói rõ hơn. Mát-xcơ-va là ở đâu. Sân bay?
-Không, tôi đang ở nhà riêng, đường Nhi-kít-xki ạ.-Mi-cla-sốp nói số nhà và hướng dẫn lối vào.
-Được, tôi sẽ cho ô-tô đến đón anh. Chúng tôi đang đợi anh.
Bác Ma-ri-na nhìn Mi-cla-sốp vẻ phân vân muốn hỏi cho rõ ngọn ngành. Và khi Mi-cla-sốp vừa xuống khỏi cầu thang thì bác vội đến bên cửa sổ, ngó nhìn ra ngã tư và thấy chiếc xe ô-tô con màu đen đỗ xịch gần cổng. Người lái xe có vẻ ân cần bước xuống mở cửa xe cho anh hẳn hoi.
-Chà, chà, chẳng hiểu nổi nữa,-Bà Ma-ri-na thốt lên, chặc chặc lưỡi.-Có kể cho mọi người họ cũng không tin.
Khoảng một giờ sau, Mi-cla-sốp đã ngồi trong buồng làm việc của đại tá I-lin-cốp tận trên tầng bốn của tòa nhà cao tầng. Cuộc nói chuyện ngắn gọn.
-Sáng mai sẽ bắt đầu vào công việc, chuẩn bị ngay,-đại tá kết thúc.-Bây giờ anh cứ việc nghỉ ngơi cho khỏe. Muốn đi đâu thì báo trực bán xin xe đưa đi.
Mi-cla-sốp được bố trí ở ngay trong tòa nhà này. Lát sau anh được mời xuống nhà ăn trong tầng hầm. Mùi xúp và thịt rán tỏa ra thơm phức. Bác đầu bếp cầm phiếu ăn của Mi-cla-sốp, tò mò hỏi:
-Cậu bạn trẻ vừa ở đâu tới thế này?
-Tôi ấy à?-Mi-cla-sốp hỏi lại, tự nhiên thấy bụng đói cồn cào.-ở tận Lê-nin-grát tới.
Bác đầu bếp già lại nhìn anh vẻ tò mò, lạ lùng vì phiếu ăn của anh là loại dành cho cán bộ cao cấp. Nhưng bác chẳng nói gì vục chiếc muôi vào nồi, đổ đầy một đĩa xúp đậu hầm thịt thơm béo đặc sệt như cháo, rồi lại cho thêm ít thịt hầm nhừ. Xong đĩa thứ nhất, món thứ hai là mì xào, đổ thêm nước gia vị béo vàng. Món thứ ba là một miếng bít-tết vàng rộm. Cả ba món được bày trên đĩa sạch sẽ tinh tươm. Bác đặt xuống trước mặt Mi-cla-sốp, nói giọng thân mật:
-Ăn đi, anh bạn! Cố thanh toán cho gọn đấy nhé!…
 
Chương năm

1.
Van-te lái chiếc xe “Méc-xê-đéc” đi theo ngõ hẹp. Ma-ri-na Rúp-xô-va vẫn ở trong căn phòng cũ thuê ở tầng bốn ngôi nhà thứ năm kể từ đầu phố. Thậm chí cả buổi tối hôm thứ bảy nặng nề ấy sau khi đã may mắn chuyển được bộ điện đài đến vùng ngoại ô, Ma-ri-na vẫn quyết định cứ quay về “nhà cũ”. Tất nhiên tối hôm ấy họ đã liên lạc với Trung tâm tại địa điểm mới, trên buồng xép trong căn nhà của người kỹ sư Bỉ cạnh sông đào Ruy-pen ở ngoại ô.
Ngay khi Ma-ri-na kết thúc cuộc nói chuyện với Mát-xcơ-va thì Van-te liền đánh xe tới phố cũ kiểm tra xem chiếc xe hòm còn đỗ ở đó hay không. Nhưng nó đã biến mất khỏi cửa hiệu bánh mì. Chỉ còn lại những bệt bánh xe lớn. Thế là đã rõ, bọn Giét-ta-pô đã dò ra phương vị của sóng phát và chỉ còn việc xác định thêm tọa độ hẹp của nó nữa thôi. Thế mà sáng hôm ấy anh đã tự an ủi mình rằng “chớ có vội thần hồn nát thần tính, phải chờ đợi xem sao”.
Liền mấy hôm sau, anh vẫn kín đáo xuất hiện tại ngõ phố hẹp để xem chiếc xe ấy có trở lại không. Anh quan sát cả những dãy phố lân cận nhưng không hề phát hiện ra dấu tích chiếc xe hòm nào nữa. Anh khẳng định, kết luận đó là đúng. Lần đầu tiên anh cảm thấy lo âu và cô đơn trong cái thành phố tuy đẹp, hiền lành nhưng xa lạ và khá nguy hiểm này đối với anh và Ma-ri-na. Van-te tên thật do bố anh đặt cho để kỷ niệm tình bạn chiến đấu với một chính ủy Hồng quân gốc Đức đã hy sinh trong thời nội chiến Nga ở Xa-ri-xưn.-Anh, Van-te Cu-ra-cốp trung úy an ninh quốc gia giờ đây chẳng mong muốn gì hơn là được có mặt ở đâu đó gần Mát-xcơ-va trong đội quân đang trực tiếp chiến đấu thì sung sướng biết bao…
Nhưng trong túi anh lại là tấm hộ chiếu mang tên Van-te Lan-gren, một công dân Bỉ va anh đang đảm nhiệm một công việc chiến đấu thầm lặng, thú vị nhưng cũng hết sức nguy hiểm. Anh cũng biết rằng những tin tức anh nhận được và trao cho Ma-ri-na báo về Trun tâm đều được đánh giá cao. Ở nơi mặt trận xa xôi bên Tổ quốc không thiếu gì những chàng trung úy gan dạ và dày dạn kinh nghiệm chiến đấu có thể dễ dàng thay thế cho anh, nhưng ở đây thì thật là khó. Anh hiểu được điều này và nhận thức được rằng, dù ở đâu chăng nữa thì suốt đời, trong anh vẫn chỉ là một niềm tin yêu vô hạn đối với Tổ quốc mình, hành động theo nghĩa vụ và danh dự mãi mãi vẫn sẽ là quy luật của trái tim anh.
Anh cũng đang chiến đấu nhưng cuộc chiến đấu của anh mang một tính chất hoàn toàn khác. Mặt giáp mặt với kẻ thù nhưng phải giấu mình, phải khôn ngoan và thông minh hơn trong mọi hành động. Van-te chưa hề và có lẽ chẳng bao giờ trông thấy được dung nhan, hình thể tên sĩ quan Đức chỉ huy chiếc xe dò phương vị bí mật kia, nhưng chỉ qua việc xuất hiện và biến đi đột ngột của nó, anh hiểu rằng, hắn đang điên đầu lên vì sự mất tích của làn sóng bí mật.
Nhưng vị trí đặt điện đài mới cũng chẳng an toàn gì. Hệ thống dò sóng của bọn Đức khá chính xác, đây chẳng phải là điều gì bí mật đối với anh. Van-te chỉ còn chờ đợi xem bao giờ thì chiếc xe hòm kia lại xuất hiện gần sông đào Ruy-gen. Liệu có xuất hiện tại đó hay không. Chắc chắn chúng cũng đã bắt được làn sóng của điện đài mới.
Và anh không nhầm. Chỉ qua năm lần phát sóng tại nơi mới chiếc xe hòm màu xám bí hiểm lại đã mò tới gần khu vực ngoại ô vùng sông đào. Tuy còn xa nhà kỹ sư hóa học nhưng nó đã lảng vảng gần tới đích rồi. Lại phải chuyển vị trí đài về ngôi nhà cũ ở tầng bốn. Vì chẳng còn chỗ nào hơn được nữa. Nhận chiếc va-li do Van-te trao cho, Ma-ri-na tuy giữ thái độ vui vẻ nhưng trong ánh mắt chị đã thoáng nét lo âu. Chị bảo anh:
-Nếu có thể, anh tháo điện ngắn bớt đi. Như vậy rút ngắn được thời gian phát.
Van-te thông cảm với nỗi lo âu của chị vì anh cũng đang sống trong tâm trạng đó. Một cảm giác lo lắng khó hiểu-tựa như con bạc trong ván bài say sưa khi không thể bỏ được nước đi và cũng không thể bỏ cuộc ăn non, trong lúc thật ra chẳng còn nước nào để đánh nữa vì các con chủ chủ bài đã bị lật ngửa hết cả rồi… Nhưng đồng thời, trong tiềm thức của anh cũng sống dật niềm tin của một vận động viên chạy đua đã bứt khỏi đối thủ một chặng khá xa và tạm thời khoảng cách đó chưa bị rút ngắn. Nhưng cái tạm thời này tồn tại được bao lâu nữa?
Chiến tranh là chiến tranh, độ khốc liệt của từng trận tuyến có thể khác nhau nhưng sự hi sinh của người lính đều giống như. Chẳng lẽ những người lính không có trận địa dự phòng và phải chiến đấu đến người cuối cùng bởi vì phía sau họ là Mát-xcơ-va, chẳng lẽ ở đó lại hi sinh một cách dễ dàng hơn hay sao? Họ trườn mình ra khỏi giao thông hào dưới làn đạn địch và chồm lên xông vào những xe tăng đang lao tới với một chai chất cháy trong tay… Họ cũng chỉ có một ý nghĩ: phải đứng vững đến người cuối cùng! Năm ngày trước đây chẳng hạn không một ai ở phương Tây lại có thể tin rằng Mát-xcơ-va có thể đứng vững được. Thế nhưng giờ đây cả thế giới phải khâm phục lòng dũng cảm của người Nga.
“Điều quan trọng bây giờ là phải giữ vững, phải đứng vững-Van-te thầm nghĩ.-Phải đứng vững đến cùng!”.
 
