Đứng vững đến cùng!

Căn phòng ấm cúng và hơi rượu bốc nóng trong người làm Li-đa quên ngay hết mệt mỏi và cảm thấy dễ chịu ngay. Li-đa ăn ngon lành món khoai tây, dưa bắp cải, giò và lắng nghe cô An-tô-nhi-a-một cô gái khỏe mạnh, có bộ ngực đầy đặn được coi như con dâu tương lai của bà Mác-pha. Cô đang đọc lại không biết lần thứ mấy, lá thư của Phê-đô từ quân y viện gửi về cho mẹ. Anh báo tin, mình vẫn sống và đã hồi phục sức khỏe sau khi bị thương ở chân trái, gãy xương dưới đầu gối, nhưng người ta đã làm phẫu thuật cho anh và hiện nay đang bó bột, bác sĩ nói rằng chắc chắn xương sẽ liền.
Anh con trai còn kể cho mẹ biết trung đoàn của anh đã vượt vòng vây trở về với quân ta ra sao, và vì một sự lầm lẫn cẩu thả, người ta tưởng các anh đã hy sinh, nhưng họ vẫn còn nguyên vẹn trở về với một khẩu pháo được sửa chữa lại và những khẩu súng máy của bọn Đức. Anh còn kể chuyện về người thương binh nằm cạnh giường anh là anh hùng xe tăng Gri-gô-ri Cun-ga vừa được tặng thưởng huân chương Lê-nin và tất cả mọi người đều chúc mừng anh. Người anh hùng xe tăng ấy đã từng chiến đấu ở Lê-nin-grát rất dũng cảm và tuy giờ đang nằm viện nhưng các vết thương của anh đang dần dần bình phục. Các bạn chiến đấu của Cun-ga đã ngã xuống trong trận chiến đấu không cân sức.
-Đọc tiếp những lời thăm hỏi của anh ấy đi.-Mấy bà đã chuếnh choáng say, lè nhè giục.
An-tô-nhi-a mặt càng đỏ bừng, giọng run run vì sung sướng đọc tên những người họ hàng và thân thích mà Phê-đô gửi lời thăm hỏi thân thiết, trong đó tất nhiên có cả cô. Và không chỉ có vậy, anh còn viết riêng một dòng: “Gửi lời chào quý mến tới cô bé hàng xóm Tô-nhi-a của chúng ta, nếu cô ấy chưa quên con”.
An-tô-nhi-a ngừng đọc, khẽ nói:
-Làm sao cháu có thể quên anh ấy được khi cháu vẫn còn giữ mãi hình ảnh của anh ấy ở nơi này,-cô nói và ấp bàn tay cầm lá thư vào ngực mình.
Chị Vác-va-ra nói xen vào:
-Vậy hãy cạn chén nữa mừng sự kiện này. Mừng cánh đàn ông của chúng ta.
Sau ly rượu thứ hai Li-đa thấy choáng váng. Chị có cảm giác cơ thể như nhão ra, như bị rút mất xương, đôi chân không tuân theo sự điều khiển của chị nữa nhưng lòng chị lại tràn đầy hân hoan vui sướng. Chị đón nhận niềm hạnh phúc của người khác như chính của mình. Các bà thay nhau tiếp thức ăn cho chị, gắp vào đĩa chị đủ các món: khoai tây, thịt mỡ muối và dưa chuột ròn tan trong miệng, chua ngấm đến tận chân răng.
-Li-đa, cô vừa đi làm về mà… Cô cứ ăn tự nhiên đi, đừng ngượng nghịu gì hết…
Có ai đó bật máy hát và trong căn phòng ngột ngạt vang lên một điệu tăng-gô quen thuộc đến nhức nhối. Giọng hát mượt như nhung của nữ ca sĩ nổi tiếng cất theo điệu nhạc. Li-đa khép mắt mơ màng nhớ lại nơi hàng hiện rộng thênh thang của ngôi nhà nghỉ nằm ven sông I-xtơ-ra được trang điểm bởi những cành táo đầy hoa trắng mọc vươn dài tới tận cửa sổ, dưới ánh sáng mờ ảo, chị cùng I-go nép mình vào nhau chầm chậm quay theo bản nhạc tăng-gô ấy!
“… Em có nhớ chăng,
những cuộc gặp gỡ của chúng ta,
và buổi chiều ấy nhuốm màu xanh…”
Nhưng bỗng nhiên một giọng nữ khác chắc nịch, đầy phấn chấn và hy vọng cất vút lên át cả nhạc đêm và tiếng hát của nữ ca sĩ nổi tiếng kia. Li-đa mở choàng mắt định phản đối, nhưng sững người há mồm, không thốt ra được lời nào. Bà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na đang hát, chống khuỷu tay lên bàn, má tựa vào lòng bàn tay mắt đăm đăm nhìn ly rượu đã cạn. Những người phụ nữ khác ngà ngà hơi men cũng đang hòa theo bà, mang vào lời bài hát nỗi buồn man mác và lòng khao khát những niềm vui:
“… Sao em đứng đó-ó-ó mà-à đu-ung đư-ưa
Hỡi cây tha-a-anh tra-à-à mảnh de-ẻ-ẻ…”
Họ hát hết bài. Rồi bà Mác-pha đứng dậy đi tới bên chiếc tủ mở ngăn kéo trên cùng lấy ra một bức thư. Li-đa thờ ơ nhìn theo bà và lơ đãng mỉm cười. Đầu chị ê ẩm nặng nề, tim như tách khỏi lồng ngực và như dừng lại giây lát trong sự mệt mỏi êm dịu. Thời gian gần đây chưa lúc nào chị thấy thoải mái như lúc này. Hai má Li-đa ửng hồng và ngọn lửa ấm áp, dìu dịu như đang sưởi ấm lòng chị.
-Thư này gửi cho Li-đa đây,-Bà Mác-pha bỗng nói.-Hôm nay cô ấy có tin vui!
Nghe thấy vậy Li-đa như tỉnh hẳn ra, chị nhoài cả người về phía bà chủ nhà, đón bức thư.
-Thư I-go đấy. Bác cho cháu xin nào!
-Đầu tiên phải nhảy một điệu đã,-An-tô-nhi-a cướp lá thư từ tay bà Mác-pha giơ cao trên đầu,-Có phải không các bà các chị?
-Nhảy đi! Nhảy đi!-Tất cả đồng thanh hô lên.
-Nhưng để tôi xem thư của ai đã, rồi tôi sẽ nhảy hết mình. Li-đa đứng dậy bước tới phía An-tô-nhi-a. Cô ta giơ cho chị xem phong bì từ xa. Lướt nhìn địa chỉ người gửi, Li-đa phảy tay:
-Ồ, thư của bà hàng xóm Ma-ri-na Xtê-pa-nốp-na… Thế mà tôi cứ tưởng là của anh ấy…
Vác-va-ra nói xen vào:
-Kể ra biết được ở Mát-xcơ-va hiện nay họ sống ra sao cũng thú vị đấy chứ? Đọc to lên cho mọi người cùng nghe đi, An-tô-nhi-a!
-Đọc được chứ, chị Li-đa?-An-tô-nhi-a đưa mắt hỏi Li-đa. Không có gì bí mật chứ?
-Bây giờ thì có gì là bí mật đâu. Cô cứ đọc đi!
Nhưng ngay từ những dòng đầu tiên chị đã thấy ngờ ngợ. An-tô-nhi-a cùng đọc, Li-đa càng thất tỉnh hẳn người ra.
-Trời ơi, thế này là thế nào?-Li-đa hai tay ôm mặt khóc nức nở.-Anh ấy làm sao vậy? Sao lại có thể như vậy được?
 
Xin lỗi các Bác, cho hỏi 1 câu là truyện này đến đây đã hết chưa. Đọc không có kết thúc thì không khoái lắm. :oops:
 
Căn phòng ấm cúng và hơi rượu bốc nóng trong người làm Li-đa quên ngay hết mệt mỏi và cảm thấy dễ chịu ngay. Li-đa ăn ngon lành món khoai tây, dưa bắp cải, giò và lắng nghe cô An-tô-nhi-a-một cô gái khỏe mạnh, có bộ ngực đầy đặn được coi như con dâu tương lai của bà Mác-pha. Cô đang đọc lại không biết lần thứ mấy, lá thư của Phê-đô từ quân y viện gửi về cho mẹ. Anh báo tin, mình vẫn sống và đã hồi phục sức khỏe sau khi bị thương ở chân trái, gãy xương dưới đầu gối, nhưng người ta đã làm phẫu thuật cho anh và hiện nay đang bó bột, bác sĩ nói rằng chắc chắn xương sẽ liền.
Anh con trai còn kể cho mẹ biết trung đoàn của anh đã vượt vòng vây trở về với quân ta ra sao, và vì một sự lầm lẫn cẩu thả, người ta tưởng các anh đã hy sinh, nhưng họ vẫn còn nguyên vẹn trở về với một khẩu pháo được sửa chữa lại và những khẩu súng máy của bọn Đức. Anh còn kể chuyện về người thương binh nằm cạnh giường anh là anh hùng xe tăng Gri-gô-ri Cun-ga vừa được tặng thưởng huân chương Lê-nin và tất cả mọi người đều chúc mừng anh. Người anh hùng xe tăng ấy đã từng chiến đấu ở Lê-nin-grát rất dũng cảm và tuy giờ đang nằm viện nhưng các vết thương của anh đang dần dần bình phục. Các bạn chiến đấu của Cun-ga đã ngã xuống trong trận chiến đấu không cân sức.
-Đọc tiếp những lời thăm hỏi của anh ấy đi.-Mấy bà đã chuếnh choáng say, lè nhè giục.
An-tô-nhi-a mặt càng đỏ bừng, giọng run run vì sung sướng đọc tên những người họ hàng và thân thích mà Phê-đô gửi lời thăm hỏi thân thiết, trong đó tất nhiên có cả cô. Và không chỉ có vậy, anh còn viết riêng một dòng: “Gửi lời chào quý mến tới cô bé hàng xóm Tô-nhi-a của chúng ta, nếu cô ấy chưa quên con”.
An-tô-nhi-a ngừng đọc, khẽ nói:
-Làm sao cháu có thể quên anh ấy được khi cháu vẫn còn giữ mãi hình ảnh của anh ấy ở nơi này,-cô nói và ấp bàn tay cầm lá thư vào ngực mình.
Chị Vác-va-ra nói xen vào:
-Vậy hãy cạn chén nữa mừng sự kiện này. Mừng cánh đàn ông của chúng ta.
Sau ly rượu thứ hai Li-đa thấy choáng váng. Chị có cảm giác cơ thể như nhão ra, như bị rút mất xương, đôi chân không tuân theo sự điều khiển của chị nữa nhưng lòng chị lại tràn đầy hân hoan vui sướng. Chị đón nhận niềm hạnh phúc của người khác như chính của mình. Các bà thay nhau tiếp thức ăn cho chị, gắp vào đĩa chị đủ các món: khoai tây, thịt mỡ muối và dưa chuột ròn tan trong miệng, chua ngấm đến tận chân răng.
-Li-đa, cô vừa đi làm về mà… Cô cứ ăn tự nhiên đi, đừng ngượng nghịu gì hết…
Có ai đó bật máy hát và trong căn phòng ngột ngạt vang lên một điệu tăng-gô quen thuộc đến nhức nhối. Giọng hát mượt như nhung của nữ ca sĩ nổi tiếng cất theo điệu nhạc. Li-đa khép mắt mơ màng nhớ lại nơi hàng hiện rộng thênh thang của ngôi nhà nghỉ nằm ven sông I-xtơ-ra được trang điểm bởi những cành táo đầy hoa trắng mọc vươn dài tới tận cửa sổ, dưới ánh sáng mờ ảo, chị cùng I-go nép mình vào nhau chầm chậm quay theo bản nhạc tăng-gô ấy!
“… Em có nhớ chăng,
những cuộc gặp gỡ của chúng ta,
và buổi chiều ấy nhuốm màu xanh…”
Nhưng bỗng nhiên một giọng nữ khác chắc nịch, đầy phấn chấn và hy vọng cất vút lên át cả nhạc đêm và tiếng hát của nữ ca sĩ nổi tiếng kia. Li-đa mở choàng mắt định phản đối, nhưng sững người há mồm, không thốt ra được lời nào. Bà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na đang hát, chống khuỷu tay lên bàn, má tựa vào lòng bàn tay mắt đăm đăm nhìn ly rượu đã cạn. Những người phụ nữ khác ngà ngà hơi men cũng đang hòa theo bà, mang vào lời bài hát nỗi buồn man mác và lòng khao khát những niềm vui:
“… Sao em đứng đó-ó-ó mà-à đu-ung đư-ưa
Hỡi cây tha-a-anh tra-à-à mảnh de-ẻ-ẻ…”
Họ hát hết bài. Rồi bà Mác-pha đứng dậy đi tới bên chiếc tủ mở ngăn kéo trên cùng lấy ra một bức thư. Li-đa thờ ơ nhìn theo bà và lơ đãng mỉm cười. Đầu chị ê ẩm nặng nề, tim như tách khỏi lồng ngực và như dừng lại giây lát trong sự mệt mỏi êm dịu. Thời gian gần đây chưa lúc nào chị thấy thoải mái như lúc này. Hai má Li-đa ửng hồng và ngọn lửa ấm áp, dìu dịu như đang sưởi ấm lòng chị.
-Thư này gửi cho Li-đa đây,-Bà Mác-pha bỗng nói.-Hôm nay cô ấy có tin vui!
Nghe thấy vậy Li-đa như tỉnh hẳn ra, chị nhoài cả người về phía bà chủ nhà, đón bức thư.
-Thư I-go đấy. Bác cho cháu xin nào!
-Đầu tiên phải nhảy một điệu đã,-An-tô-nhi-a cướp lá thư từ tay bà Mác-pha giơ cao trên đầu,-Có phải không các bà các chị?
-Nhảy đi! Nhảy đi!-Tất cả đồng thanh hô lên.
-Nhưng để tôi xem thư của ai đã, rồi tôi sẽ nhảy hết mình. Li-đa đứng dậy bước tới phía An-tô-nhi-a. Cô ta giơ cho chị xem phong bì từ xa. Lướt nhìn địa chỉ người gửi, Li-đa phảy tay:
-Ồ, thư của bà hàng xóm Ma-ri-na Xtê-pa-nốp-na… Thế mà tôi cứ tưởng là của anh ấy…
Vác-va-ra nói xen vào:
-Kể ra biết được ở Mát-xcơ-va hiện nay họ sống ra sao cũng thú vị đấy chứ? Đọc to lên cho mọi người cùng nghe đi, An-tô-nhi-a!
-Đọc được chứ, chị Li-đa?-An-tô-nhi-a đưa mắt hỏi Li-đa. Không có gì bí mật chứ?
-Bây giờ thì có gì là bí mật đâu. Cô cứ đọc đi!
Nhưng ngay từ những dòng đầu tiên chị đã thấy ngờ ngợ. An-tô-nhi-a cùng đọc, Li-đa càng thất tỉnh hẳn người ra.
-Trời ơi, thế này là thế nào?-Li-đa hai tay ôm mặt khóc nức nở.-Anh ấy làm sao vậy? Sao lại có thể như vậy được?
 
4.
Trinh sát viên tiễn Mi-cla-sốp tới bờ sông. Băng cũng vừa tan, những mảng băng mỏng giống như những mảnh thủy tinh lập lờ trôi bên bờ. Nước lạnh buốt đến tận xương. “Nhanh lên, nhanh lên”-I-go thầm giục mình, lội bì bõm theo dãy sông đầy bùn lầy-nhanh nữa lên!”.
Màn sương sớm trắng mờ là là bao phủ mặt sông. Phía trước đã xuất hiện mờ mờ các công sự của bọn Đức. Mi-cla-sốp bỗng nhún mình vọt nhanh tới hướng đó tay giơ cao tờ truyền đơn, miệng hét lớn:
-Đừng bắn! Xin các ông đừng bắn!
Bỗng phía sau lưng anh rộ lên tiếng súng đuổi theo. Đạn rít ngay bên mình làm anh cảm thấy gai gai cả người. Chưa bao giờ người của ta lại nã đạn vào sau lưng anh, chưa bao giờ người bắn anh lại là quân ta cả. I-go biết rõ, phía sau anh chính là Liu-sen-cô đang điều khiển cuộc bắn đuổi này, nhưng anh cũng phát ghê người khi nghĩ rằng có ai đảm bảo sẽ không có trường hợp oái oăm khi một tay thiện xạ tận tâm nào đó trong cơn hăng máu và căm thù lại quên đi và ngỡ rằng “kẻ đào ngũ” kia chính là một tên phản bội thực sự và anh ta sẽ quyết găm vào lưng mình một phát đạn trừng phạt thực sự thì sao?
Mi-cla-sốp ngã sấp xuống, chồm dậy rồi lại chạy. Bộ quần áo ướt sũng, ngấm nước lạnh buốt và đầy bùn dính bê bết vào người. Nước sông dù không sâu lắm nhưng bờ bị sụt lở ngập đầy bùn, hơn nữa I-go lại vấp phải một gốc cây cong queo ngập dưới nước nên bị ngã bổ chửng và buộc phải hì hụp ngụp lặn…
-Đừng bắn! Tôi chạy xang hàng các ngài!
Bên chiến hào quân Đức vẫn câm lặng tựa như không hề có một tên nào ở đó cả. Nhưng I-go biết rõ là, chính lúc này đây, không phải chỉ có một cặp mắt đang theo dõi từng bước đi của anh, đang lặng lẽ và lạnh lùng đưa bóng anh vào vòng ngắm của hàng chục mũi súng. Còn phải vượt nốt khoảng năm chục mét cuối cùng qua bãi trống bằng phẳng trước công sự địch. Bọn Đức đã phát trụi cả những bụi cây nhỏ để tạo ra một vành đai trắng ngay phía trước tuyến phòng thủ của chúng.
Mi-cla-sốp hít một hơi dài, chồm lên định chạy một mạch vượt qua khoảng trống đó, nhưng anh vừa vọt lên được một vài bước thì ngay phía lưng anh, trận địa quân ta lại rộ lên tiếng súng nổ “khéo họ bắn khóa cái bãi này lại thì hỏng kiểu, mình chết dí ở đây mất”-ý nghĩ ấy như thiêu đốt I-go. Anh ngã nhào ngay xuống đất, úp mặt vào đám cỏ khô úa từ bao giờ mà đâm cả vào những ngọn cỏ như gai.
Những mét cuối cùng anh bò vội vã, tay vẫn nắm chặt tờ truyền đơn, để lại sau mình một vệt đen bẩn nhem nhuốc trên lớp cỏ khô úa lạnh cứng. Khi bò tới công sự địch, và cũng quả là kỳ lạ, Mi-cla-sốp bỗng cảm thấy nhẹ hẳn người đi, dường như những điều khủng khiếp nhất đã trôi qua. Điều đập ngay vào mắt anh là công sự bọn Đức khá sạch sẽ và ngăn nắp. Bờ chiến hào được ốp gỗ để tránh lở. Có thể nghĩ rằng, quân Đức đã ở đây từ lâu và sẽ còn ở lại đây trong một thời gian dài nữa.
Đường giao thông hào khá sâu đủ để đứng thẳng người lên mà đi chứ không cần khom lưng. I-go còn nhớ kỹ hàng chục cặp mắt những tên lính Đức trân trân nhìn anh vừa ngạc nhiên vừa ngờ vực. Một số tên công khai tỏ vẻ không có gì là thiện cảm dường như muốn hỏi ngay xem quỷ thần nào đã sai khiến kẻ kia chạy sang đầu hàng trong khi chính tình hình của chúng ở đây cũng chẳng có gì là tốt đẹp và ngay bọn chúng cũng không biết được liệu chúng còn chống chọi được bao lâu nữa ở cái đất Nga khốn khổ này.
Mi-cla-sốp bị giải tới hầm tên chỉ huy. Anh bước đi trong công sự và có ý nghĩ ngây ngô rằng quả thật mình chẳng hề có hằn thù gì với những kẻ mặc quân phục kia.
Cảm giác lo ngại và khổ sở mấy phút vừa qua khi anh bị quân ta bắn đuổi làm bị thương nhẹ đã qua đi, giờ đây nó đã nhường chỗ cho một cảm giác dễ chịu và thư thái.
I-go thở dốc, nặng nề, miệng khô đắng. Anh ém tay phải ấn chặt vào vết thương ở sườn trái, chưa biết nó ra làm sao còn tay trái thì bóp chặt cánh tay phải cố giữ cho máu từ vết thương thứ hai khỏi trào ra.
Do thế nên anh bước đi trong tư thế lòng khòng, hai vai so lại, toàn thân ẩm ướt dính đầy bùn, nước trong ủng kêu lép nhép, khó chịu.
Viên sĩ quan đón anh lính đào ngũ với vẻ thân thiện. Hiển nhiên, hắn đã được báo trước. Người gã tầm thước, vai rộng, và khuôn mặt xương xương. Trông hắn già hơn Mi-cla-sốp. Ngực áo hắn lấp lánh chiếc huân chương “Chữ thập sắt”.
-“Giỏi lắm! Tột lắm!”,-Hắn bập bẹ tiếng Nga, vỗ vai Mi-cla-sốp và ra luôn mệnh lệnh bằng tiếng Đức:
-Đưa về tuyến sau!
Bọn chúng tống anh vào thùng xe đã chờ sẵn và áp giải anh đi về nơi tập trung.
 