2.
Li-đa Mi-cla-sô-va rảo bước trên đường. Dưới đôi ủng tuyết lạo sạo, gây cảm giác dễ chịu. Phía trước mắt, trên hàng rào đổ nghiêng một chú chim chiến sĩ là đang vẫy đuôi hót thành thót: chích chi, chính chi, chơ… chích chi khơ…
Li-đa chậm bước, nhìn và mỉm cười, con chim hiền lành nổi tiếng thông minh và khá đẹp với chiếc đuôi dài màu sáng. Một tuần lễ trước đây cũng một con chim chiến sĩ là đuôi dài như thế này bay vào sân và đậu ngay ở bậc cửa sổ căn buồng của mẹ con Li-đa. Bà Mác-pha chủ nhà, đang trộn than vội bỏ ngay xẻng xuống và nhìn sang buồng hai mẹ con nói, giọng không giấu vẻ ghen tị:
-Này Li-đa, cô lại sắp có thư đấy! Giống chim chiến sĩ là này là loại chim tiên tri đấy, chim đưa tin vui. Người ta còn gọi nó là chim khách! Tự dung nó không hót đâu.
Li-đa không tin vào những lời có tình chất mê tín đó, cô nói:
-Không phải thế đâu bác ạ.
-Không phải là thế nào. Kinh nghiệm dân gian đấy! Cô cứ thử nghiệm mà xem!
Bà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp vóc người đẫy đà, mạnh khỏe, xởi lởi có vẻ trẻ hơn cái tuổi năm mươi của bà. Chỉ có mớ tóc bạc là tiết lộ tuổi tác và những nỗi đau khổ đè nặng đôi vai bà. Mới những tháng gần đây tóc bà đã bạc đi trông thấy vì chỉ trong vòng một tháng bà đã nhận được tới ba giấy báo tử của chồng và hai con trai. Tai họa giáng xuống không làm bà ngã quỵ mà chỉ làm trái tim bà cứng rắn thêm vì đau khổ. Hàng tuần lễ liền bà không rời khỏi xưởng quân giới nơi Li-đa cùng làm việc tại phòng kỹ thuật với bà. Tại đây bà là tổ trưởng một tổ vận chuyển gồm toàn nữ, phần lớn là các bà các chị đã đứng tuổi, nhưng họ làm việc không kém gì nam giới. Họ gọi bà tổ trưởng của mình là bà chỉ huy Mác-pha! Và chỉ nghe theo lệnh của bà thôi. Những đôi tay của họ đã bốc chuyển không biết bao nhiêu tấn đạn dược cho pháo hặng nặng. Tại mặt trận, các chiến sĩ ta mỗi khi mở hòm đạn thường bắt gặp những dòng chữ nguệch ngoạc bằng phấn: “Dành cho thằng Hit-le”. Trả thù cho Mi-tơ-ri Cu-dơ-mích”. “Này cho bọn súc sinh đê tiện!”. ”Trả thù cho Va-xi-li”. “Tiêu diệt Hit-le, trả thù cho con trai Phê-đô”.
Bà Mác-pha nói giọng khàn khàn:
-Tôi chẳng còn nhận được thư của ai nữa đâu! Những bức cuối cùng tôi nhận được là những ức mang viền đen. Nói xong bà lại quay sang lò than xúc tiếp mấy xẻng rồi lấy góc khăn chấm nước mắt. Họ chỉ nói với nhau như vậy nhưng Li-đa vẫn cứ ngầm mong xem lời bà có đúng không. Nhưng quả thật, sáng hôm ấy chị có thư, hơn nữa lại là thư của chồng, của I-go Mi-cla-sốp! Anh viết những lời tốt đẹp và báo tin rằng, anh không còn ở Lê-nin-grát nữa mà đang ở một nơi xa sau mặt trận, đang ở Mát-xcơ-va và có thể sẽ đi đến một nơi xa xôi. Anh viết với giọng đùa cợt của một người xa lạ: “Còn anh chàng võ si quyền Anh của em, chàng có thằng con trai kháu khỉnh là An-đriu-sa đã rẽ qua nhà, mọi việc đều yên ổn, mặc dù anh ta không được gặp vợ con, gặp dì và sau đấy anh ta đành lặng lẽ về đơn vị…
Thoạt đầu Li-đa chẳng hiểu gì cả. Lại còn anh I-go nào vào đây nữa? Nhưng một lúc sau chị hiểu ra và lòng trào lên niềm vui rộn ràng, ấm áp. Ồ té ra anh ấy viết về mình-Thật vui quá. Cuối thư I-go tha thiết dặn vợ không nên tiếc gì cả, hãy chú ý sức khỏe, hãy chăm sóc An-đriu-sa cho cẩn thận, đừng tiếc rẻ đồ đạc, cần thứ gì cứ bán bớt đi mà tiêu. Chị mang thư anh đọc đi đọc lại nhiều lần cho bạn bè cùng phòng nghe và mọi người đều ghen với niềm vui của chị một cách thân ái.
Đúng là cuộc sống nơi sơ tán thật khó khăn. Li-đa đã dần dần bán đi một số tư trang, đồ dùng không cần thiết.
Sau đấy chị đã nhiều lần lưỡng lự khi phải quyết định có nên bán chiếc đồng hồ đeo tay nhỏ xíu, mạ bạc mà I-go đã mua nó bằng khoản tiền thưởng tặng nhân ngày sinh nhật của chị. Khi ấy hai người mới yêu nhau chứ chưa phải đã là vợ chồng.
Tuyết vẫn lạo xạo dưới chân, Li-đa vẫn không chú ý gì đến xung quanh. Những ý nghĩ của chị vẫn đang hướng về miền tây xa xôi, về thành phố Mát-xcơ-va thân yêu, nơi có con người gần gũi nhất, thân thiết nhất trong cuộc đời của chị đang sống. Ôi giá được bay về ma dù chỉ là trong chốc lát để ngắm nhìn, để ôm chặt lấy anh trong giây lát và chỉ cần vùi đầu vào bộ ngực nở nang của anh mà khóc cũng đủ sướng rồi…
 