5.
Cuộc hỏi cung kéo dài ba giờ liên. Trận đấu tay đôi bước sang giờ thứ ba. Bọn Đức đã hỏi cung Mi-cla-sốp hai lần. Lần thứ nhất ngay tại sở chỉ huy tiền duyên. Lần thứ hai trong trại hiến binh dã chiến. Và bây giờ trước mặt anh là bọn Giét-ta-pô cáo già. Những chiếc bóng đèn treo trên trần nhà soi tỏ căn phòng lạnh lẽo. Mi-cla-sốp ngồi im trên chiếc ghế đầu kê sát bức tường nhiều chỗ đã hoen ố bởi những vệt màu nâu sẫm và những vết vữa thủng lỗ chỗ như rỗ hoa, phơi cả màu gạch đỏ, Mi-cla-sốp hiểu rõ đó là những vết đạn. Có lẽ bọn chủ căn phòng này trong lúc hỏi cung vẫn thường dùng tới vũ khí. Phía bên phải là cửa sổ hai lớp lưới sắt. Bên trái là một két sắt, có lẽ được lôi từ một quỹ tiết kiệm nào đó về đây cùng với chiếc bàn to cồng kênh chất đầy giấy tờ. Cạnh đó là chiếc mắc áo treo cái mũ lưỡi trai và áo ca-pốt của tên Giét-ta-pô Đức.
Ngay trước mặt Mi-cla-sốp là chiếc bàn rộng, làm bằng một loại gỗ màu sáng có hai dãy ngăn hai bên, đôi chỗ đã bị bẩn và xước. Trên bàn cũng có máy điện thoại, một tập “hồ sơ” mở sẵn, một chiếc đèn bàn chao màu hồng khá sang, bộ đồ bút và lọ mực bằng thủy tinh.
Tên sĩ quan thẩm vấn ngồi oai vệ trong chiếc ghế bành cao phía bên kia bàn. Hắn chỉ khoảng ba lăm, ba sáu tuổi là cùng. Cổ áo quân phục mở phanh để lộ cái cổ to như cổ lực sĩ đỡ lấy cái đầu quá nhỏ so với thân thể cường tráng ấy. Mớ tóc thẫm màu xõa xuống cái trán dô, vài nhóm tóc rũ xuống tận đôi lông mày ngắn đôi mắt trông đầy vẻ nham hiểm và đanh ác. Cặp mắt như có ánh thép trông sắc lạnh dưới ngọn đèn điện để bàn. Hắn nói tiếng Nga khá sõi. Chính hắn khoe với Mi-cla-sốp rằng, hắn đã từng sống mười năm ở Khác-cốp, là kỹ sư tại nhà máy sản xuất máy kéo và đã bí mật làm việc cho người Đức cũng gần từng ấy năm. “Họ đã để sổng mất một thằng khốn kiếp…” I-go căm hờn nghĩ.
Tên sĩ quan hỏi liên hồi hết câu này sang câu hỏi, cốt làm cho Mi-cla-sốp cuống lên, bị nhầm lẫn để có thể “hạ” anh ngay. Những câu hỏi của hắn lắt léo, quỷ quyệt và bất ngờ.
Thế… hiểu rồi. Mọi việc xem ra ăn khớp đấy chứ… Thoạt đầu thì có vẻ có thể tin được và hắn cởi thêm một khuy áo nữa như thể chuẩn bị nghỉ ngơi nhưng đột nhiên hắn nhếch cặp môi dày, đen sì ra và đổi giọng, quát lên:
-Đứng dậy, đồ súc vật!
Mi-cla-sốp đứng bật dậy ngay theo đúng lệnh hắn.
-Mày hãy trả lời ngay các câu hỏi của tao thật nhanh thật chính xác, nghe chưa?-Hắn chồm hẳn người về phía trước như định húc vào anh, nhìn xoáy vào Mi-cla-sốp, đôi mắt long lên hằn học:-Mày phục vụ ở đơn vị nào?
-Trung đoàn cao xạ Một mười chín.
-Đảng viên?
-Không.
-Đoàn viên?
-Đã, nhưng bị khai trừ.
-Nói láo!
-Các ông có thể thẩm tra,-Mi-cla-sốp cũng trả lời nhanh và cụt ngủn như cách hắn hỏi, anh hiểu rằng, điều chủ yếu đối với anh bây giờ là đừng nói điều gì thừa, bởi lẽ mỗi lời vờ vĩnh thốt ra đều kéo theo hàng lô câu hỏi khác.
-Chúng tao sẽ thẩm tra! Cấp bậc gì? Nhìn thẳng vào mắt tao đây này!
-Trước đã là thượng sĩ, sau bị giáng xuống làm lính trơn.
-Tao không tin như vậy, đồ con lợn. Ai dạy môn vẽ địa hình?
-Môn vẽ địa hình nào cơ?
-Ở trường huấn luyện tình báo ấy!
-Tôi không hề biết trường ấy.
-Thế phòng tập bắn ở đâu?
-Trong công viên thành phố “Prét-nhi-a Đỏ” hồi trước chiến tranh có phòng bắn, chỉ mất một rúp là có thể bắn súng hơi thoải mái,-Mi-cla-sốp điềm nhiên trả lời vờ như không hiểu câu hỏi.
-Tao hỏi phòng tập bắn khác kia!
-Thế thì ở trung đoàn, ngay cạnh thao trường.
-Mày bắn súng lục được bao nhiêu điểm?
-Tôi không biết, tôi chưa bắn thử lần nào. Chỉ mới một lần bắn thử pa-ra-ben-lom vào vỏ chai để ăn cuộc và sau đấy đã bị cạo một trận nên thân.
-A ha, mày mắc bẫy rồi nhé,-cặp mắt tên phát-xít ánh lên vẻ mừng rỡ.-nghĩa là mày đã biết bắn súng pa-ra-ben-lom chứ gì?
-Vâng, đã bắn một lần trong một buổi nhậu nhẹt.
-Đúg mày là sĩ quan, đừng có mà chối nữa!
-Tôi chỉ là lính thường.-Mi-cla-sốp nói to, dõng dạc.-Tôi đã bị giáng chức theo quyết định của tòa án quân sự.
-Thôi đủ rồi. Mày nghĩ rằng chúng tao đều đần độn đến mức không nhận ra là mày đã học thuộc lòng tất cả hay sao? Bọn chuyên viên của chúng mày làm việc còn non nớt lắm và đã vẽ cho mày một câu chuyện giả quá tồi. Mày hiểu chứ?
-Tôi không hiểu gì hết!
-Đóng kích như vậy đủ rồi!-Tên sĩ quan dừng lại tỏ vẻ hết sức bí mật và hỏi một cách quả quyết:
-Mày không phải là một thằng đào ngũ! Chúng nó đã huấn luyện mày ở trường đào tạo tình báo, nơi có nhân viên của chúng tao đang hoạt động và chúng tao đã đợi mày. Đợi mày đấy, con bồ câu nhỏ ạ!
-Các ông nhầm rồi…
-Câm ngay!
-Xin tuân lệnh!
-Tao nhắc lại: Mày không phải là một thằng đào ngũ. Chúng nó đã huấn luyện mày ở trường tình báo để tung vào hậu phương chúng tao. Thế nhưng trong trường đó lại có người của chúng tao cài vào, mày hiểu chưa? Và thế là chúng tao đợi mày. Chờ mày tới. Rồi như chính mày thấy đấy, chúng ta lại gặp nhau. Mày đừng hòng thoát khỏi tay chúng tao!
Tên sĩ quan Giét-ta-pô hơi nghiêng mình về phía trước chăm chú theo dõi từng thay đổi nhỏ trên khuôn mặt Mi-cla-sốp, rồi ra lệnh:
-Ngồi xuống! Quay mặt vào tường và suy nghĩ kỹ đi. Tao cho mày năm phút!
Mi-cla-sốp im lặng ngồi xuống ghế, quay mặt vào tường. Ngay trước mắt anh là vết máu khô và hai vệt đạn chọc sâu vào lớp gạch đỏ gây cho anh cảm giác ghê sợ, chán chường. Anh nghe thấy tiếng hộp thuốc lá bật tách sau lưng, tên Đức đánh bật lửa và trong phòng thoảng mùi khói thuốc lá.
Mi-cla-sốp vẫn nhìn thẳng vào bức tường lạnh lùng trước mắt, trong đầu xáo trộn bao suy nghĩ dồn dập. Anh hiểu rằng, chính vào lúc này đây, là những phút giây quyết định nhất trong cuộc đọ sức trước mắt và có thể còn kéo dài chưa biết đến ngày nào kết thúc… Thần kinh anh dần dật, căng thẳng. Dù rằng anh đã được chuẩn bị kỹ càng cho một cuộc hỏi cung như thế này nhưng trong thực tế mọi việc lại phức tạp hơn nhiều. Ở đây chẳng một ai có thể gợi nhắc cho anh những câu trả lời. Vòng băng trên cánh tay phải bị xô đi, vết thương lại nức hơn và toàn thân cảm thấy đau ê ẩm. Đột nhiên từ ngoài cửa sổ vang lên một tràng tiểu liên chát chúa khiến kính cửa rung lên.
-Họ cho một thằng đào ngũ như mày đi chầu Diêm vương đấy!-Tên Giét-ta-pô nói giọng răn đe dọa dẫm. Mi-cla-sốp bỗng thấy nhói trong tim. Ngay cạnh nách anh một kẻ nào đó đã chấm dứt cuộc đời một cách nhục nhã. Cố ghìm lòng, anh khẽ cười gằn, ném từng lời tỏ vẻ thờ ơ:
-Tôi có thương hại nó đâu? Thưa ngài tốt bụng!
-Mày suy nghĩ xong chưa?-Tên sĩ quan hỏi và nhìn chằm chặp Mi-cla-sốp.
-Xong rồi, thưa ông.
-Và quyết định sẽ nói sự thật chứ?
-Thưa vâng.
-Thế nhiệm vụ của mày được tung sang đây là gì?-trong ánh mắt hắn thoáng vẻ đắc thắng.
-Ông và nói chúng các ông hiểu nhầm tôi rồi đấy! Ông nhầm lẫn rồi! Cả trường huấn luyện và nhiệm vụ nào đó nữa. Tôi đã tự nguyện chạy sang phía các ông! Tôi đã tự nguyện, xin ông nhớ cho! Và xin ông cũng đừng quấy rầy tôi nữa.-Không kìm được mình, nữa những câu sau Mi-cla-sốp nói như thét lên, một cách tức giận.
-Các ông đã rải bao nhiêu truyền đơn kêu gọi đầu hàng, chạy sang với các ông, có đúng như vậy không? Hóa ra các ông chỉ viết và tung ra những lời dối trá…
-Mày nói xong chưa?
-Xong!
-Được lắm, thằng mọi đỏ ạ!
Hắn đứng dậy, bước tới trước mặt Mi-cla-sốp. Hai thân hình cao bằng nhau. Hắn nhìn xói vào mắt anh và dằn từng lời khiến Mi-cla-sốp lạnh toát người.
-Hôm qua không phải chỉ có mình mày chạy sang trận địa chúng tao. Còn hai thằng nữa! Và bọn chúng đã khai hết-tụi cán bộ tình báo đã đưa mày đi như thế nào. Chúng nó đã dọn đường xuyên qua bãi mìn ra sao! Như thế thì trong hai ta, kẻ nào nhầm?
 
Mi-cla-sốp không lường trước tình huống này. Trong chốc lát anh cảm thấy tất cả như sụp đổ trong lòng anh. Những ý nghĩ chợt lóe ra như những tia chớp. Không lẽ bị thất bại? Tất cả đều kết thúc rồi sao?.. Nhưng anh chợt tự trấn tĩnh: “Thật ngớ ngẩn?… Hãy bình tĩnh… Hãy vững vàng tới cùng. Đừng cuống lên như vậy!”. Anh cố trấn tĩnh không hề để lộ cảm xúc gì trên nét mặt. Anh thản nhiên chịu đựng cái nhìn đầy thử thách của tên sĩ quan Giét-ta-pô.
-Ông nói là có hai tên chạy sang phía các ông? Mi-cla-sốp hỏi và ngạc nhiên không nhận ra giọng mình nữa, vì anh hỏi gần như quát lên,-Chúng nó có hai tên ư?… Hai tên???.-Ông hãy gọi chúng nó ra đây đối chứng với tôi xem! Để những tên hèn nhát ấy thử nói thẳng vào mặt tôi những điều vu khống dối trá ấy… Tôi sẽ đánh vỡ mõm chúng vì những lời đểu cáng ấy!
-Nếu cần tao sẽ cho gọi. Mày vẫn một mực chối chứ?
-Tôi đã nói tất cả, đã nói hết như đã xòe cả bàn tay ra cho các ông xem rồi đấy!
Chuông điện thoại bỗng reo lên. Tên sĩ quan bước lại bàn, cầm vội ống nghe.
-Thượng úy Hen-rích Đi-tơ-rích nghe đây,-hắn nói tiếng Đức.-À, thưa ngài thiếu tá. Nó vẫn bướng bỉnh, ngang như cây sồi ấy… Vâng… Vâng… Cái gì cơ ạ? Vâng, đúng là những tên cuồng tín… Vâng, thưa ngài tôi tán thành đấy, không cần tốn thì giờ vô ích… Biên bản à? Vâng? Tôi sẽ hoàn chỉnh để đưa cho ông. Ông bảo sao, thiếu tá?… Bắn?… Không, tôi đâ dám phản đối… Ngay bây giờ cơ à?… Thưa vâng, ông thiếu tá?
Chúng nói với nhau bằng tiếng Đức và Mi-cla-sốp đã nghe rõ hết. Anh vẫn cố cắn chặt răng, nén nỗi hồi hộp và bàng hoàng. Ai có thể ngờ sự việc lại kết thúc phi lý đến như thế này. Một tình huống bất ngờ không ai hề tính đến…
Tên sĩ quan đặt ống nghe xuống và quay sang hỏi Mi-cla-sốp:
-Tao vừa nói chuyện với thiếu ta. Mày nghe rõ ngài nói gì chứ?
-Xin lỗi tôi không biết tiếng Đức.
-Ông ấy ra lệnh bắn, nếu mày vẫn ngoan cố khăng khăng chối cãi. Tao cho mày cơ hội cuối cùng để cứu lấy cái mạng sống của mày. Mày khai chứ?
-Xin ông hãy cho gọi những kẻ rác rưởi kia lên để chứng minh rằng tôi… tôi đã qua lớp huấn luyện tình báo! Mặc xác cho chúng nó sủa! Còn tôi, tôi chẳng còn điều gì để nói thêm nữa, không có gì để mà nói nữa, chỉ có vậy thôi!
Mi-cla-sốp làm bộ nổi xung lên mặc dầu cũng hơi thoáng lo về cuộc gặp gỡ với mấy tên đào ngũ, nếu quả là có thật. Bọn hèn nhát này trong giấy phút ham sống sợ chết có thể tố cáo anh. Nhưng anh có thể làm gì được? Chỉ còn mỗi hy vọng là bọn chúng không phải ở trung đoàn của Rô-cô-tốp và ở chính tiểu đoàn ấy. Nhất định chúng chưa hề nghe nói hoặc trông thấy anh.
-Vì tình người, tao rất thương cho mày, nhưng thái độ ngoan cố của mày đã tự giết mày đấy nhé? Mày còn trẻ mà đã tự hủy hoại cuộc đời mình một cách thật vô nghĩa! Tên thượng úy Giét-ta-pô lắc đầu đi lại trong phòng, dừng lại bên bàn và bấm nút chuông.
Cửa bật mở, và một gã lính Đức cao như sếu xuất hiện ở ngưỡng cửa.
-Có tôi, thưa ngài thượng úy!
Tên sĩ quan kéo dài phút im lặng, liếc nhìn Mi-cla-sốp như muốn hỏi: “Có khai để mà sống không?”-Rồi hắn dằn giọng ra lệnh bằng tiếng Đức.
Gã binh nhất cao kều, sỗ sàng đẩy vai Mi-cla-sốp, quát:
-Đi ra, nhanh lên!
Đêm lạnh lẽo và bầu trời đầy sao. Mi-cla-sốp bị dẫn tới bên bức tường gạch cạnh nhà kho. Trong tim anh vẫn le lói tia hy vọng mong manh được cứu thoát bởi một phép mầu nhiệm nào đó. “Đánh ngã, chạy trốn! Phải chạy trốn thôi! Đằng nào cũng chết!”-Chợt lóe lên ý nghĩ táo bạo đó, anh liếc nhanh ra sân và từ cánh cửa mở bên trại lính vọng lại tiếng cười nói thô bỉ. Bên cạnh cửa có chiếc xe tải phủ mui bạt kín mít, hai chiếc mô-tô ba bánh cũng đỗ ngay ở lối ra vào. Dãy hàng rào kia nếu lấy đà từ xa thì có thể nhảy qua được. Hai bên anh là hai tên thù địch-tên thượng úy và gã binh nhất cao kều với khẩu tiểu liên trong tay. Như có một linh tính đặc biệt nào đó như giữ anh lại không cho anh hành động để tự cứu lấy mình. Một bản năng nhạy bén nào đó như nhắc anh chớ có vội vã, hãy cố đợi xem tình hình ra sao đã. Nhưng chỉ chậm sau một phút nữa thì ý nghĩ táo bạo này đã trở nên viển vông vì cơ hội đã mất.
-Bước mau lên, con lợn Nga!
Bọn chúng đẩy Mi-cla-sốp sát vào tường lạnh toát.
-Đứng lại!…
Thực sự lúc này Mi-cla-sốp mới cảm thấy thót ở tim và nghèn nghẹn ở cổ. Một lần nữa anh lại cảm thấy mình bất lực như bị trói bằng cuộn dây thừng và tuyệt vọng như trong giờ phút anh bị rơi một cách ngớ ngẩn vào tay bọn thám báo Đức cải trang làm cảnh sát ta hồi tháng Sáu năm ngoái.
Mi-cla-sốp nặng nề tuyệt vọng tựa lưng vào bức tường lạnh ngắt, áp lòng bàn tay nóng bừng vào lớp gạch ẩm ướt thủng lỗ chỗ như khuôn mặt rỗ hoa. Những ý nghĩ lẫn lận thoáng nhanh trong đầu óc anh. Anh nhìn vào nòng súng đen ngòm của khẩu tiểu liên tự động, thế nhưng không hiểu sau anh vẫn không cảm thấy rùng mình, sợ hãi vì tuyệt vọng hoặc kinh hoàng trước cái lỗ sâu hoắm đang sẵn sàng nhả dạn ấy, mà vẫn có cảm giác tin rằng số mệnh vẫn dành cho mình cuộc sống còn kéo dài trên trái đất này.
Bỗng anh cảm thấy trong mình nhẹ bổng như không có trọng lượng làm cổ họng anh nghẹn lại. Anh thở khò khè, nặng nề, tự dung mồ hôi vã ra cả lưng áo và bất giác anh hiểu rằng, chính vào phút giây này mọi việc đều phụ thuộc vào bản thân anh, vào hành động của anh: vì anh không còn lối thoát nào khác rằng, bất kỳ sự vô ý nào cũng có thể tọa ra một đường đạn cắt ngang đời mình.
-Bắn đi, nào, bắn đi!-Mi-cla-sốp bỗng hét lên, xé toang cả ngực áo bông, giật đứt tung cổ áo bên trong để lộ cả mảng ngực trăng trắng.-Tao đây!… Bắn đi!…
Loạt đạn bắn trực diện vang lên và anh còn đủ bình tĩnh trông rõ từng viên đạn đỏ lừ vút ra khỏi nòng súng đang run lên bần bật theo loạt tiếng nổ.
Vào đúng cái khoảnh khắc màng tai anh đang vang ù tiếng nổ thì Mi-cla-sốp bỗng cảm thấy những mảnh vụn vôi vữa và mảnh gạch bị đạn khoét tung rơi lả tả xuống đầu và vai anh. Nhắm nghiền mắt lại, anh thoáng nghĩ-một ý nghĩ vụt thoáng nhanh như luồng điện: Chúng bắn dọa! Chúng bắn dọa! Chúng giả vờ!…
Mi-cla-sốp bàng hoàng đứng lặng, mặt tái đi, miệng há to thở dốc, lòng bàng hoàng, chưa dám khẳng định ý đồ bọn Đức. Có thể loạt đạn thứ hai chúng sẽ găm đúng ngực anh cũng nên! Những giây phút căng thẳng như kéo dài lê thê hơn, máu bên thái dương anh dần dật. Anh đứng ngây chờ đợi… chờ đợi…
-Dẫn nó đi!
-Dẫn nó đi!
Tên sĩ quan hạ lệnh và quay phắt đi không thèm nhìn lại, rảo bước vào ngôi nhà làm việc của hắn.
Gã binh nhất hất khẩu tiểu liên tự động ra sau lưng, bước tới bên Mi-cla-sốp lắc lắc vai anh;
-Ê, thằng Nga, tột, tột, đi… đi!
Chúng tống giam anh vào phòng. Phòng không có cửa sổ, chỉ có một ngọn đèn đỏ quạch được bao trong lưới thép treo trên trần nhà, hắt ra một vệt sáng mờ đục.
Mi-cla-sốp leo lên tấm phản có phủ rơm ở dưới vùi mình vào lớp rơm, cởi áo bông trùm kín người. Anh thấy đói, thèm ăn nhưng lại cảm thấy thèm ngủ hơn. Suốt một ngày căng thẳng, cực nhọc kéo dài làm anh mệt rã rời, người như kiệt hết sức lực và do đó, vừa nằm xuống là mắt đã díp lại, rồi anh lịm đi ngay trong giấc ngủ không cưỡng được…


Ps: Đã hết quyển thứ nhất rùi. Quyển thứ hai thì em sẽ dần dần gửi tiếp lên đây 8)
 
Cảm ơn Katysha đã tận tuỵ post dần dần nội dung cuốn truyện này. Hôm nọ mình được may mắn ngồi tiếp chuyện với nữ dịch giả không chuyên của cuốn truyện này. Thật khâm phục và thú vị chị lại là phu nhân của một member NNN rất quen thuộc với chúng ta hằng ngày. Cảm ơn chị thật nhiều - nữ dịch giả của cuốn truyện hay.
 
Nhân việc chủ đề vượt 5K lượt người đọc bài, em tiếp tục gửi tiếp phần 2. :D Tiếc là phần 3 ngày xưa không được in. :( Mà bác Rừng còn thiếu, dịch giả của Đứng vững đến cùng là 2 người chứ không phải 1. Đó là nhạc phụ và phu nhân của 1 thành viên trong NNN. :lol:

Chương tám

1.
Đoàn người có lính áp giải đi kèm, âm thầm lặng lẽ bước đi trong bóng đêm dày đặc. Họ đi nhanh qua một làng nhỏ nằm bên bến sông. Những con chó bị đánh thức vì có hơi người lạ sủa ăng ẳng. Xa xa phía bên phải, bóng những chiếc đèn đường lập lòe như đom đóm khiến người ta có thể đoán được đó là một thành phố. Đoàn người chuyển động theo con đường rải đá đầy những ổ gà, xéo cả vào các vũng nước phủ băng làm cho lớp băng mỏng lạo xạo vỡ tan dưới chân họ.
-Nhanh lên! Mau chân lên!
Đâu đó phía sau bỗng vang lên những tiếng rú tuyệt vọng tiếp đó là một loạt tiểu liên đanh dọn. Rồi tất cả lại chìm đi trong cảnh đêm im lặng nặng nề chỉ còn nghe có tiếng bước chân khua lạo xạo trên mặt đường đá long lở.
Đoàn người bước lên chiếc cầu gỗ nhỏ, vắt qua một con sông hẹp, trong đêm tối nom đen thẫm như dầu, trên mặt sông phản chiếu bóng những ngôi sao lấp loáng. Phía bên kia cầu, sau sườn dốc, mọi người bỗng nhận thấy hình dáng của một trại tập trung. Mấy chòi canh dựng bằng những thanh gỗ tròn nhô cao trông như những ngôi nhà nhỏ đứng trên cẳng sếu vậy. Trong bóng tối cũng có thể đoán nhận ra những dãy hàng rào dây thép gai ẩn hiện mờ mờ giữa các hàng cột. Phía sau nom rõ bóng những dãy nhà thấp lè tè giống như dãy nhà kho. Mấy phút sau họ đã đi tới cổng trại.
-Đến nơi rồi,-có ai đó thốt lên.
-Câm ngay!
Một vệt ánh sáng lọt qua lỗ vuông trên tấm cửa sổ dày. Sau đó có tiếng then cửa kêu ken két rồi một cánh mở tung ra:
-Nhanh lên! Nhanh lên!
Chúng dẫn đoàn người câm lặng vào trong sân và bắt xếp thành hàng bên dãy nhà gạch dài. Ánh sáng hắt qua khung cửa mở. Mi-cla-sốp đưa mắt nhìn vào thấy tên hạ sĩ quan người dài ngoằng chỉ huy đội áp giải bước vào và đứng nghiêm trước mặt ten sĩ quan trực ban của trại:
-Hây-lơ Hít-le! Tên sĩ quan hô lên chào và hất cánh tay phải nghiêng ra phía trước.-Tôi được lệnh giao nộp bọn dân mới. Hình như chỗ các ông còn phòng trống.
-Hây-lơ Hít-le! Tên sĩ quan trực ban ngồi bên bàn sau thanh gỗ chắn ngang càu nhàu trả lời, phớt lờ câu nói vô vị đã nhàm tai và cầm lấy giấy tờ:
-Cả bọn hình phạm và tù binh à?-hắn liếc nhìn tập giấy và hỏi, giọng rít qua kẽ răng.
-Có cả bọn đào ngũ nữa đấy!
-Những người lính chân chính không bao giờ đầu hàng!…
Bọn chúng nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, nhưng Mi-cla-sốp đứng trong hàng ngay sát cửa nên nghe khá rõ. Anh hơi nhoẻn miệng cười mỉa mai khi nghe câu nói sau cùng của tên sĩ quan trực: biết làm sao được, hắn nói cũng có lý đấy chứ! Liệu bọn chúng có giữ mình ở lại đây lâu không nhỉ?-anh tự hỏi và úp bàn tay âm ấm vào vết thương ở bắp tay. Vết thương ở sườn hầu như đã lành, còn ở cánh tay thì khi bị lạnh anh thấy cả cánh tay đều đau buốt.
Cuối cùng bọn Đức dẫn từng tốp mười người đi qua khung cửa mở. Mi-cla-sốp rơi vào toán thứ hai, gồm toàn tù hình sự. Họ bị dẫn vào phòng. Ở đây sạch sẽ và ngăn nắp. Sàn nhà vừa được lau rửa, bốc mùi thoang thoảng. Trong phòng giấy có lò sưởi lửa bốc rừng rực nhưng ở đây những người tù bẫn bị lạnh cóng, run cầm cập. Ánh đèn điện đủ chiếu rõ những khuôn mặt mệt mỏi hốc hác của họ, phần lớn vàng ủng và nhợt nhạt vì bị giam lâu ngày. Những tù nhân mới đến, im lặng đứng đổi chân, sửa lại khăn gói của mình. Bọn gác gọi tên từng người một đến bên tên trực ban:
-Tên gì?
Gã SS có cặp lông mày hung hung lụclại trong đống giấy tờ tìm “bản lý lịch” đặt xuống trước mặt tên sĩ quan trực.
Tên này, nhấc cặp kính đặt lên mũi, lật nhanh các trang giấy, thỉnh thoảng lại nói bằng tiếng Nga “giả cầy” rồi điền thêm vào tờ khai của từng người mới đến. Khi mở đến tập hồ sơ của Mi-cla-sốp, hắn ta đọc mê mải lát sau ngẩng đầu lên nhìn anh lính đào ngũ hàng binh với vẻ kinh ngạc:
-Ồ, kiện tướng quyền Anh hả? Gút! Gút! “Hơ-ra-xô”.
 