3.
I-go trở mình, gập cánh tay phải xuống dưới gối. Anh trằn trọc không sao ngủ được, mặc dù đã quá nửa đêm mùa đông dài dằng dặc. Anh nằm im, mắt vẫn mở nhìn vào không gian im ắng tối đen, lòng day dứt vì những điều không hiểu nổi. Thật kinh khủng với cái tin vừa được thông báo. Ai có thể tưởng tượng được rằng, giờ đây anh lại là đứa cháu của một tên phản bội nhục nhã. Chiều nay người ta mới báo cho anh biết. Thảo nào, từ sáng đến lúc ấy anh cứ cảm thấy day dứt, sốt ruột, bứt dứt, đứng ngồi không yên như có một linh cảm không hay sẽ đến với mình. Bữa điểm tâm sáng nay anh bỗng dưng đánh đổ tách cà phê làm ướt cả chiếc quần mới tinh nhét gọn trong ủng. Anh lúng túng đứng bật dậy để giũ và chẳng may lại va luôn vào cô phục vụ bàn ăn Na-đe-giơ-đa nổi tiếng chanh chua cáu gắt, tuy dáng người không đến nỗi nào. Lúc ấy chị đang bê một mâm đầy những bát đĩa, thìa nĩa bẩn ngang qua và anh đứng bật dậy quá bất ngờ làm chị ta hốt hoảng vội tránh nhưng mất đà làm chiếc mâm đổ tung, bát đĩa bẩn lại rơi ngay vào mấy chàng sĩ quan trẻ trong đó có chàng trung úy huấn luyện viên của anh.
Cái ngày không may này bắt đầu như vậy đấy. Sau đó là bao chuyện bực mình khác vì suốt buổi tập, các huấn luyện viên có vẻ như chù anh về cái tội ban sáng nên đã bắt anh tập đi tập lại mấy động tác vũ thuật khó nhất và mệt nhất làm anh bã cả người. Mà nào đã thoát, buổi học chiều họ trả đũa anh bằng những câu hỏi rắc rối, bắt bẻ hết ý này đến ý khác…
Cũng có thể là do bài học hôm nay khó chứ thật ra các huấn luyện viên không hề có ác ý “trẻ con” như anh tưởng. Ngày kéo dài buồn chán trong tâm trạng chờ đợi một điều gì đó khó chịu chợt đến với anh. Và linh tinh rất nhạy cảm, nó giống như một người lính gác nội tâm vẫn đang thức tỉnh trong thâm tâm anh và mang những tín hiệu báo động tới cho anh.
Mỗi linh cảm nặng nề đã nguôi nguôi đi phần nào khi buổi tập chiều đã hết và anh nhận lời thách bắn thi với một tay trung úy trẻ. Anh đã bắn trúng cả năm viên vào chữ thập ở tâm. Một vòng mười, bốn vòng chín…
-Khá đấy,-anh chàng trung úy khen gượng và không giấu vẻ luyến tiếc khi phải đưa bao thuốc lá tiêu chuẩn cung cấp ra cho anh.
Mi-cla-sốp không nghiện thuốc nhưng anh vẫn cầm và bóc ngay ra mời mọi người trong phòng bắn cùng hút.
Ngay khi ở phòng bắn trở về, Mi-cla-sốp được mời lên gặp đại tá I-lin-cốp.
Đại tá đang đợi anh tại phòng làm việc. Ông niềm nở đón anh và nói luôn, giọng thân mật:
-Hôm nay tôi thông báo cho cậu biết, một người thân của cậu đã chạy sang hàng ngũ địch. Đó là Dô-nen-béc Tô-bôn-xki, chồng của bà dì ruột…
Đại tá nói giọng đều đều, không có vẻ gay gắt, không muốn tạo nên vẻ gì căng thẳng trong cuộc nói chuyện và nhất là không muốn tạo cho anh một ấn tượng là anh có liên quan tới chuyện nhục nhã này. Thế nhưng Mi-cla-sốp vẫn cảm thấy xấu hổ nhục nhã, anh cho rằng nỗi bất hạnh đang đến với anh, niềm tự hào của anh không còn nữa. Anh cảm thấy giống như com chim bị vặt lông cánh. Bây giờ có lẽ người ta coi anh như một kẻ thân thích của tên phản bội!…
Nhưng đành vậy chứ biết làm sao. Cuộc sống vô tình đã tước đi của anh những niềm tin lớn lao vẫn chắp cánh cho những ước mơ cao đẹp và khích lệ trái tim anh, bởi lẽ, từ nay trong anh đã bị mất đi cái quan trọng nhất, cái cốt lõi nhất của cuộc sống là niềm tin ở con người.
Giọng đại tá vẫn trầm trầm kể lại cho anh biết là từ mùa thua năm nay, Tô-bôn-xki bỗng nhiên chuyển đến ở tại ngôi nhà nghỉ của gia đình hắn tai vùng ngoai ô I-xtơ-ra cùng với vợ và một nữ nghệ sĩ khác từ lâu vốn đã được xem như nhân tình của gã. Khi quân Đức tấn công Mát-xcơ-va, hắn viện hết cớ này đến cớ khác để chần chừ việc về thủ đô và sau đó, lợi dụng lúc chúng ta bận trăm công nghìn việc, lúc quân ta phải chiến đấu căng thẳng và phải rút lui, hắn đã chạy trốn sang phía quân Đức, hay đúng hơn là đã đón tiếp quân Đức khi chúng tiến tới vùng này.
 
Đại tá đứng dậy xem đồng hồ và đến bên chiếc máy thu thanh đặt trên chiếc bàn nhỏ. Ông bật máy và chỉnh sóng, bỗng nghe vang lên từ trong máy một giọng tiếng Nga oang oang. Một giọng nam quen thuộc với Mi-cla-sốp. Cái giọng dịu ngọt, êm êm nhưng cũng pha chút gay gắt. Gã đang kêu gọi các chiến sĩ Xô Viết hãy chấm dứt sự kháng cự vô ích, đang tán dương sức mạnh quân sự và lòng nhân đạo của người Đức…
-Anh nhận ra chứ?-Đại tá hỏi.
-Vâng, chính ông ta… Giọng ấy… Mi-cla-sốp nói. Chẳng biết nên dùng từ gì để gọi Dô-nen-béc.
Đại tá nói thêm:
-Đài phát thanh Béc-lin, buổi tiếng Nga đấy! Hắn đang đứng tận đấy kêu gào!
-Thế mà tôi có cảm giác như hắn đang đứng ở phòng bên cạnh vậy.
-Kỹ thuật mà lại!
Dô-nen-béc Tô-bôn-xki nói dài có vẻ có “đầu óc” và khoa học nữa. Hắn dùng những lời hoa mỹ nhưng ác ý, hắn dùng những câu phân tích thực tế vốn có trong cuộc sống để xúc phạm chính quyền Xô Viết, nói xấu Hồng quân và vu khống các nhà lãnh đạo Nhà nước Liên Xô. Không thể tin được rằng những lời nói đê tiện mất dạy đó lại được phun ra từ chính miệng hắn, nghệ sĩ nổi tiếng Dô-nen-béc Tô-bôn-xki.
Nghe giọng nói quen thuộc đó I-go như cảm thấy trên mặt bóng lộn của chiếc vỏ ra-đi-ô in rõ khuôn mặt béo tốt của cậu Xê-va với cặp mắt xám sáng màu gio, luôn có cái nhìn thẳng như chất vấn người đối diện, cái mũi khoằm khoằm, đôi cánh mũi mỏng trên cặp môi thanh tú đỏ như môi đàn bà.
Cặp môi ấy, cái miệng ấy đã nhiều lần nở những nụ cười hiền dịu, thân mến với I-go và đã từng nói với cậu bé những lời tốt đẹp. Biết bao nhiêu kỷ niệm tươi sáng, êm đềm đã trôi qua trong ngôi nhà ngoại ô ấy. Chính hắn, tên phản bội ấy đã nhiều lần đánh thức anh dậy, khi anh còn là chú bé I-go, từ sáng sớm và cùng anh vác cần câu vui sướng bước đi trên bãi cỏ đẫm sương đêmt ới bên rặng liễu cắm câu trên bờ sông I-xtơ-ra êm ả.
Chính Tô-bôn-xki đã dẫn cậu bé I-go vào rừng bao lần và đã là người đầu tiên cho cậu bắn thử một phát bằng khẩu súng săn thực sự. Cũng chính con người ấy đã bênh vực cho cậu I-go mười bốn tuổi khi bà mẹ mắng cậu và không cho phép cậu được tập chơi môn quyền Anh mà theo bà là môn đấm đá dã man vì phát hiện trên mặt cậu một vết tím bầm…
Thế mà giờ đây lại hóa ra như vậy!
-… Thật đau sót và xấu hổ. Mi-cla-sốp thấy mặt mình nóng bừng. Anh không hiểu tại sao lại có thể xảy ra như vậy dù rằng cái điều nhục nhã ấy vẫn cứ xảy ra. Cần phải xử thật nghiêm khắc sự phản bội này! Nhưng hắn đang ở xa, đạn nào bắn tới được.-Anh cho rằng đại tá gọi anh lên đây vì đời anh như vậy là đã mang một vết nhơ. Nhận thức rõ và cảm giác được điều này nên anh quyết định sẽ nói ra trước hơn là để người ta gợi ý. Anh nói, giọng thanh thản:
-Báo cáo đại tá, tôi đã rõ. Tôi xin phép được…
-Được cái gì?
-Được kiểm điểm…
-Không, đừng vội, anh bạn trẻ.
-Thưa đồng chí, ở đây tôi sẽ chẳng còn gì để mà làm cả.-Anh ngắt lời đại tá.-Cần phải rửa vết nhơ trong bản lý lịch của tôi. Phải rửa bằng máu của tôi hay của hắn. Nếu có thể xin đồng chí hãy cứ điều động tôi tới nơi nóng bỏng nhất! Tôi sẽ chứng minh bằng hành động của mình…
-Chúng tôi biết… Nhưng anh cũng cần nhớ rằng, bình tĩnh trong hành động cũng là đức tính vô cùng cần thiết và đồng thời là vũ khí của người tình báo đấy. Tình hình không phải là đã tồi tệ đối với anh đâu!
-Sao cơ ạ?
-Cần phải thông minh xử lý sự kiện này. Chính vì vậy nên chúng tôi mới điều anh về đây. Cần phải lợi dụng mọi hoàn cảnh có lợi cho chúng ta. Cần phải lợi dụng chúng, kể cả sự phản bội này cũng vậy. Công việc của chúng ta là thế đấy.
Đại tá đi lại trong phòng và giải thích nhiều điều về công tác khó khăn nguy hiểm này, qua đó Mi-cla-sốp hiểu rằng, rõ ràng người ta không định gạt anh như anh tưởng. Anh vẫn được tin cậy.
Anh thở dài, căm giận:
-Nếu tôi tới đấy và gặp hắn thì tên phản bội đê tiện này sẽ biết tay tôi…
-Ấy, không được phép như vậy.-Đại tá I-lin-cốp cười vì những ý nghĩ xốc nổi của I-go.-Bọn phản bội sẽ bị xét xử sau ngày chiến thắng. Còn bây giờ, anh có thể về nghỉ!
… Luồng không khí đặc quánh lạnh buốt hơi băng ùa nhanh vào cửa sổ thông hơi mở toang. Mi-cla-sốp không cảm thấy lạnh mà trái lại có vẻ tươi mát hơn. Anh nằm im, hai tay vò nát chiếc gối, mắt đăm đăm nhìn vào một điểm bất động trên tường.
 
Chương sáu

1.
Van-te thổi phù phù vào đám bọt bia trắng, khoan khoái nhấp liền hai ngụm cái chất nước nâu thẫm trong chiếc cốc pha lê to dày rồi mới đặt cốc lên bàn:
-Ôi, đã lâu lắm giờ mới được thưởng thức loại bia này!…
-Anh đi khắp Brúc-xen cũng không thể tìm đâu ra loại bia nào ngon hơn đâu… Rồi anh sẽ thấy, ông già Han-xơ bao giờ cũng có nhã ý cất dành hẳn cả một thùng bia ngon cho bạn hữu đấy.-Gôn-đơ nói, giọng trầm trầm như người bị ngạt mũi.
Hai người ngồi trong căn phòng nhỏ, trần thấp. Van-te biết người chủ của căn hầm bia cạnh sông đào Ruy-pen này là bác Han-xơ, một người Bỉ đứng tuổi hiền lành và cũng là một trong những thành viên của lực lượng kháng chiến Bỉ.
-Chúng mình còn khoảng năm mười phút nữa.-Gôn-đơ nói và đóng nắp chiếc đồng hồ quả quít lại.-Ta làm thêm mỗi người một vại nữa chứ, com-ra-đô (đồng chí, bạn thân-Tiếng Tây Ban Nha,ND).
Anh gọi Van-te là “com-ra-đô” để gợi nhớ lại đất nước Tây Ban Nha.-Van-te cũng đáp lại với vẻ thân tình gọi tên lóng của Gôn-đơ:
-Mình không phải đối, anh bạn “người Hà Lan bay” ạ!
Cả hai đều mỉm cười và ý nghĩ của họ lại trở lại với những năm tháng đáng ghi nhớ đã qua. Dạo ấy là tháng Bảy oi bức, như mọi người vẫn gọi là tháng hè nóng bỏng của năm 1938 và cũng là lúc Van-te được làm quen với anh bạn người Bỉ có nước da đậm và vóc người trông hơi thô, chậm chạp này. Vài ngày trước khi họ vượt con sông En-brơ rộng mênh mông đầy ắp nước, anh gặp Gôn-đơ trong nhóm các chiến sĩ tình nguyện quốc tế mang tên Đôm-brốp-xki. Nom anh ta không có gì đặc biệt cả. Thế nhưng khi cuộc tiến công bắt đầu và các chiến sĩ quốc tế là những người đầu tiên phải vượt sông sang bờ phải và trụ lại đó tám ngày đêm liền thì mới thấy rõ bản chất của anh chàng người Bỉ chậm chạp này. Anh nhanh nhẹn và nổi bật hẳn lên. Anh đã nhiều lần đảm nhiệm việc liên lạc giữa hai bờ bằng chiếc thuyền con cũ nát. Anh đã tiếp tế bao nhiêu chuyến súng đạn, lương thực cho đơn vị tình nguyện ngay dưới làn đạn của quân phiến loạn. Khi ấy mọi người đã gọi anh với cái tên âu yếm “Người Hà Lan bay”.
Và sau bao năm ở Tây Ban Nha, đôi bạn chiến đấu đã gặp nhau thật tình cờ, từ một năm rưỡi nay hai ngưiơì đã có mối quan hệ mật thiết hơn. Van-te được biết chính Gôn-đơ là một trong những người lãnh đạo nhóm kháng chiến và cũng là chủ biên tờ báo bí mật “Tiếng nói Mát-xcơ-va”.
Sông Gôn-đơ không biết gì hơn về Van-te và anh vẫn nghĩ rằng Van-te chính là một đảng viên cộng sản Đức và để trốn tránh nanh vuốt của bọn Giét-ta-pô quốc xã anh đã chạy sang Bỉ sống dưới danh nghĩa nhà kinh doanh lớn, chủ hiệu sửa chữa xe hơi ở Brúc-xen.
 
Cánh cửa kên ken két và chủ nhân xuất hiện nơi khung cửa. Khuôn mặt tròn bầu bĩnh, vẻ ủ dột hình như ngắn lại vì chòm râu rậm như râu thuyền trưởng, ông cất giọng ồm ồm:
-Giấy đã nhét vào dưới ngăn đèo hàng rồi đấy. Mọi việc đều êm đẹp.
-Xin cảm ơn,-Van-te gật đầu nói.
Đó là giấy dùng cho xưởng in bí mật. Từ các nơi giấy được chở theo đường biển tới Bỉ rồi đi theo kênh đào Brúc-xen. Và bây giờ là chặng đường ngắn nhất nhưng cũng quan trọng nhất. Anh không từ chối lời yêu cầu của Gôn-đơ nhờ anh chờ giúp.
-Nếu người ta mang đến được từ hôm qua thì hôm nay chúng mình đã ra báo được rồi,-Gôn-đơ nói,-Báo đã lên khuôn, dập thử rồi nhưng chỉ còn chờ giấy thôi.
-Thế có kịp đưa tin về thất bại của bọn Đức ở ngoại ô Mát-xcơ-va không?
-Đăng ngay trên trang nhất ấy.
-Ồ, với khản trả công này thì mình sẵn sàng chở toàn bộ đợt giấy lần này. Van-te vui mừng nói và hất hàm chỉ tờ báo địa phương nằm trên bàn, hỏi:-Thế các anh có đưa tin về vụ khủng bố cô Ma-ri-na Xa-phơ-rôn-nô-va không?
-Cũng trên trang nhất.
-Anh biết cô ấy?
-Biết,-Gôn-đơ rầu rầu đáp.
-Và cũng biết cô ấy là người Nga?
-Dĩ nhiên, mình biết rõ cả chồng và bố mẹ cô ấy nữa.
Van-te kéo cốc bia lại gần, nhìn vào chất nước giải khát màu nâu trong vắt, hỏi tiếp-cố giữ vẻ bình thản:
-Thế còn việc báo chí Đức vu cho cô ấy là nhân viên tình báo Bôn-sê-vích hoạt động ở Bỉ, có đúng không?
-Bọn chúng nói láo tuốt. Anh lạ gì cái thứ bào chí ấy!
Gôn-đơ nhấm nháp vài ngụm rồi đặt phịch cốc xuống bàn.
-Com-ra-đô, anh hiểu không, mọi việc không đơn giản như ta tưởng đâu. Đúng, cô ấy là người Nga! Nhưng không phải là người Nga Bôn-sê-vích. Chẳng ai cử cô ấy sang đây cả. Vì chính cô ấy sinh ra và lớn lên ở đất Bỉ này.
-Ở đây, ở Brúc-xen này?
Van-te ngạc nhiên thực sự.
-Đúng đấy, com-ra-đô thân mến ạ. Để tôi kể vắn tắt cho anh nghe. Cuộc sống khá phức tạp… Và để đánh giá hành động dũng cảm của cô ấy, điều đầu tiên chúng ta phải hiểu rõ nguyên nhân gì đã khiến cô ấy hành động như vậy.
Gôn-đơ lại nhấp một ngụm bia. Đầu đuôi là thế này. Cuộc Cách mạng tháng Mười Nga bùng nổ khi Ma-ri-na vừa tròn mười tuổi. Bố cô bé là kỹ sư đóng tàu và là việc tại xí nghiệp sửa chữa tàu biển ở Rê-ven. Khi Cách mạng tháng Mười thành công ông muốn trở về nước Nga nhưng bà mẹ cô không muốn. Bà ta dứt khoát không muốn trở về nước Nga Bôn-sê-vích. Và vào đầu năm hai mươi, gia đình cô bé trở về Brúc-xen. Nhà họ cách nhà chúng không xa và dĩ nhiên cả tôi và lũ bạn thời trẻ đều bị cuốn hút tới gia đình họ để tìm hiểu về những người Nga từ đất nước đầy bí hiểm của những người Bôn-sê-vích. Vào những năm đó hầu như cả thế giới chỉ xôn xao bàn tán về cái nước Nga bí hiểm với bao nhiêu điều khó hiểu.
-Thế anh đã đến chơi nhà họ nhiều lần?
-Đã đến nhiều lần. Trong nhà họ nói với nhau bằng tiếng Nga. Ông bố cô thường kể chuyện về nước Nga, và càng ngày càng tỏ lòng khâm phục những điều kỳ lạ mà người Bôn-sê-vích đã đạt được. Ông khâm phục những công trình xây dựng đồ sộ như nhà máy thủy điện Đơ-nhi-ép, vê thành phố Côm-xô-môn trên sông A-mua và về những thành tựu khác.
 