Xong xuôi chúng lại dẫn đoàn người sang dãy nhà khác, dài và hẹp như một hành lang. Chúng bắt mọi người quay mặt vào tường hai tay giơ qua sau gáy. Bọn chúng bắt đầu khám xét. Ba tên lính áp giải lục soát tận đáy túi của họ, sờ nắn từng đường chỉ quần, quần áo. Chúng bắt họ tự cởi giày ra rồi khám xét từng chiếc đế, từng đôi bít-tất, xà cạp. Rõ ràng là chúng rất thuần thục với công việc này.
Người bị khám thường cố dùng mọi mánh khóe làm sao cho bọn khám xét không chú ý tới những chỗ “bí mật”, nơi cất giấu những vật quý giá nhất đối với anh ta, cố lừa cho những tên khám xét phát hiểna những thứ kém giá trị hơn. Và chờ lúc bọn chúng sơ hở, họ ném những độ vật quý đó vào đống quần áo đã được lục soát. Cũng có khi anh ta ném báu vật đó xuống sàn, giẫm chân lên rồi chờ lúc khám xong có cơ hội thuận tiện liền nhặt lên và giấu biến đi. Còn thiếu gì những mưu mẹo mà con người không sử dụng để giữ được những vật quý báu đối với cuộc đời người tù!
Những vật thu nhặt được ném thành đống trên bàn lão trưởng trại: nào là da đế giày, dao cạo râu, những con dao nhíp tự chế, một vài cây bút chì, mấy gói thuốc sợi, những viên đá lửa, những mẩu xà phòng và kim khâu cho đến vài ba dao diêm chỉ còn mấy que…
Sau khi lục soát xong chúng bắt họ xếp hàng đôi, dẫn vào sân đi vượt qua một bãi đất trống rồi dừng lại bên dãy nhà chằng chịt dây thép gai xung quanh.
-Ồ, trại khổ sai bên trong trại tập trung lớn!-Người đi hàng đôi cùng Mi-cla-sốp thốt lên.
-Nhà cách ly đấy.-Mi-cla-sốp trả lời.
-Câm mồm,-tên lính áp giải quát lên.
Gã canh tù đêm bị tiếng ồn ào dánh thức dậy đang càu nhàu đứng bên cửa phòng trực nhỏ nhữ lỗ mũi, ngáp dài và cau có nhìn những nạn nhân mới đến, không cần giấu vẻ ác cảm của mình. Gã dẫn mọi người đi tiếp và mở cửa một căn buồng-nơi nhốt tù mới đến để chờ phân loại xếp vào các buồng giam khác.
Tất cả đi ngủ ngay!-Gã hét lên hạ lệnh rồi đóng sập cửa cài then lại. Phòng giam mới hoàn toàn trống rỗng, thậm chí chẳng có lấy một chiếc giường tầng thô sơ nào cả. Phía bên cửa mắc một ngọn đèn điện tù mù bao trong lưới sắt. Tường phía đối diện khá cao, sát trần có ô cửa chấn song sắt.
Vài kẻ ngồi bệt xuống sát tường, sửa soạn chỗ ngủ, những kẻ khác đi tới đi lui từ cửa sổ đến cửa lớn.
-Thế nào các chiến hữu, sao rầu rĩ như vậy? Hay ta hút thuốc chơi vậy? Mi-cla-sốp đứng giữa phòng, tung tung gói thuốc lá sợi-giấy bao cuốn thuốc có đây rồi! Lúc các chiến hữu quăng tờ “Tiếng nói người Nga” đi, lợi dụng khi bọn Đức còn bận nhồi nhét cho lũ chúng ta những lời nhảm nhí, tôi đã kịp nhặt lấy và giữ lại.
Trong phòng bỗng im phăng phắc. Tất cả nghiêng ngó nhìn Mi-cla-sốp như nhìn nhà ảo thuật đang biểu diễn tiết mục độc đáo không thể có được. Sau đó cả bọn bật cười và reo lên thích chí. Chúng vây quanh Mi-cla-sốp nhìn ngắm anh như thể lần đầu tiên được thấy con người trên trái đất vậy:
-Thế mới gọi là tiết mục biểu diễn chứ!
-Chuẩn lắm, người anh em ạ.
-Người anh em khá đấy!
Bọn người quen thói trộm cắp, cướp giật ấy đánh giá cao “tài nghệ” của Mi-cla-sốp với đôi mắt và cảm giác riêng của họ. Câu hỏi tới tấp tung ra:
-Này, làm sao đằng ấy lại giấu được thế nhỉ?
-“Anh giai” nhét vào đâu vậy?
-Đơn giản thôi, tớ tống vào trong mũ này này.-Mi-cla-sốp lơ đãng giải thích.
-Trong mũ ấy à?
-Chứ sao nữa!
-Làm lại cho “Hội” này chiêm ngưỡng xem nào!
-Các ông hãy ngó lại chiếc mũ bịt tai ấy. Lúc bọn nó dẫn chúng mình đi khám, có cậu nào đó giúi vào tay tớ gói thuốc lá sợi và bảo thầm “biệt đi”. Tớ liền nhét vào lỗ bịt tai và treo mũ lên mắc. Cứ làm như mũ đã treo ở đó từ trước và cóc phải mũ tớ. Sau khi khám xét lục soát xong, tớ chờ đúng cơ hội khi một người trong số chúng ta hí hoáy làm gì đó với mấy thằng Đức “vịt giời”, tớ liền lườm cậu ấy và giơ tay vớ lấy mũ. Thế là tớ đường hoàng chụp mũ lên đầu, còn gói thuốc lá thì lẩn nhanh vào túi. Tất cả cái trò mèo này chỉ có thế thôi.
Mi-cla-sốp luôn miệng văng ra những tiếng lóng của bọn đầu trộm đuôi cướp một cách khá lưu loát.
-Thôi, xé báo ra! Anh giai! Chúng bảo Mi-cla-sốp. Anh chìa tờ báo ra. Ngay sau đấy chúng trả lại anh một nửa.
-Kiếm đếch đâu ra lửa bây giờ? Một đứa còn giữ được hai que diêm gãy nhưng lại không có vỏ, liền kêu lên.
-Sẽ có lửa thôi,-gã con trai dong dỏng cao, mặt chằng chịt đầy vết sẹo và trên mũi còn hằn vết răng cắn tím bần, lên tiếng.
Hai đứa khỏe nhất bọn đứng sát lại bên tường, gã trai trẻ cài điều thuốc cuốn vào vành tai, trèo lên vai chúng và với tay tới ô cửa sổ. Gã lấy tay bám chặt chấn song sắt hà hơi một lúc vào mặt kính bẩn, dùng bàn tay và ống tay áo lau lau cho sạch. Cả bọn ở dưới ngếch mặt lên nhìn như khán giả xem tiết mục xiếc nhào lộn trên không ở sát ngay trần vòm nhà. Lau sạch kính xong, gã kia kẹp tay vào đầu que diêm miết miết trên mặt kính. Một phút rồi tới hai phút trôi qua. Bỗng một ánh lửa màu da cam bật lòe lên.
-Ổn rồi!
Cả bọn bắt đầu cuốn thuốc. Chúng say sửa khao khát kéo từng hơi dài giống người đang bơi quá mệt há mồm ra ngáp hơi vậy. Rồi bọn họ chia phần từng nhóm thuốc lá ra một cách đều nhau. Lúc sửa soạn đi ngủ, chúng còn tán tụng Mi-cla-sốp:
-Ông anh tuy là dân đào ngũ, nhưng “nghệ” đấy.
-Cũng có khi tớ có ý chuồn sang đây để chơi cho nó sướng. Ở bên kia bây giờ còn cái cóc khô gì là béo bở đâu, rặt những vây ráp, lùng sục.-Mi-cla-sốp ngả mình vào tường, uể oải trả lời.
 
2.
Sáng hôm sau, sau khi kiểm tra xong bọn Đức lại xua họ về phòng giam. Mi-cla-sốp ngồi bệt xuống sàn, dựa lưng vào tường và chẳng có việc gì làm, anh rút mảnh báo còn lại ra đọc. Suốt mấy ngày nay anh chẳng ngó ngàng gì tới vì không muốn phải đọc “cái thứ báo chí lừa đảo” này. Liếc mắt lướt mảnh còn lại, anh biết mình không nhầm: Toàn là những lời “tán dương” đội quân vinh quang của Đức Quốc trưởng, đội quân giải phóng đất nước Nga”.
-Ê, “anh Giai”, xé cho người anh em một mảnh làm điếu “sâu kèn” nào?
Gã con trai cao lêu nghêu đầy sẹo lừ đừ đi tới và ngồi xuống cạnh Mi-cla-sốp.
-Có ngay đây.
Anh giở mảnh báo ra để xé cho dễ hơn, song mắt anh bỗng dừng lại khi bắt gặp tên tác giả một bài báo. Dòng chữ đên đậm đập ngày vào mắt Mi-cla-sốp: “V.A.Dô-nen-béc Tô-bôn-xki”. Bài báo này đã bị xé để cuốn thuốc lá từ hôm qua, chỉ còn lại đoạn cuối và tên tác giả.
-Xé đi, ông anh, hay còn tiếc rẻ?
-Phải dùng vào việc khác, còn tốt hơn nhiều.-Mi-cla-sốp bỗng nói vẻ tiếc rẻ thật và xếp tờ báo cho vào túi.
Thật may mắn làm sao, đúng mẩu báo này là phần cần thiết thì còn lại. “Mình gặp may, số phận đang cười với mình. Suýt nữa thì hôm qua xé mất.-Nếu như vậy thì chẳng bao giờ mày biết được rằng mày đã bỏ qua mất một cơ hội rất ngẫu nhiên, rất hiếm hoi có nằm mơ cũng không thấy được! Để bắt liên lạc và gặp gỡ với “Ông cậu rể” phản bội ngàn lần đáng nguyền rủa kia, ta nhất thiết phải giữ mảnh báo này! Anh ngồi im suy nghĩ, bên tai vẫn như còn văng vẳng lời dặn dò của I-lin-cốp: “Điều chủ yếu là chớ có hấp tấp, vội vàng. Hãy chú ý thận trọng. Trong công việc của chúng ta, không có gì là vụn vặt cả!”. Vậy mà mình đã làm một điều ngu ngốc-giữ tờ báo mấy hôm nay rồi mà không đọc qua lấy một chữ, vì coi đó là: thứ báo chí lừa đảo, phản bội… Có thể trong số báo chí bọn Đức phân phát trên xe lửa lúc chuyển từ còn có nhiều điều quan trọng và bổ ích nhưng mình đã bỏ qua.
-À, ra mày cũng là một thằng keo xỉ!
Tên trùm tội phạm đã có ác cảm và hằn học đối với kẻ đào ngũ này từ hôm qua. Dù thế nào thì thế, chính hắn, cái thằng bỏ chạy sang hàng ngũ quân Đức này lại tỏ ra khéo léo và đa mưu hơn cả một tên bợm láu cá nhất đám ở đây. Gói thuốc lá cuộn mà hắn đã khôn khéo mang được vào phòng giam đã làm tăng uy tín của hắn trước con mắt bọn đàn em của gã-vốn được coi là thủ lĩnh của nhóm tù trộm cướp này-và gã đã đánh hơi thấy sự nguy hại của hiện tượng này. Gã sẽ có thể mất đi địa vị thủ lĩnh của mình trước con mắt lũ đàn em. Vì thế, hắn quyết định không thể bỏ qua cơ hội, phải dạy cho kẻ kia biết thế nào là lễ độ.
-Đối với lọai này thì phải dần cho giập mũi ra mới hết được cái tính keo xỉ.
Đang mải suy nghĩ, thoạt đầy Mi-cla-sốp không để ý đến giọng nói tức tối hằn học của thằng trùm lưu manh. Nhưng câu nói sau làm anh cảnh giác. Anh không thể né tránh khỏi cú đánh của gã. Anh chỉ kịp lắc mình theo bản năng tự vệ, phản ứng chớp nhoáng với sự nguy hiểm như anh đã từng gạt tay đối thủ trên vũ đài! Bàn chân sượt mình anh, mũi giày to nặng giáng bốp vào tường.
À à! Thằng phản bội khốn khiếp,-tên bợm gầm lên, chồm tới nhảy bổ vào Mi-cla-sốp. Nhưng anh đã không còn ngồi nguyên ở đấy nữa, anh đã lách sang bên và chỉ một tích tắc đã kịp đứng bật dậy.
-Này, ông anh làm sao vậy, quẫn rồi à? Mi-cla-sốp cố lấy giọng xởi lởi ngăn gã lại-xin lỗi, ông anh bớt giận đi cho.
-Tao sẽ cho mày biết tay. Đồ trốn lính, đồ phản bội. Tao sẽ xé mõm và móc mắt mày ra!
Mi-cla-sốp không muốn gây sự. Anh hiểu tõ thế bất lợi của mình, khó có thể làm gì nổi với một cánh tay? Hơn nữa, xung quanh anh là những ánh mắt hau háu theo dõi từng cử động của anh, sẵn sàng nhảy xổ vào bênh vực tên cầm đầu của chúng bất cứ lúc nào.
Đánh bỏ mẹ nó đi!
 