… Ông là một người trung thực và nhiều lần đã hối hận tỏ lòng buồn phiền vì đã ngu ngốc nghe theo bà vợ không quay về quê hương mà lại đang tâm sống ở đây… Ma-ri-na đã lớn lên trong một gia đình như vậy và đương nhiên cô có một tình yêu đối với Tổ quốc Nga xa xôi của cô.
Van-te lắng nghe câu chuyện của Gôn-đơ và thầm cảm phục người kỹ sư chưa hề quen biết ấy. Anh thầm nghĩ: Cần phải chuyển tin Ma-ri-na Xa-phơ-rôn-nô-va về Trung tâm để trong nước biết tin về chiến công của một phụ nữ mang tâm hồn và dòng máu Nga ấy”.
-Khi chiến tranh bắt đầu và khi bọn Hit-le bất thần tấn công Liên Xô, thật khó nhận ra Ma-ri-na. Cô ấy đã biến đổi nhanh chóng. Cô ấy đã trút hết nỗi giận lên bọn Đức mà cô đã gặp. Cô chửi chúng bằng những lời độc địa nhất nhưng chúng chẳng hiểu gì chỉ nhe răng cười một cách ngu ngốc. Còn dân chúng Brúc-xen thì cố nhịn cười vì tiếng cười của họ sẽ là bằng chứng tố cáo Ma-ri-na. Ngày ngày cô theo dõi tin trên đài phát thanh Mát-xcơ-va và tự vạch lên bản đồ Liên Xô ranh giới mặt trận. Cô ấy thông báo cho bọn tôi biết những tin tức của Cục Thông tin Liên Xô và cũng không nghĩ rằng những tin tức đó được phản ánh lên tờ báo bí mật của chúng tôi. Nhưng chúng mình quyết định không đưa cô ấy vào tổ chức vì bọn Giét-ta-pô có thể đã biết cô ấy là người Nga lưu vong và sẽ theo dõi có thể nguy hiểm cho tổ chức kháng chiến Bỉ.
-Cô ấy có gia đình riêng chưa?
Có rồi, com-ra-đô ạ. Chồng cô ấy cũng là một người Nga lưu vong, một người Nga tốt bụng. Hiện nay thì cậu ấy có một số công việc giúp đỡ chúng mình. Tên chính là Ma-ru-ta-ép nhưng ở nhà Ma-ri-na vẫn hay gọi anh theo tên Nga là Iu-ra. Họ có hai con, một trai lên bảy và một gái lên ba. Nhà họ ở thị trấn Váp-rơ, vùng ngoại ô Brúc-xen.
-Sao cô ấy lại không sống tại Brúc-xen?
-Cô ấy chuyển về đó cách đây khoảng mấy tháng. Có lẽ để đỡ nguy hiểm cho bố mẹ vì cô ấy đã dự định làm công việc trừng phạt bọn Đức tại đây. Cô ấy sống riêng. Té ra cô ấy đã suy tính kỹ mọi điều bất trắc.
Gôn-đơ im lặng, cầm vại bia xoay xoay trong tay nhưng không uống. Van-te cũng im lặng đợ chờ. Thật không dễ gì khi phải kể về một con người bình thường mà họ đã quen biết bao lâu nay nhưng giờ mới phát hiện hết những bản chất anh hùng cao thượng trong con người đó. Nhưng là phát hiện khi người anh hùng không còn sống nữa.
Anh thở dài, nói tiếp, giọng trầm trầm:
-Chồng cô ấy có kể lại với bọn tôi về những ngày cuối cùng của vợ mình. Anh nói, vào cái ngày mồng tám tháng Chạp bất hạnh ấy, Ma-ri-na đi đâu về muộn, rất muộn. Mu-ru-ta-ép đang lo lắng không hiểu có chuyện gì thì nghe tiếng gõ cửa. Cô vào nhà, anh rất ngạc nhiên thấy thái độ của vợ mình rất khác lạ. Cô có vẻ xúc động và vui khác thường. Lâu nay cô không hề có thái độ như vậy. “Anh biết không, em vừa gặp cô bạn lâu ngày xa nhau. Nó giữ lại ăn cơm tối.-Cô nói như để trả lời qua ánh mắt dò hỏi của anh.-Một bữa ăn thật vui!”. Và lần đầu tiên sau nhiều tuần lễ trằn trọc day dứt, tối hôm ấy cô ngủ rất ngon. Cả ngày hôm sau cô không hề nói gì cho ai biết là chính tối hôm qua cô đã tự tay mình đâm chết một sĩ quan Đức ngay trên đường phố. Có lẽ sức mạnh của lòng căm thù đã tiếp thêm cho cô nghị lực và lòng can đảm để cô đâm thẳng mũi dao vào bụng tên phát-xít làm nó chết ngay tại chỗ… Hai ngày sau báo chí đăng tin về vụ ám sát tên đại úy trợ lý viên tư lệnh ban chỉ huy quân quản thành phố Brúc-xen. Khi đọc tin này, anh chồng liền vui vẻ nói với vợ: “Này, Ma-ri-na, những người yêu nước bắt đầu hành động rồi đấy”. Nhưng khi anh đọc tiếp cho cô nghe thông cáo của bọn chỉ huy chiếm đóng về việc bọn chúng đã bắt năm mươi con tin công dân Brúc-xen và trắng trợn tuyên bố rằng, nếu sau mười ngày, kẻ giết viên sĩ quan Đức không ra tự thú hoặc dân chúng không bắt nộp kẻ đó cho bộ chỉ huy Đức thì cả năm mươi con tin này sẽ lần lượt bị treo cổ” thì bỗng nhiên anh thấy Ma-ri-na rơm rớm nước mắt. Chị vừa khóc vừa thì thào: “Tội nghiệp những con người bất hạnh vô tội. Tại sao họ lại phải chịu nỗi bất hạnh như vậy? Và cả gia đình họ nữa?”. Suốt ngày hôm ấy chị bứt rứt không yên. Tối hôm ấy, trước khi đi ngủ, chị ôm chầm lấy hai đứa con yêu quý hôn tới tấp lên mặt chúng…
 
Chồng chị không hiểu chuyện gì cả, chỉ ngơ ngác nhìn vợ và im lặng chờ cho chị dịu cơn xúc động… Rồi anh kinh hoàng khi nghe chị thuật lại tất cả những điều đã làm cách đây hai hô. Anh có thể tưởng tượng nổi là anh ấy kinh ngạc và xúc động thế nào không? Quả thật tôi không đời nào lại muốn ở vào hoàn cảnh của anh ta cả… Thà lao mình vào cuộc chiến đấu như hồi ở Tây Ban Nha còn hơn là phải chịu cảnh giày vò. Anh ấy còn biết khuyên vợ điều gì được. Thoạt đầu anh cũng khuyên răn, bảo chờ đợi tìm cách giải quyết nhưng chị vẫn không nghe... Còn biết khuyên gì được. Cả anh nữa, anh sẽ khuyên nên giải quyết ra sao khi số mệnh của năm mươi con người vô tội kia chỉ vì một hành động xốc nổi của Ma-ri-na mà chịu chết. Những con người đó đang đứng trên miệng huyệt. Sự việc là như vậy đấy, com-ra-đô ạ. Rồi sáng sớm ngày mười sáu hôm ấy, Ma-ri-na đã ra đi. Chị ấy đi mãi mãi… Rồi sự việc tiếp theo ra sao thì chắc anh đã rõ qua tờ báo này. Không có bàn tay nào của Mát-xcơ-va nhúng vào việc này cả. Chúng tôi đã viết vấn đề này lên báo. Nhưng khốn nỗi không có giấy để in. Mà mọi người cần phải biết rõ sự thật.
Gôn-đơ im lặng, nuốt nước bọt. Hai bàn tay anh nắm chặt, nặng nề đặt trên bàn. Mắt anh đăm đăm nhìn vào một điểm nào đó trong đôi mắt tối sầm của căm uất thoáng hiện rõ nỗi buồn thương của sự hối hận là đã để mất đi một người bạn quý, người bạn lớn của anh. Anh thật sự hối hận là trước đây đã quyết định không đưa Ma-ri-na vào tổ chức kháng chiến bí mật của các chiến sĩ yêu nước Brúc-xen.
Lúc đầu chúng xử chị ấy tại đây, tại tòa án quân sự dã chiến lưu động của bọn chiếm đóng. Chúng kết án tử hình chị ấy. Nhưng về sau bỗng chúng lại quyết định đưa chị về Đức và tòa án chính trị của bọn quốc xã ở thành phố Côn-nơ lại quyết định xử tử hình bằng máy chém. Chị đã bị xử như một tên tội phạm thời trung cổ.
… Ma-ri-na bị lên máy chém vào ngày cuối cùng của tháng Giêng, ngày ba mươi mốt.
Không hiểu, khi bước lên máy chém chị ấy, người phụ nữ Nga lưu vong yên đất nước quê hương nồng nàn, có được biết gì về cuộc đại bại của quân Đức ở ngoại ô Mát-xcơ-va không nhỉ… (Sau chiến tranh, hài cốt của Ma-ri-na được đưa về thủ đô Brúc-xen Bỉ và được an táng tại quảng trường trung tâm bên mộ của những người công dân danh tiếng nhất thành phố. Hàng năm nhân ngày chiến thắng phát-xít Đức và ngày kỷ niệm giải phóng nước Bỉ, trên mộ chị ít nhất cũng có năm mươi bông hoa tuy-líp nở rộ-Chú thích của tác giả).
 