Theo phản ứng quen thuộc, Mi-cla-sốp nghiêng mình tránh cú đấm thẳng như búa bổ của gã lưu manh lướt ngay sát đầu chỉ cách tai anh vài ba phân. Hắn vung tiếp cánh tay trái nhằm vào mũi Mi-cla-sốp, định chơi một đòn “giập lá mía”, Mi-cla-sốp cũng chẳng cần giơ tay lên đỡ, chỉ khẽ lắc mình tránh tiếp sang bên và, cú đấm tiếp sau đó cũng rơi vào không khí. Mi-cla-sốp trông thấy ngay sát trước mặt mình cặp mắt đục ngầu man dại của tên đầu lĩnh, cánh mũi hắn phập phồng, cặp má trái của hắn tái xám lại vì căm giận làm hiện rõ hơn những vết sẹo-dấu tích của những trận ẩu đả đao búa, những vết sẹo, những vết cắn, vết cào in hằn lại và anh còn trông rõ được cả những sợi râu lún phún trắng bạc dựng lên trông rất chướng mắt.
-Này! Hãy xem đây!… Mày muốn thì ta cho biết thử!… Tên đầu lĩnh gầm gừ như con chó dại và thở hổn hển. Hắn chập hai tay lại giơ cao lên dáng một đòn thật mạnh nữa vào đỉnh đầu anh. Nhưng cú đấm vòng cung này giống như những cú đấm bạt hạng tồi mà Mi-cla-sốp thường chỗng đỡ dễ dàng bằng động tác “ngụp” gọn xuống, né người tránh mà anh đã khá thuần thục và làm cho đối phương hụt sượt qua đầu lần nữa. Bọn đứng bên ngoài trông cảnh này thích chí phá lên cười, gã lưu manh liên tiếp đấm hụt vào không khí. Trong phòng giam lặng ngắt vì hồi hộp bỗng có tiếng cười cố kìm giọng. Không hiểu được điều gì xảy ra mà mãi gã kia chưa móc được đòn nào vào địch thủ cả và phần vì tức, phần vì ngượng nên hắn càng cáu giận hơn, hung bạo hơn.
-À, thằng chó! Đồ súc sinh!
Nghe tiếng ồn ào, bọn lính canh liền chạy lại. Chúng mở ô cửa vuông dùng đưa cơm cho tù và sững người kinh ngạc nhưng có vẻ khoái chí thấy gã lính đào ngũ đang khéo léo, nhẹ nhàng gần như đứng tại chỗ để tránh đòn của tên lưu manh khét tiếng. Vụ ẩu đả kéo dài tới vài ba phút. Có tiếng chửi rủa, tiếng cười gằn càng như đổ thêm dầu vào lửa làm cho gã kia càng điên khùng lao vào đấm thục mạng. Sau những lần tránh đòn như biểu diễn những thủ pháp né tránh trong môn điền kinh anh miễn cưỡng làm như bị lôi cuốn vào trò chơi này tựa như đây là một buổi tập tránh đòn trong điều kiện trận đấu thực sự” như huấn luyện viên Dôm-béc ở Lê-nin-grát thường hướng dẫn trong bài tập tránh đòn bằng các động tác di chuyển chân và né mình. Nhưng khi những tiếng cười bật ra không khí có vẻ căng thẳng hơn thì anh cảm thấy rõ ràng anh đang đứng trước một mối nguy hiểm thật sự: lũ đồng bọn của gã lưu manh cất tiếng cười gằn ghê rợn, hằn học hơn là tán đồng. Chúng có thể xỉa cho anh một nhát dao hoặc cả đám có thể hò nhau xô vào đánh anh…
-Đánh chết thằng ôn vật này đi!…
Ngay giây sau đó, khi tên đầu lĩnh như đã phát điên lên, trợn mắt lao vào Mi-cla-sốp với quả đấm nữa thì anh quyết định phải ra tay và trong một khoảnh khắc chỉ nhanh hơn hắn chút ít, anh vừa né tránh vừa giáng trả một cú đấm thẳng sắc gọn, Mi-cla-sốp định nhằm vào cằm nhưng cú đấm lại chệch xuống cục hàu đang nhô lên trong cổ họng. Đúng là một cú đấm trời giáng. Anh không còn cách nào khác, phải chấm dứt và tỏ rõ sức mạnh cho nó thấy!…
Cả khối đầu hắn dật ngược lên một cách kỳ lạ và cả cái thân hình cao lêu ngêu của hắn, giống như một cái lò xo, bật tung lên, ngã văng về sau đến hai bước chân. Hắn ngã ngồi phịch xuống sàn, rồi đỏ ụp xuống, hai tay ôm cổ co dật và quằn quại trên sàn, miệng rên ồ ồ.
-Mày giết “anh cả” chúng tao rồi! Tại làm s-a-o-o-o?-một giọng the thé rít lên. Tất cả lũ đàn em cùng chồm dậy. Bọn lính canh không thèm nhúng tay vào, chúng khoái chí và tò mò đợi xem kẻ cô độc còn chống cự lại được bao lâu nữa trước chín thằng lưu manh khùng điên này.
-Không được đến gần tao!-Mi-cla-sốp hét lên cảnh cáo, anh xoay nhanh người, vai trái nhô lên, sẵn sàng giáng cú đấm đã chuẩn bị vào tên nào dám lao vào đầu tiên.-Muốn nhừ xương thì hãy vào đây!
-Mày sẽ phải đền tội vì “anh cả” chúng ta, thằng chó đẻ ạ!
Một tên trẻ hơn, đôi vai vạm vỡ nhưng khuôn mặt lại hốc hác hôm qua đã dứng làm trụ cho tên “anh cả” trèo lên bật diêm, bước lên đầu tiên.
-Tao sẽ cho mày biết phải đánh như thế nào. Mày đỡ đi!
Hắn hùng hổ tiến lên, đầu hơi chúi về trước một cánh dại dột với vẻ tự tin là mình sẽ thắng. Mớ tóc cắt ngắn dựng tua tủa như lông nhím, trên đường ngôi lấp lánh một vết sẹo nhẵn thín.
-Này!…
Chờ cho hắn lao thẳng vào như con trâu điên, Mi-cla-sốp nhún chân nhảy tránh dễ dàng sang bên phải và xoay mình rất gọn để hắn đấm hụt trượt qua người, rồi, không kịp để hắn hoàn hồn, nhanh như hcớp, anh đá thốc một cú vào bụng dưới của hắn. Hắn chỉ ự lên một tiếng, cúi gập mình và quỵ xuống dưới chân anh. “Nốc-ao rồi”-anh vừa kịp nghĩ như vậy thì cũng vừa lúc cả bọn côn đồ hè nhau xông tới như lũ sói xông vào con mồi.
Cuộc ẩu đả đã bắt đầu, Mi-cla-sốp chống trả rất nhanh bằng những đòn chớp nhoáng nhà nghề rất quyết định và hạ đo ván liền ba đứa, đứa thứ tư bị anh cho một quả vào mặt, miệng ứa máu, vội bò lồm cồm vào góc xa, miệng lẩm bẩn van lơn:
-Đừng đánh tôi, đừng đánh tôi nữa!…
Nhưng rồi lũ chúng cũng ôm ngang được Mi-cla-sốp. Chúng quật anh ngã xuống rồi đấm đá liên hồi vào mạng sườn, xé rách chiếc áo ngoài và đánh dập môi… Lúng túng ban đầu rồi anh cũng vùng ra được, quẫy mình hất ngã thằng đang bám trên lưng và chồm bật dậy được khỏi bọn chúng. Anh nhảy tới dựa lưng vào tường. Đầu óc anh quay cuồng, tai ù ù như đi ngược gió, hai chân tê tê khó chịu:
-Lại đây, bọn khốn kiếp chúng mày!… Nào, lại đây!…
Ba đứa còn lại chán chường dè dặt ngó nhìn nhau. Một thằng trong đó bị một vết tím bầm dưới mắt, thở nặng nhọc đưa ống tay áo lau mặt vừa bước giật lùi đến bên cừa vừa lầu bầu:
-Thôi đủ rồi, ớn lắm rồi!
Hai thằng kia gầm gừ giẫm chân tại chỗ nhưng không thằng nào dám liều xông vào. Mi-cla-sốp vẫn dựa lưng vào tường, toàn thân run bần bật như bị ngấm lạnh từ bức tường toát ra.
Cánh cửa lớn bật mở, bọn gác bước vào, hét lên:
-Ngang tàng nhỉ? Đánh gục tất cả! Khá lắm! Đi ra!
Mi-cla-sốp thận trọng bước qua mấy đứa đang nằm sóng soài trên sàn nhà và anh bước ra phía cửa. Ra khỏi cửa, anh ngoái lại nhìn một lần nữa và dứ nắm đấm vào bọn chúng. Đầu anh vẫn vang vang ù ù, màng nhĩ điếc đặc như sau một trận pháo kích, đầu ngón tay ứa máu… Lưng đau ê ẩm, mạng sườn tưng tức. Ba tên phạm tội nhỏm người dậy nhìn theo Mi-cla-sốp bước ra ngoài, nét mặt chúng như mụ đi và trong ánh mắt lộ vẻ u uất và ngực nhiên khó hiểu.
-Shnell (Nhanh lên).
 
3.
Chúng lại dẫn anh tới thẳng phòng tên trợ lý trưởng trại, thiếu tá SS Uyn-rích Phôn Rít-tơ. Hắn trạc ba mươi tuổi, dân Pơ-ru-xia, dòng dõi quý tộc, dáng người chắc nịch, bộ mặt như được thiên nhiên tạo cho bởi một nhát rìu. Hắn đang ngả mình trên chiếc ghế, đăm đăm ngó nhìn Mi-cla-sốp trong khi tên cai ngục báo cáo lại bằng tiếng Đức.
-Chẳng lẽ đánh gục được cả chín thằng hay sao?-Phôn Rít-tơ hỏi lại.
-Dạ đúng như vậy, thưa thiếu tá!
-Ồ! Boxmeister (Kiện tướng thể thao-Tiếng Đức nguyên bản)-Phôn Rít-tơ cười để lộ cả hàm răng đều đặn, hỏi tiếp Mi-cla-sốp-Tại sao chúng mày đánh lộn nhau?
Mi-cla-sốp lắc đầu tỏ ý không hiểu và nói bằng tiếng Nga:
-Tôi không hiểu.
-Tại sao lại đánh nhau?
Lần này tên thượng úy SS (Ober-leutnant-Tiếng Đức) ngồi trong ghế bành bọc da hỏi bằng tiếng Nga khá sõi. Mi-cla-sốp quay sang phía hắn và hai luồng mắt họ gặp nhau. Khuôn mặt tên sĩ quan SS này trông quen quen. Mi-cla-sốp cố lục tìm trong trí nhớ xem họ đã gặp nhau ở đâu, và lýc nào? Cái đầu to, khuôn mặt tròn trịa hơi đen do những vết đậu mùa để lại… Trong ánh mắt đăm đăm của tên Đức anh cũng đọc thấy những ý nghĩ như vậy. Và đột nhiên một ý nghĩ chợt lóe lên như một dòng điện chạy qua-đó chính là tên thượng úy SS chỉ huy nhóm thám báo cải trang mặc giả cảnh sát Liên Xô!
… Phải, chính hắn! Năm ngoái! Đúng vào những ngày đầu chiến tranh… Hắn đã chụo ảnh sb khi Mi-cla-sốp bước lại gần.
Thoáng nhớ lại lúc bị trói anh đã liều mạng lao vào bọn Đức và chạy thoát! Lúc đó anh đã đá thật mạnh một cú vào bụng dưới tên SS thượng úy giả này. Sau đó khi anh dẫn các chiến sĩ ta tới, hắn đã lủi đi mất hút. Họ chỉ tóm cổ được hai thằng còn nằm mê man bất tỉnh, còn chính tên này đã chuồn thoát… Phải chính hắn đã chuồn mất hồi ấy!
-Uyn-rích này, mình có cảm giác thằng Nga này trông quen quen. Khuôn mặt gợi nhớ lắm, nhưng mình không nhớ nổi là đã gặp nó ở đâu: ở chỗ bọn mình hay ở hậu phương quân Nga, tên sĩ quan SS nói với tên trợ lý trưởng trại giam.
-Ồ, Hen-rích, theo hồ sơ thì hắn là một tên lính Nga đào ngũ, tự chạy sang phía chúng ta-viên thiếu tá trả lời.-Xem ra nó có vẻ là tay võ sĩ quyền Anh không đến nỗi tồi. Sáng nay nó đã đánh gục một lúc tới chín thằng tù cùng bọn đấy. Anh nghe nói tới chuyện này chưa?
-Tại sao chúng mày đánh nhau?
Tên thượng úy nhắc lại bằng tiếng Nga, Mi-cla-sốp thọc tay vào túi quần rút ra mảnh báo nhàu nát, vuốt trên đùi cho phẳng rồi trao cho hắn:
-Tất cả là do cái mảnh báo này. Tôi không cho chúng xé ra để cuốn thuốc lá.
-Hay nhỉ?
-Mảnh báo này đối với tôi thật là vật quý đấy.
-Tại sao vậy?
-Vì trong này có đăng bài về một người thân với tôi.
-Đưa đây xem nào.
-Đây chỉ còn lại một mẩu thôi,-Mi-cla-sốp chỉ tay vào tên của tác giả bài báo.
-Uyn-rích này, cậu thấy chưa? Tên thượng úy hỏi gã thiếu tá bằng tiếng Đức.
-Ồ, Hen rích ạ, có lẽ chính nó đây cũng nên,-tên thiếu tá trả lời.
-Chính nó đấy! Hen-rích đồng tình nhận xét.
Mi-cla-sốp cố nghe rõ những câu trao đổi ngắn ngủi đó và đoán rằng cả hai đứa đều phong phanh biết về Tô-bôn-xki. Nhưng có điều lạ là bọn chúng không nói hết câu mà chỉ là những lời lấp lửng. Điều đó có nghĩa gì vậy? Tốt hay xấu? Thật khó hiểu và những tình huống rối rắm, phức tạp cứ dồn đến với anh. Mình phải tỏ thái độ như thế nào đây?-anh thầm hỏi. Nói toạc ra là mình có họ hàng với Tô-bôn-xki chăng? Hãy chờ xem đã?
Tuy có điều đơn giản là Mi-cla-sốp không biết rằng, chỉ mới mười lăm phút trước đây, hai người bạn cũ này-thiếu tá SS Phôn Rít-tơn và thượng úy Hen-rích Ghe-đe-ri-ghen đã trao đổi với nhau về cái tính hay trả thù cuồng tín của người Nga giống hệt như dân châu Á. Hen-rích mới từ Béc-lin về mang theo những tin tức mới nhất: mới tuần trước đây đã xảy ra vụ mưu sát tên Dô-nen-béc Tô-bôn-xki, một tên người Nga phản bội Tổ quốc chạy sang nước Đức và hiện giữ chức trưởng ban tiếng Nga của đài phát thanh trung ương Béc-lin. Dô-nen-béc Tô-bôn-xki chỉ bị thương nhẹ và kẻ mưu sát đã bị bắt mặc dù anh ta định tự sát nhưng không kịp. Ở sở giét-ta-pô người ta đã biết cách làm để buộc kẻ mưu sát này phun ra những bí mật của chúng. Và giờ đây trước mắt chúng lại là một tên người Nga nữa đang cố chứng minh rằng gã là người “thân” của Dô-nen-béc Tô-bôn-xki. Thật là một sự trùng lặp lý thú và kỳ lạ!
Tên thượng úy lại nhìn xoi mói từ đầu đến chân Mi-cla-sốp một lần nữa:
-Như vậy là chúng mày đánh nhau chỉ vì mảnh báo này?
-Vâng, đúng như vậy, thưa ông.
-Thế tên ông ta là gì, mày biết chứ?
-Sao lại không biết!… Vxe-vô-lốt A-lếc-xan-đrô-vích, Mi-cla-sốp gắng gượng cười với cặp môi giập, rớm máu.
-Mày biết ông ta lâu chưa?
-Biết từ nhỏ.
-Thế nào cơ?
-Nếu các ông muốn biết rõ hơn thì tôi xin nói thêm, ông ta là cậu rể tôi-tức là chồng của bà dì ruột-em mẹ tôi. Tên dì ấy là An-na A-lếc-xê-ép-na.
-Chúng tao sẽ xem xét sau.-Hen-rích nói, giọng khô khốc và quay sang viên trợ lý, nói bằng tiếng Đức:
-Anh hãy cho giam riêng tên này và giám sát thật chặt chẽ. Không để nó tiếp xúc với bọn thường phạm kia. Khoảng một tuần nữa chúng ta sẽ biết thằng ma-cô này là ai, có đúng là một tên đào ngũ thật sự hay không?
-Chúng mày nghe rõ chưa?-Phôn Rít-tơ cau có nhìn bọn lính canh.-Thi hành lệnh ngay đi!
Khi bọn lính đã dẫn Mi-cla-sốp ra ngoài, tên thượng úy liền đứng dậy vươn vai và đi đi lại lại trong phòng:
-Mình có cảm giác là đã gặp thằng Nga này ở đâu rồi. Có lẽ chính cái thằng đã tuột khỏi tay mình ở ngoại ô Lê-nin-grát hồi đầu chiến tranh năm ngoái.-Mình đã kể lại, chả hiểu cậu còn nhớ không?
Hắn đã kể nhưng tất nhiên là trái ngược hoàn toàn với thực tế đã xảy ra với hắn.
Theo câu chuyện hắn bịa ra thì chúng đã chạm trán với quân Nga trong một khu rừng và đã chiến đấu kịch liệt với họ. Hai tên thám báo đã bị chết tại trận, còn hắn, Hen-rích Ghe-đe-ri-ghen thì thoát vây với một con dao găm trong tay.
-Thế cậu định xử lý thế nào với tên này?-Viên trợ lý hỏi.
-Phải chụp ảnh chân dung đủ các kiểu thẳng và nghiêng, lấy mẫu chữ của nó và làm bản trích hồ sơ cá nhân. Tất cả hãy gửi gấp về Béc-lin. Gửi cho cơ quan an ninh-Hen-rích dừng lại trước mặt tên thiếu tá-Nếu nó đúng là kẻ theo như lời hắn tự khai thì bọn mình đã làm được một việc nhân đạo là giúp cho những người thân bắt được liên lạc với nhau. Còn bằng không thì-hắn mỉm cười ý vị-thì một con chim mồi béo bở đã rơi vào tay bọn mình. Cậu hiểu rõ chứ?
-Rất phải. Mình chỉ bổ sung một điều,-Phôn Rít-tơ nói,-Mình sẽ buộc thằng võ sĩ quyền Anh này viết một bức thư cho cậu hắn ở Béc-lin. Được chứ.
 