Chương bảy

1.
Trên bậu cửa sổ căn phòng, Mi-cla-sốp đặt một bình thủy tinh đựng đầy nước cắm mấy nhánh liễu mang từ rừng về tuần trước, chúng đã đâm mấy chồi xanh tí xíu, dấu hiệu của mùa xuân. Vào những giờ nghỉ ngắn ngủi, anh thường ra ngắm nghĩa và nhận biết những mầm lá non vừa xuất hiện. Trong thư gửi về cho vợ, anh kể về mấy nhánh liễu của mình. Li-đa báo rằng, trên cửa sổ căn phòng của hai mẹ con cũng có một chai nước để cắm hoa và những nụ tử đinh hương đang nở rộ, những chồi lá đầu tiên đã nhú; cậu con trai An-đriu-sas đã tự mình thay nước và bảo rằng, cậu ta cũng có hoa “giống như bố”.
I-go Mi-cla-sốp đọc lại bức thư gần đây nhất của vợ, nhìn vào tờ giấy vở học sinh, trên đó Li-đa cầm tay cho con viết chữ “bố”, anh áp chặt lá thư bên má như cảm thấy bàn tay trẻ thơ đang ve vuốt và thì thầm gì đó, rồi cất thư vào va-li:
-Hẹn gặp lại, những người thân yêu của tôi…
Còn khi nào gặp lại, và nói chung liệu có còn được gặp nhau nữa không thì cả I-go lẫn vợ anh hầu như không ai biết trước được. Chương trình huấn luyện đã xong, chỉ còn vài ba hôm nữa là đến “cuọc hành trình vào một nơi xa lạ”-như anh thầm đoán. Hôm qua một vị tướng đã gặp anh, đã căn dặn khá lâu và tỉ mỉ với hàng loạt những câu hỏi khác nhau, rồi sau đó hài lòng với những câu trả lời, ông vui vẻ bắt tay và chúc anh gặp nhiều điều tốt lành.
Đại úy Liu-sen-cô xuất hiện bên ngưỡng cửa. Anh mặc chiếc ca-pốt khiến dáng người có vẻ cân đối nhẹ nhõm hơn. Trên gương mặt tròn trĩnh, màu râu nhẵn nhụi của Liu-sen-cô có vẻ đăm chiêu lo lắng. Trong cặp mắt màu sẫm của anh không ánh lên cái vẻ khô khan, thấu suốt và nghiêm khắc của một nhà sư phạm như mọi khi, mà là cái nhìn ấm áp tựa như ở đó ánh nắng xuân đã làm tan đi những vụn băng. Những tháng qua anh đã chỉ huy việc huấn luyện I-go, và như I-go có cảm giác, anh hay bắt bẻ và có vẻ quá ư cầu kỳ trong việc kiểm tra sự thực hiện tất cả các mục trong chương trình học tập. Đặc biệt Liu-sen-cô tỏ ra hết sức nghiêm khắc trong những buổi học tập cuối cùng, khi tập dượt các cuộc “hỏi cung tại cơ quan Giét-ta-pô”. Anh ta đề ra hàng lô những câu hỏi hắc búa và đòi phải trả lời tức khắc. Nhưng giờ đây, tất cả đã lùi về phía sau, việc huấn luyện đã kết thúc. “Câu chuyện huyền thoại” đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng nhưng vẫn khá đơn giản và tự nhiên. Người ta không đổi tên I-go Mi-cla-sốp vẫn cứ là Mi-cla-sốp. Bởi vì như vậy sẽ dễ dàng bắt liên lạc với ông cậu rể phản bội mà trong những tháng gần đây đã leo cao thêm trên bậc thang danh vọng mới và đang giữ một chức vụ quan trọng trong cơ quan tuyên truyền của Hit-le. Trên tờ báo phát-xít xuất bản bằng tiếng Nga “Tiếng nói người Nga” thường xuất hiện những bài báo dài của y. Theo như câu chuyện được dựng lên, thì Mi-cla-sốp sẽ bị đội tuần tra bắt vì tội say rượu, càn quấy, trong người không có giấy tờ gì và đã chống lại nên bị đưa ra xét xử tại tòa án quân sự, bị tuyên án tước hết mọi huân chương, giáng chức xuống hàng “binh bét” và điều ra tiền tuyến đưa vào tiểu đoàn phạm binh… Nơi hành động sẽ là quán bia trên quảng trường Pu-skin, bên cạnh hiệu thuốc.
-Xong rồi chứ?-Liu-sen-cô hỏi.
-Báo cáo, sẵn sàng.-I-go đáp và đưa mắt nhìn lần cuối cùng căn phòng học viên của mình.
-Thôi, ta đi thôi.-Liu-sen-cô liếc nhìn đồng hồ.-Đội tuần tra đã có mặt ngoài quảng trường rồi đấy!
 
Mấy phút sau, xe hơi đã đưa họ đến phố Gor-ki. Dừng lại bên cửa hành thực phẩm. Liu-sen-cô đặt tay lên vai Mi-cla-sốp:
-Này, I-go. Cậu nhớ là chỉ uống chút ít thôi nhé. Đủ cho đỏ mặt là được. Hiểu không?
Quán bia đón chào Mi-cla-sốp một cách ồn ào, nhộn nhạo. Những làn khói thuốc lá xanh lơ lửng bay quần trong phòng. Khắp các bàn, người ta bàn tán về những tin tức mới nhất từ mặt trận, kể tên những thành phố và làng mạc vừa được giải phóng. I-go gọi một cốc bia, đặt lên bàn chai vốt-ca và bắt đầu “gửi hồn lên chín tầng mây”. Anh kín đáo đổ hết chén này đến chén khác xuống gầm bàn và khoảng chừng hai mươi phút sau, người ta thấy anh chàng i-go lảo đảo đứng dậy, trỏ vào mặt khách ngồi trong quán rượu:
-Này, mày cứ ngồi ở đây mà nốc đẫy bia vào… Tao bảo, mày cứ ở đây mà nốc bia… Còn tao… Tao và các chiến hữu của tao thì đang đổ máu ngoài mặt trận…
Một người mặc thường phục vội can ngăn anh chàng trung sĩ đã ”quá chén”, nhưng I-go lại càng nổi xung hơn:
-Xéo đi, đồ chó đểu… Anh giáng mạnh chiếc cốc xuống sàn,-Tao đã đổ máu, còn mày thì…
Mọi người cố gắng ngăn kẻ gây rối, nhưng vô ích. Mi-cla-sốp túm lấy cổ áo vải bạt của người cảnh sát vừa vào vầ xô anh ta ngã giúi vào tường. Bị xúc phạm, anh kia giơ nắm đấm xông lại chỗ Mi-cla-sốp…
Tiếng náo động trong quán ăn làm đội tuần tra vội chạy tới. Ba chiến sĩ tuần tra vội xông vào can thiệp và lôi xềnh xệch anh chàng trung sĩ “đá quá chén” ra khỏi phòng. Lập tức một đám đông tò mò đã vây quanh vỉa hè. Người ta khéo bố trí sao cho trong số đó có cả bà Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na, người ở cạnh nhà I-go từ hồi anh còn nhỏ. Bà ta kinh ngạc mở to mắt-đã thấy chưa? Làm sao có thể hiểu nổi nhỉ? Hồi giáp tết, I-go đột nhiên xuất hiện ở nhà và như anh khoe, thì tức là từ mặt trận trở về, rồi sau đấy bà thấy người ta đưa xe hơi đến đón anh dù không phải như đón một vị chỉ huy nhưng cũng không kém gì một nhân vật quan trọng. Ai có thể ngờ được! Bây giờ anh ta cũng được những quân nhân cầm súng đưa đi nhưng bằng chiếc ô-tô khác, chiếc ô-tô có lưới sắt trên cửa sổ. Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na thở dài:
-Hừ, còn có thể nói gì về cái ngữ ấy được nữa, một con người biến chất. Trước sau gì thì anh ta cũng chỉ là một gã đánh bốc, thích gây gổ… Nói tóm lại là một ông tướng càn quấy!
Bà ta quyết định rằng nhất địch phải viết thư kể về mọi điều xảy ra mà bầ đã chứng kiên từ đầu đến cuối cho bà mẹ I-go người nữ nghệ sĩ Ôpêra và cho Li-đa, cô vợ khờ khạo của anh ta nữa. Hãy để cho họ biết. I-go của họ là một gã anh hùng rơm, một tay say rượu lỗ mãng…
Bà Ma-ri-na Xtô-pa-nốp-na nán lại chỗ đám đông cho tới khi cánh cửa có lưới sắt đóng lại sau lưng Mi-cla-sốp, rồi mới vào cửa hàng giao nộp phiếu thực phẩm…
 