Chương chín

1.
Phòng giam mới, giống như một hầm đá, thật ẩm ướt và lạnh lẽo, ô cửa vát nằm mãi sát trần. Một chiế giường hai tầng thô sơ bằng gỗ tạp phủ đệm mỏng dính và xấu xí, với một chiếc ghế đẩu-đó là tất cả đồ đạc trong phòng.
Mi-cla-sốp ngả mình xuống giường. Sự cô độc không làm anh khổ sở. Mà trái lại, anh muốn ở một mình để tập trung tư tưởng suy nghĩ về mọi hành động tiếp theo. Nói gì thì nói, cuộc gặp lại với kẻ đã chạm trán rồi trốn thoát vào những ngày đầu chiến tranh không làm anh thích thú. Nhìn vào mắt tên Đức, anh cũng nhận thấy rằng hắn còn nhớ cuộc chạm trán ấy.
Bây giờ nhớ lại vụ chạy thoát đó, Mi-cla-sốp không khỏi thầm trách mình-ở nhỉ, điều gì lúc đó đã khiến anh không mau chóng bước một bước nữa tới bên tên cầm đầu toán thám báo, tên sĩ quan SS đầu to, mà nện cho hắn vài đấm nữa… Lúc ấy anh đã chần chừ, không muốn đánh kẻ đã ngã xuống. Anh thương hại, mà tại sao thương hại cơ chứ!… Rồi chính nhờ đó mà hắn thoát nạn. Bây giờ gặp lại nhau. Chẳng biết cuộc gặp gỡ này sẽ đi đến đâu? Đừng hòng trông đợi ở hắn lòng hảo tâm, ngay cả sự thông cảm cũng chớ có mong đợi… Tên SS đã cố gắng làm tất cả để máu chóng đưa kẻ đã chứng kiến sự nhục nhã của hắn về thế giới bên kia. Ba thằng súng ống đầy đủ mà không giữ nổi một người bị trói!
Mi-cla-sốp nằm quay mặt vào tường. Những suy tư và lo ấu giống như những tảng băng chậm trôi qua làm tê liệt tri giác “Bình tĩnh và kiên nhẫn-anh thầm tính toán-đó là vũ khí duy nhất hiện nay. Mình nhất thiết phải làm như chưa hề gặp tên sĩ quan này và đây là lần đầu tiên trông thấy hắn!”.
Còn một chút hy vọng-như Mi-cla-sốp hiểu được qua những lời trao đổi giữa tên trợ lý trưởng trại giam và tên sĩ quan SS-là, tên Hen-rích mới ở Béc-lin tới và có lẽ hắn sẽ không ở lại đây lâu. Chả hiểu hắn ghé qua đây thăm bạn hay vì công việc. Hen-rích bỏ càng sớm thì càng tốt cho anh.
Anh nhớ lại cái liếc nhìn thận trọng của hai tên sĩ quan khi anh giơ mảnh báo và chỉ vào tên tác giả bài báo, lúc đó chúng trao đổi với nhau những lời ngắn gọn và những cái nhìn ý tứ. Nhưng rồi ngay tối hôm ấy, khi bọn Đức gọi anh lên và bắt anh viết một lá thư gửi cho Dô-nen-béc Tô-bôn-xki, anh thấy nhẹ hẳn người-mọi việc đều ổn cả. Hen-rích đọc cho anh viết nắn nót trên trang giấy trắng. “Cậu Vxe-vô-lốt A-lếc-xan-đrô-vích kính mến! Do nhiều nguyên nhân khác nhau vfa những sự kiện xảy ra gần đây nên hiện giờ cháu đang có mặt ở đây, ở hậu phương quân đội Đức… Hoàn toàn tình cờ cháu biết được là cậu hiện đang ở bên này qua một tờ báo, vì thế, cháu biên thư này gửi cậu…”.
Qua ánh mắt Hen-rích, Mi-cla-sốp hiểu rằng hắn chưa thật tin vào những lời khai của anh, buộc anh phải viết thư cho Dô-nen-béc theo ý hắn. Trước tiên có lẽ hắn muốn lợi dụng điểm này để kiểm tra lại kẻ đào ngũ,-Ông cậu nhất định sẽ phải nhận ra nét chữ của cháu mình. Đột nhiên ngoài hành lang có tiếng ồn ào và tiếng chân bước vội vã, nặng nề, Mi-cla-sốp thận trọng và cảnh giác: có thể chúng lại đến đưa anh đi chăng?-Tiếng then cài cửa sắt kêu rít lên và cánh cửa bị giật mạnh, mở tung ra.
-Vào đi, đồ khốn nạn!-tên giám thị quát lên và đẩy một người mê man lảo đảo vào buồng. Bây giờ ở đây sẽ có hai con rận được nhốt chung cho đỡ buồn, cho chúng mày được sống với nhau trước khi về với chúa!
Người lạ mặt loạng choạng bước vào, đúng hơn là bị đẩy; anh ta đi chân đất mặc chiếc quần lính kiểu đi ủng và đã sờn nát và chiếc áo va-rơi sĩ quan đã rách toạc một đường. Vừa loạng choạng được và bước anh ta đã ngã khụy xuống sàn nhà.
Cánh cửa sau lưng liền đóng ập lại.
Người tù mới nằm úp mặt xuống đất, bất tỉnh hồi lâu, miệng nặng nề há ra như đớp từng ngụm không khí. Mớ tóc màu sáng tựa rơm lúa mì hơi xoăn xoăn, đôi chỗ dính máu và vài chùm xõa xuống trán. Xem chừng người tù này vừa bị “xử lý” xong.
-Nước…-kẻ bị tran tấn rên rỉ,-Nư-ước…
Mi-cla-sốp thận trọng nâng anh ta dậy, đặt lên tấm ván giường và cầm chiếc ca múc nước ở thùng đưa lên môi cho anh ta.
-Nước đây, anh bạn. Uống đi!
Người lạ mặt uống ừng ực, răng va lập cập vào thành ca. Trán và hai bên thái dương lấm tấm mồ hôi. Anh ho sặc sụa, nặng nhọc và đứt quãng từng cơn, mãi một lúc sau dường như đã tỉnh đôi chút anh ta dương cặp mắt đỏ ngầu lờ đờ mệt mỏi nhìn Mi-cla-sốp rồi ngã phịch xuống ván.
Mi-cla-sốp vôi rút trong túi ra miếng giẻ dùng làm khăn, thấm ướt rồi lau máu trên mặt cho người mới vào. Anh ta nằm bất động, hai mắt nhắm nghiền. Phía trên tai một vết thương đang rỉ máu. Mi-cla-sốp cởi áo ngoài, tụt chiếc áo lót ra. Anh phải dùng răng mới xé được. Anh tước ống tay áo thành những dải băng nhỏ rồi băng đầu cho kẻ bị tra tấn.
-Gắng chịu một chút anh bạn nhé!
Người kia chỉ rên mà không mở mắt. Mi-cla-sốp sửa cho anh ta nằm ngay ngắn trên ván và nhét chiếc áo quân phục của mình xuống làm gối cho người tù mới.
-Ngủ đi, anh bạn! Gắng ngủ đi! Giấc ngủ ngon cũng là liều thuốc quý đấy!
Chẳng bao lâu anh ta đã thở đều đặn, nhẹ nhõm hơn và có lẽ đã thiếp đi. Mi-cla-sốp lặng lẽ ngồi xuống bên giường và ngắm nhìn người tù mới. Có lẽ đây là một tù binh. Một linh cảm xấu xao xuyến trong anh. Anh hiểu rằng, sớm muộn rồi kẻ địch cũng đưa vào buồng giam,-như đại tá I-lin-cốp đã nhắc nhở trước,-một “con vịt mồi” hay nói trắng ra là, một kẻ khiêu khích. “Đây là thủ đoạn mà bọn giét-ta-pô không bao giờ trừ bỏ”. Đại tá căn dặn anh nhiều lần như vậy. Nhưng càng nhìn kẻ bị tra tấn, Mi-cla-sốp càng cảm thấy thương xót và cảm giác ấy đã vượt lên trên tất cả. Anh không tin và thật lòng, không muốn tin rằng trước mặt anh, trên tấm ván này lại là một kẻ khiêu khích. Buồng giam có những quy luật riêng của nó và kẻ nào đã rơi vào đó thì dù không định tâm, cũng nhìn thế giới bên ngoài với con mắt khác hẳn. Mi-cla-sốp chưa phải là con người quá nhẫn tâm vì hầu như anh chưa phải chứng kiến sự phản bội và tráo trở nào. Chiến đấu với kẻ thù ở mặt trận Lê-nin-grát anh đã quen với những cuộc đọ sức công khai, trực diện. Những ngày tháng ngắn ngủi ở trường huấn luyện đặc biệt đã trang bị cho anh những hiểu biết và kinh nghiệm nhất định, song bản chất người lính trong anh vẫn tồn tại như cũ. Anh chăm chú ngắm nhìn kẻ đang nằm thiếp trước mắt, một con người đang sống mà phải chịu đựng những đau đớn như thế này làm anh bất giác nghĩ đến số phận của mình. Hàng trăm lần, anh tự hỏi: người ta đánh đập tàn bạo một con người như vậy để làm gì? Vì nguyên nhân và nhằm mục đích gì?
Mi-cla-sốp đã hình dung và chuẩn bị đầy đủ cho cuộc gặp gỡ với kẻ khiêu khích mà anh đã tưởng tượng ra, đó là một kẻ thù ranh ma xảo quyệt. Anh chưa bao giờ hoặc lường trước được rằng kẻ đó lại bị tống vào giam ở trạng thái nửa tỉnh nửa mê như thế này. Nếu đúng là mật thám cải trang thì làm sao hắn còn có thể nhúc nhích nổi được nữa, nếu không có kẻ khác giúp sức? Và liệu hắn còn có thể ghi nhớ được gì? Chẳng lẽ hắn lại có thể dại dột khiêu khích anh trong tình trạng nguy kịch như thế này?…
Mi-cla-sốp nhẹ nhàng đẩy kẻ bị tra tấn vào sát tường cố không để anh ta bị thức giấc…
Bầu trời đêm tím thẫm và một vì sao xa xăm lạc lõng soi bóng qua ô cửa sổ nhỏ. Mi-cla-sốp ngồi bên giường suy nghĩ miên man: “Cũng có thể anh ta chẳng phải là một con người mình ngộ nhận, hay chính anh ta là một người bi tra tấn thực sự rồi bị quẳng vào đây giam cùng buồng với mình?… Do mình sẵn có định kiến…”. Song linh cảm xấu từ những phút làm quen ban đầu vẫn không sao xóa đi được. Anh không thể giải thích rõ ràng bằng lời những cái cảm giác đó vẫn chập chờn ăn sâu trong tiềm thức nhắc nhở anh rằng: Hãy cảnh giác!
 