2.
Ít hôm sau, vào lúc tối, khi bóng hoàng hôn nặng nề bao phủ khu rừng, đại úy Liu-sen-cô, Mi-cla-sốp và hai người khác là tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng cùng đi ra khỏi căn hầm chỉ huy.
Con đường nhỏ xuyên qua rừng chạy về hướng tây. Trời càng tối càng thấy lạnh, mùa đông chưa chịu đầu hàng, những vũng nước phủ lớp băng mỏng vỡ ra kêu lạo xạo dưới đế ủng bộ đội. Bầu trời sáng dần lên dưới ánh trăng lơ lửng tròn vành vạnh như một quả cầu vàng úa, hắt ra xung quanh thứ ánh sáng dìu dịu. Họ yên lặng đi theo lối đường rừng ngoằn ngoèo, ngang qua thê đội hai, tới vị trí chỉ huy của tiểu đoàn. Từ xa những người lính gác đã nhận ra chỉ huy của mình, nhưng họ vẫn dõng dạc hô khẩu lệnh và hỏi mật khẩu.
Hầm chỉ huy của tiểu đoàn hơi chật chội, nhưng có vẻ ấm áp và tiện lợi. Cô nữ chiến sĩ thông tin tóc trắng màu bạch kim, trẻ măng đang ngồi bên bếp lò dã chiến rực hồng. Thấy người lạ xuất hiện, cô vội đứng bật dậy, liếc nhanh nhìn Liu-sen-cô và lãnh đạm ngó sang Mi-cla-sốp lúc ấy đang mặc bộ quân phục lính trơn đã nhàu nát. Song cô có vẻ ngạc nhận thấy vẻ tôn trọng khó hiểu của tiểu đoàn trưởng và người đại úy lạ mặt đối với anh ta nên hơi nhún vai vẻ khó xử.
-Đồng chí gọi Rô-cô-tốp lên chưa?-Tiểu đoàn trưởng vừa cởi áo ca-pốt vừa hỏi.
-Báo cáo thượng úy, anh ấy đã có mặt ở đây, một quân nhân đứng tuổi mang quân hàm trung úy trả lời, rồi tự giới thiệu với Liu-sen-cô-trung úy Khơ-rô-mốp, chính trị viên tiểu đoàn.
Ở chỗ anh ấy thế nào?-Tiểu đoàn trưởng hỏi thêm.
vẫn yên ổn, tự anh ấy sẽ báo cáo thêm.-Giọng chính trị viên nhẹ nhành trầm trầm và khi nói anh vẫn phân biệt nguyên âm “O” không có trọng âm với âm “A”. Bọn Đức lại vừa tung truyền đơn sang đấy.
-Tốt.
-Hôm qua đồng chí vừa chửi rủa chúng về việc này, hôm nay lại vui thích. Tốt là tốt ở chỗ nào nhỉ?
Có ý nghĩa lắm đấy-tiểu đoàn trả lời một cách ý nhị rồi đột nhiên đổi hướng câu chuyện:
-Có gì thết khách không đấy?
Caâ này không phải hỏi chính trị viên mà là hỏi người chuẩn úy thấp bé có bộ ria rậm đang đứng bên kia bàn. Có lẽ anh này đã rờ tuyến trước với khẩu phần trăm gam rượu chống lạnh cách đây không lâu nên trông mắt anh ta ánh lên ranh mãnh:
-Báo cáo thủ trưởng, có ngay đây ạ!-Đoạn anh lách mình đi ra.
-Cho phép tôi được vào chứ ạ!-Một giọng rắn rỏi cất lên và trong khung cửa hầm chỉ huy xuất hiện một thiếu úy vóc dáng to lớn đi vào.
-Vào đi, Rô-cô-tốp-tiểu đoàn trưởng nói và giới thiệu với Mi-cla-sốp và Liu-sen-cô: Đây là anh Cô-xchi-a Rô-cô-tốp đại đội trưởng đại đội ba.
Mi-cla-sốp lập tức cảm thấy mến người thiếu úy, trông vóc dáng và thái độ anh có cái gì đó rất giống Gri-gô-ri Cun-ga cho dù khuôn mặt họ khác nhau. Khuôn mặt Rô-cô-tốp cháy nắng, sạm đen và nhợt đi vì gió rét. Khuôn mặt tuy không đẹp lắm nhưng cởi mở có vẻ tự tin và tự nhiên khiến người ta có cảm tình. Có lẽ chính vì thế mà nụ cười mang vẻ dịu dàng, gần như ngượng nghịu trên cặp môi dày đang thâm tím lại vì rét và cặp mắt thông minh, sôi động.
 
Trong khi Rô-cô-tốp báo cáo lại tình hình chiến sự ngoài tiền duyên thì bữa ăn tối đã được soạn ra bàn. Anh chiến sĩ cấp dưỡng đội mũ đầu bếp trắng, bày ra bàn những đĩa xếp đầy dưa chuột và dưa cải muối, món khoai tây rán thơm nức, đĩa giò cắt từng khoanh dày, thịt rán và bánh mì. Sau đó anh bắc ra một chiếc xoong nhỏ tỏa mùi xúp bắp cải ngào ngạt. Mi-cla-sốp nhìn bữa tối khá thịnh soạn không cần giấu giếm vẻ thích thú và nghĩ rằng ở tiền tiêu người ta sống cũng không đến nỗi tồi lắm; còn mai đây, trước mắt anh là những ngày đêm và anh không thể nào quên được chiếc bàn ăn giản dị nhưng thịnh soạn này ở ngay sát tiền duyên hai bên.
-Thế còn rượu chống lạnh cho anh em thì sao?-Chuẩn úy hỏi tiểu đoàn trưởng.
-Tôi không có quyền thay đổi khẩu phần của anh em ngoài tiền duyên,-tiểu đoàn trưởng trả lời, vẫn không ngẩng đầu khỏi tấm bản đồ.
-Mọi việc sẽ thực hiện đúng như vậy!
Một phút sau anh ta mang thêm ra một chai vốt-ca đặt lên bàn và mời:
-Xin mời các đồng chí uống một chút cho ấm bụng!…
Rô-cô-tốp đang báo cáo lại toàn bộ tình hình tuyến tiền duyên của địch, chỉ vào bản đồ những điểm hỏa lực, giao thông hào, các công sự, hầm chỉ huy và ụ súng.
-Thế còn bãi mìn thì sao?-Liu-sen-cô hỏi.
Rô-cô-tốp liếc nhìn đồng hồ.
-Sẽ có đường vượt qua. Anh em công binh đang dọn một “lối mòn”!
-Còn bên kia sông? Đành liều cho may rủi à?
-Sao lại phải liều? Rô-cô-tốp mỉm cười.-Theo nhiệm vụ của đồng chí giao chúng tôi đã theo dõi bọn Đức ba ngày liền và giờ đây có thể báo cáo với các đồng chí rằng, các chiến sĩ của tôi đã bố trí gần như sát bờ sông rồi. Ngay sát nách tụi Đức, họ bí mật nằm ở đó hàng ngày và ghi nhận kỹ hai lối mòn vượt qua bãi mìn của chúng. Xin các đồng chí hãy nhìn bản đồ, chúng tôi đã đánh dấu hai lối mòn ấy bằng bút chì xanh rồi đấy!
Mi-cla-sốp đặc biệt chú ý lắng nghe Rô-cô-tốp và nhìn theo ngón tay anh chỉ, ghi nhận thật kỹ những dấu hiệu bản đồ địa hình, bởi vì chỉ chốc nữa chính anh sẽ phải đơn phương độc mã không có công binh mở đường, vượt một cách an toàn tuyệt đối qua bãi mìn này của bọn phát-xít.
Công sự của bọn Đức bố trí trên sườn đồi. Địa thế của chúng rất thuận lợi. Xem ra thằng chỉ huy của chúng cũng có đầu óc suy nghĩ đấy. Trước tuyến tiền tiêu là bờ dốc thoai thoải chạy tới sát bờ con sông nhỏ, chỉ lưa thưa vài bụi cây lúp xúp. Theo Rô-cô-tốp báo cáo thì bờ sông thấp và đầy bùn lầy, Mi-cla-sốp đánh dấu chỗ sông nông nhất, nơi theo như tiểu đoàn trưởng báo cáo thì trinh sát đã vượt qua nhiều lần. Trận địa quân ta nằm ở ven rừng, cách bờ sông ít nhất ba trăm mét. Vị trí thấp và lầy lội, trống trải trông rõ như trong lòng bàn tay. Đôi chỗ lác đác những bụi cây khô cong từ năm ngoái và những bụi cây thưa thớt, thấp lè tè.
Đi tới bờ sông rất dễ. Ở đó có tổ bảo vệ tuyến trước và trạm quan sát của quân ta. Rô-cô-tốp khẳng định chắc nịch.
Trong lúc ấy Liu-sen-cô chăm chú chọn xếp lại tập truyền đơn bọn Đức vừa thả trong ngày, chọn một tờ nhàu nát nhất cho Mi-cla-sốp và nói thầm vào tai anh:
-Hãy cầm lấy giấy thông hành của anh!
Truyền đơn in bằng loại giất khá tốt. Mi-cla-sốp đọc vài lần lời kêu gọi. Bọn Hit-le khẳng định rằng những thắng lợi của Hồng quân Liên Xô chỉ là tạm thời, các binh đoàn mới đang từ nước Đức kéo sang và ngày tận số của Nhà nước Bôn-sê-vích đã điểm! “Các bạn hãy hạ sát bọn chỉ huy và chính trị viên! Hãy chạy sang hàng ngũ quân đội Đức vĩ đại khi còn chưa muộn! Chúng tôi sẽ bảo đảm cuộc sống và tự do cho các bạn sau chiến thắng huy hoàng của nước Đức quốc xã”.
Mi-cla-sốp vẫn lắng nghe, vừa chuyện trò với các sĩ quan trong căn hầm nhưng trước mắt anh luôn hiện rõ tấm bản đồ địa hình và anh đã mường tượng ra từng bước đi, cảnh vượt con sông lạnh buốt, lao vào các chiến hào và hầm trú ẩn của quân Đức tới một nơi thù địch hoàn toàn xa lạ chưa hề biết tới và khó hình dung nổi nó sẽ ra sao.
Anh chợt cảm thấy giây phút này trong mình có hai Mi-cla-sốp hoàn toàn trái ngược nhau. Một Mi-cla-sốp thực sự đang ngồi đây lắng nghe, hỏi chuyện với những người bạn chiến đấu, những đồng chí cùng chiến hào và một Mi-cla-sốp ở bên kia trận tuyến.
 
-Kìa anh bạn, ăn đi chứ, ăn đi!… Nào để tôi tiếp dưa chuột và bắp cải thêm cho. Ở bên kia chúng chẳng mời cậu ăn những món này đâu!-Rô-cô-tốp vồn vãn săn sóc anh, gắp đầy đĩa thức ăn cho anh.
Anh từ chối uống rượu, Liu-sen-cô gật đầu đồng tình. Đầu óc tỉnh táo thì bao giờ làm việc cũng tốt hơn.
Ăn xong, Mi-cla-sốp đề nghị:
-Ta ra ngoài dạo một lát cho thoáng đi!
-Được thôi, Liu-sen-cô tán thành ngay và họ bước ra khỏi căn hầm chật chội.
-Hồi hộp hả-Liu-sen-cô khẽ hỏi.
I-go thở dài:
-Sao cậu im lặng thế?
-Tôi đang nghĩ.
-Về gia đình ư?
-Vâng, đúng vậy.
-Đừng lo lắng gì cả!
-Tôi tin như vậy, các đồng chí sẽ không quên gia đình tôi.
-Cậu nhận được thư nhà cách đây lâu chưa?
-Lá thư cuối cùng cách đây một tuần. Li-đa viết rằng mọi việc đều bình thường. Cô ấy vẫn vậy… Không bao giờ phàn nàn gì cả.
-Vợ mình cũng vậy,-Sau chiến tranh có lẽ phải dựng đài kỷ niệm cho họ mới được.
Từ hướng tiền tiêu vọng lại những tiếng súng rời rạc lạc lõng. Có tiếng máy bay cao tít trên bầu trời.
-máy bay ta,-Mi-cla-sốp xác định theo tiếng ầm ì quen thuộc,-máy bay ném bom!
-Họ mang quà đến cho tụi Đức đấy!-Liu-sen-cô khẳng định rồi quay trở lại hầm trú ẩn.-I-go này, tốt nhất là cậu nên đi nghỉ một lát cho tỉnh táo. Cứ ngủ một giấc cũng được.

------------------------------------------------------------
Puỳnh, em đã bắn xong hai loạt đạn BM-13 vào 2 mục tiêu: Con nuôi trung đoàn và Đứng vững đến cùng! Sang năm mới, chúc các bác may mắn và mạnh khoẻ! :D :D
Thôi em rút để còn chiến tiếp chỗ khác! :P
 
3.
Li-đa Mi-cla-sô-va trở về nhà muộn hơn mọi ngày. Chị phải đi đặt thực phẩm trước hai ngày để chiều mai sau giờ làm việc về đỡ phải chen chúc trong cửa hàng. Tự nhiên chị thấy thèm ăn và thế là ngay trước quầy hàng, chả cần lau sạch gì cả, chị bỏ luôn vào miệng miếng giò nhỏ người bán hàng vừa thêm cho đủ cân. Về nhà mình sẽ luộc khoai tây và mở luôn hộp thịt ra ăn. Li-đa thầm suy tính,-khoai tây vứi đậu Hà Lan hầm thịt… thì còn gì ngon hơn nữa! An-đriu-sa luôn mồm vòi vĩnh ăn món đó mà chị chỉ còn có ba hộp thịt. Đào đâu ra thêm nữa một khi không còn tiền và cũng chẳng còn gì để bán nữa… “Li-đa thầm nghĩ:-Ta sẽ sống, chẳng chết được đâu mà lo”. Đó là câu nói ưa thích gần như thành ngạn ngữ của bà chủ nhà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na. Tuần trước, khi Li-đa nhận được thư chồng báo tin khóa học đã kết thúc và anh đang trên đường ra chiến trường và nhẹ nhành nhắc trước chị rằng chuyến đi này có lẽ rất phức tạp và có lẽ phải một thời gian lâu sẽ không có tin tức gì. Thế là Li-đa xúc động quá kêu lên vẻ tuyệt vọng và òa khóc nức nở. Nhưng ngay lúc đó bà Mác-pha đã buộc chị nín đi và lên tiếng quở trách chị “mau nước mắt” vì “những chuyện không đâu” và bà nói với giọng nghiêm trang:
-Cô hãy đi rửa mặt và chải lại đầu tóc đi! Để tôi khỏi phải nhìn cô bơ phờ như thế này nữa! Ở ngoài mặt trận, đàn ông họ linh cảm bằng con tim, từng giọt nuớc mắt của đàn bà chúng minh và rồi họ sẽ rối trí lên đấy… Mà khi đã rối trí thì họ có còn là một người lính nữa không, hả? Rặt những chuyện vớ vẩn vặt vãnh bên ngoài!
Khi Li-đa đã nguôi nguôi, bà thân mến ôm lấy đôi vai chị, thở dài rồi nói thầm:
-Ôi, Li-đa! Họ sẽ sống, sẽ sống cháu ạ. Cánh đàn ông của chúng ta sẽ trở về! Đấy, tôi nhận được ba cái giấy báo tử đấy, nhưng tôi không tin rằng bọn phát-xít lại có thể giết được cả ba người thân yêu nhất của tôi. Tôi không tin, chỉ có thế thôi!
Khi Li-đa về gần tới nhà thì gió đột ngột từ hướng bên thổi tốc tới, bốc lên từng nắm tuyết phả vào mặt đau rát khiến chị phải nheo mắt nín thở. Từng đám bụi tuyết cuốn nhanh đuổi nhau trên hè phố, Li-đa chạy vội về nhà mở cửa vào, chị nhạn thấy cửa sổ sáng rực khác hẳn mọi ngày và từ bên trong vẳng ra tiếng nói cười ầm ĩ, vui vẻ như thể người ta đang kỷ niệm ngày lễ vậy.
“Mình không mơ ngủ đấy chứ nhỉ?-“Li-đa thầm nghĩ và chị nhắm mắt lại, nhưng tiếng ồn ào vui vẻ vẫn dội vào tai. Có chuyện gì thế nhỉ? Và bỗng như có ai thúc vào lưng chị, Li-đa bật chạy lên thềm nhà, đẩy tung cánh cửa phòng. Không hiểu tại sao chị bỗng có cảm giác như là I-go của chị đang ở trong nhà, anh đã được về nghỉ phép và tổ chức liên hoan gặp mặt mọi người. Anh ấy chả đã từng viết là nếu họ gặp lại nhau thì anh sẽ làm một bữa tiệc vui nổ trời là gì?… Tại sao tự nhiên chị lại có ý nghĩ ấy và chính Li-đa cũng không trả lời được. Không kịp cởi áo bành-tô và ủng, chị bước ào vào phòng.
Xung quanh chiếc bàn lớn giữa phòng các bà các chị trong tổ bốc xếp của bà Mác-pha ngồi chật ních. Họ đang uống “rượng ngang” với nhau.
-A, Li-đa đã về!-Bà Mác-pha vui vẻ kêu lên và đứng dậy đón Li-đa,-bỏ áo khoác ra và ngồi xuống đây! Hôm nay chúng ta hãy vui với nhau thật thoải mái! Thằng Phê-đô, đưa con cả của tôi ấy, vẫn sống, vẫn còn sống!…
Họ cởi áo khoác cho Li-đa kéo chị ngồi xuống và giúi vào tay chị chén rượu, trong lúc chị vẫn đưa mắt tìm trong số những người ngồi đấy một người không có mặt và bất giác ngượng nghịu mỉm cười trước niềm vui của mọi người.
-Uống đi, phải phạt vì cô về chậm đấy!
-Uống đi cô gái thủ đô của chúng tôi!
-Uống cạn chén đấy, em gái của chị!
Ly rượu làm Li-đa cảm thấy như cháy cổ và người nóng bừng lên. Chị bị sặc, nhưng người ngồi bên cạnh đã ấn vào tay chị củ khoai tây luộc!
-Nhắm đi, cô bạn thân mến! Vui quá, bọn tôi đã làm cạn một lít rồi đấy!
Trên bàn còn một chai ba phần tư lít đựng thứ nước ánh xanh, còn trong các đĩa sâu là khoai tây rán thơm nức, dưa bắp cải đầy ắp trong những chiếc bát màu xanh lục rắc một lớp hành thái nhỏ, còn thịt muối thái mỏng, giò rán cháy cạnh và trứng thì được bày trong các đĩa nhỏ viền hồng. Đã lâu lắm Li-đa chưa hề có được bữa ăn linh đình như thế này.
-Mẹ ơi,-An-đriu-sa ngồi trên đùi cô Vác-va-ra có cặp má hồng hây hây đang phồng mồm nhai ngon lành miếng bánh mì kẹp thịt mỡ.-Mẹ này!
 
Back
Top