2.
Đến ngày thứ ba, người bị tra tấn mới hoàn toàn tỉnh táo. Suốt mấy ngày qua Mi-cla-sốp vẫn cố gắng săn sóc một cách cần mẫn như người thầy thuốc săn sóc bệnh nhân, và vì phải thay băng nên đã xé hết cả chiếc áo lót của mình, cho anh ta ăn uống, thay gạc cho anh.
Người bạn tù mở mắt, xoi mói, thận trọng nhìn Mi-cla-sốp và trong ánh mắt sâu thẳm của anh ta không giấu vẻ nghi ngờ.
-Thế nào? Tỉnh rồi hả?-Mi-cla-sốp sốt sắng mỉm cười. May quá, cuối cùng rồi cũng phải…
-Ông bạn là ai vậy?-Người bạn tù mới hỏi, hơi ngóc đầu dậy.
Mi-cla-sốp phân vân nhìn người bạn cùng buồng giam với mình. Giọng anh ta có vẻ lạnh lùng, châm chọc.
-Tôi hả?… Tất nhiên cũng là kẻ bị giam như cậu.-Mi-cla-sốp trả lời bình thản, làm ra vẻ như không hề có ác cảm hay lạnh lùng trong câu hỏi.
-Cũng thế hả?-người kia hỏi lại, câu hỏ ngắn bao hàm nhiều ý nghĩa.-Về chuyện đó còn phải xem xem đã!
-Chúng ta cứ sống, rồi sẽ rõ tất cả. Việc chẳng có gì rắc rối lắm đâu!-Mi-cla-sốp trả lời.
-Chính vậy đó, chẳng có gì là rắc rối cả.
Người tù mới vẫn trả lời, với cái giọng nhát gừng khó hiểu rồi lặng yên nhìn Mi-cla-sốp.
Anh cũng lặng thinh. Những phút ngập ngừng thật khó xử. Cả hai cùng nhìn thẳng vào mắt nhau-một bên giận dữ ngờ vực-còn bên kia thì ra vẻ đợi chờ và thanh thản. Mi-cla-sốp nhớ lại những năm thơ ấu học ở trường, anh cùng các bạn nhỏ thường đọc ngốn ngấu những truyện phiêu lưu của Séc-lốc Hôm-xơ rồi tự rèn luyện cho mình ý chí và sức mạnh của cái nhìn: bọn trẻ thường chơi trò “đấu mắt”: hai đứa trẻ ngồi đối diệ nhau và nhìn thẳng vào mắt nhau cho đến khi một trong hai đối thủ phải chớp mắt chịu thua… Nhớ lại trò chơi đó, bất giác Mi-cla-sốp mỉm cười:
-Bọn mình còn nhìn nhau lâu nữa hay thôi? Có lẽ nhìn nhau thế là đủ rồi chứ?
-Cũng có thể còn phải nhìn lâu. Thế ông bạn làm sao?
-Chả làm sao cả!-Mi-cla-sốp tự nhiên thấy buồn cười và anh bật cười thành tiếng.-Bọn mình nom giống như hai con gà chọi đang xửng cồ với nhau vậy… Chấm dứt cái trò khỉ này được rồi đấy.
-Đúng đấy, anh bạn ạ, phải chấm dứt đi thôi!
Mi-cla-sốp thấy người lạ vẫn còn có vẻ ngờ vực anh, nhìn anh như nhìn một kẻ thù địch. Một bức tường vô hình đang ngăn cách họ, và có vẻ càng ngày càng khó phá vỡ nổi. Mi-cla-sốp lại một lần nữa cố gắng tìm cách phá tan mối nghi ngờ đó:
-Mình thấy cậu có vẻ là một con người có cá tính. Cậu tinh ranh lắm!
-Thời buổi này như thế là tốt đấy,-anh nói.-Chúng mình làm quen nhau nhé?
-Ừ thì làm quen,-người tù mới trả lời,-tên cậu là gì?
Anh ta hỏi với cái giọng rõ ràng là không hề mảy may tin vào bản thân Mi-cla-sốp và những lời nói của anh. Lần đầu tiên Mi-cla-sốp nghĩ rằng: nhỡ anh ta cũng tưởng mình là kẻ khiêu khích thì sao? Ý nghĩ đó làm anh bối rối, cảm thấy bất lực như bị tước đoạt mất vũ khí, không còn gì để tự vệ nữa. Nhưng ý nghĩ này chỉ thoáng qua rồi lại tan biến ngay trong đầu óc anh.
-Mình là I-go Mi-cla-sốp.
-Cứ cho là như vậy đi. Cứ tạm gọi là I-go Mi-sa-sốp. Rõ ràng là anh ta đáp lại với giọng không tin tưởng lắm.
-Không phải Mi-sa-sốp, mà là Mi-cla-sốp.
-Ừ thì Mi-cơ-la-sốp vậy,-anh ta nói tách bạch từng âm và hơi nheo mắt lại như lúc ngắm mục tiêu: chăm chú và thận trọng.
-Còn mình, thì cậu cứ gọi là Pê-tơ-rô. Không phản đối chứ?
-Được thôi, muốn là Pê-tơ-rô thì Pê-tơ-rô, Mi-cla-sốp cũng nói với giọng như vậy và hỏi thêm.-Pê-tơ-rô không có họ.
-Đúng thế, Pê-tơ-rô không họ,-rồi anh ta nhếch đôi môi giập nát lên cười chua chát.-Cứ việc gọi là Pê-tơ-rô không họ.
-Ồ cái này!
Mi-cla-sốp cố nén giận, chỉ mở to mắt nhìn anh ta nằm sóng sượt trên giường với nhiều ẩn ý và thở dài, bỏ đi. Chả còn chuyện gì để mà nói nữa, cuộc tiếp xúc không thành. Bức tường vô hình mà con người tự xưng là Pê-tơ-rô ấy dựng lên vẫn còn tồn tại.
-Sao lại im lặng thế? Pê-tơ-rô lại lên tiếng, vẻ tấn công,-Cứ hỏi tiếp đi chứ??…
-Cậu im ngay đi!-Mi-cla-sốp nổi cáu.-Chỉ tiếc rằng mình đã xé cả chiếc áo để băng bó cho cậu một cách vô ích…
-Áo là thứ của công. Họ sẽ thay cho cậu cái khác khi cậu đi báo cáo với bọn họ.-Pê-tơ-rô châm chọc.
Mi-cla-sốp quay ngoắt lại. Anh không muốn cãi nhau tay đối vì những chuyện lẩm cẩm. Tranh luận và chứng minh cũng chẳng có ích gì. Anh bỏ ra một góc, ngồi xổm, dựa lưng vào tường và nhắm mắt lại, làm như không đếm xỉa gì đến những lời nói xỏ xiên châm chọc của Pê-tơ-rô.
-Cậu im lặng hả?-Pê-tơ-rô lại tấn công.-Có lẽ cậu trả lời được câu này chứ:-Mình nằm ở đây được bao lâu rồi?
Mi-cla-sốp buộc phải trả lời:
-Ba ngày đêm.
-Suốt những ngày ấy, bọn chúng không lôi tôi lên hỏi cùng lần chứ?
-Cậu nằm bất tỉnh nhân sự như dính vào ván giường ấy.
-Quái lạ thật!-Pê-tơ-rô ngồi lên giường, thõng chân xuống đát và nhìn Mi-cla-sốp.-Cậu cũng không bị lôi đi hỏi cung à?
-Không, không bi lần nào cả.-Mi-cla-sốp lại phải trả lời.
Anh nhìn lại Pê-tơ-rô và hơu ngạc nhiên khi thấy anh ta có vẻ tỉnh táo và hoạt bát lại khá nhanh.
-Hiểu rồi,-Pê-tơ-rô đáp.-Hiểu rồi!
“Lạ thật.-Mi-cla-sốp thầm nghĩ, lưng cảm thấy hơi lạnh cùa bức tường gạch.-Mình không tin anh ta, anh ta cũng chẳng tin mình. Cả hai người cùng ngồi như đôi nhện trong cùng chiếc hộp. Cả hai đều thận trọng thăm dò và giận dữ nghi ngờ nhau. Nhưng anh nghĩ rằng không phải vô cớ mà bọn phát xít lại đi đánh đập một con người đến thập tử nhất sinh như vậy. Có lẽ chúng cũng có những nguyên cớ nào đó. Thế mà mỗi người lại thu mình giữ miếng, gầm ghè nhìn nhau rồi lẩn tránh nhau.
Thời gian trôi đi một cách lê thê. Ngày như kéo dài vô tạn, Mi-cla-sốp khá nhạy cảm về thời gian-hầu như anh có cảm giac theo từng bước biến đổi của nó.-bằng xương bằng thịt, bằng bản năng tự nhiên. Cảm giác đó được phát triển nhờ vào những buổi luyện tập quyền Anh, nơi mà “linh cảm về thời gian” được coi là một trong những kỹ năm quan trọng của một võ sĩ. Thế mà giờ đây trong buồng giam với hai con người xa lạ, nhưng số phận có lẽ lại gần gũi và giống nhau, khi cả hai cùng ngồi bó mình khổ sở, ngờ vực lẫn nhau và anh cảm thấy thời gian như một khối gì đó sền sệt dính nhơm nhớp và không có hình thù gì cả.
 
3.
Theo cầu thang sắt, Ma-ri-na lên tầng bốn, rút chìa khóa mở cửa căn phòng bỏ vắng từ lâu. Vào những ngày xuân ấm áp, chị thích được ở ngoài đường phố tràn ngập ánh nắng nhiều hơn. Mùa xuân ở Bỉ thật đặc biệt, không giống ở ngoại ô Mát-xcơ-va. Ở đấy mưa hình như nhiều hơn và mặt trời cũng có vẻ ấm hơn, còn ở đây, trời đang nắng bỗng nhiên lại có đám mây đen kéo đến che phủ lấy bầu trời và một cơn mưa rào ập đến, những giọt mưa to tướng gõ nhịp trên mặt đường nhựa, trên mái nhà, trên những con đường trải sỏi. Và khoảng mười lăm phút sau ông mặt trời tươi tỉnh lại ló ra tựa hồ như được rửa mặt xong và rạng rỡ chiếu rọi xuống mặt đường những tia nắng ấm áp.
Ma-ri-na cởi áo mưa, kéo dây khóa rút tháo đôi ủng cao su bọc ngoài giày ra. Chị bật vòi bếp ra và bắc ấm nước pha trà. Trong phòng hơi lạnh và tối lờ mờ. Sờ vào lò sưởi chị thấy nguội lạnh. Lấy cớ thiếu than, bà chủ nhà keo kiệt đã trâng tráo cắt nguồn đốt lò sưởi của chị. Ma-ri-na hất chiếc khăn choàng lên vai và vừa đợi nước sôi, vừa sửa soạn món san-uych. Chị xắt hai lát bánh mì, phết lên một lớp bơ thực vật mỏng rồi đặt hai khúc cá xúc-đin lên trên.
Còn một tiếng rưỡi nữa mới tới giờ liên lạc với “Trung tâm” nên chị muốn tranh thủ ăn lót dạ và uống rà nóng cho ấm người.
Bước tới bên giá sách, chị rút cuốn “Ba người lính ngự lâm” của Đuy-ma rồi rút trong túi xách ra một gói nhỏ mà Van-te đã kín đáo trao cho chị ở bến tàu điện. Chị mở gói và bất giác mỉm cười, bên cạnh bức điện báo mà chị phải mã hóa để chuyển về Trung tâm, hôm nay còn có một thanh sô-cô-la dài. Thời gian gần đây, hầu như lần nào Van-te cũng gửi cho chị một thanh sô-cô-la “kèm theo bức điện”. Anh đã chú ý thấy vẻ nhợt nhạt trên đôi mắt chị và cho rằng, chị đã phải chi tiêu dèn sẻn, ăn uông quá thiếu thốn. Song qua đó Ma-ri-na lại hiểu một điều lớn lao hơn, một tình cảm êm dịu làm rung động trái tim chị: Đó là sự chú ý và săn sóc kín đáo của người đàn ông. Biết làm sao được khi mùa xuâ chỉ có thể tác động tới thiên nhiên mà thôi.
-Cảm ơn anh Van-te!-chị thì thầm và thoáng hình dung ra một cảnh khá bất ngờ: chị đang âu yếm đưa tay xoa mặt, vuốt ve đôi mắt và má anh. Bàn tay chị dừng lại trên cặp môi anh…
Lát sau chị mở bức điện và lướt đọc nhanh dòng chữ nhỏ đều đặn:
“Trung tâm. Chuyển giác đốc.
Trả lời bức điện hỏi ngày 16-2-1942. Trong tháng 12 và tháng Giêng đã gọi nhập ngũ thêm từ 650-700 nghìn lính trẻ tuổi từ 18-20. Thời gian huấn luyện bị rút ngắn và rất khẩn trương. Bộ chỉ huy quân Đức đã soạn thảo kế hoạch tấn công chủ yếu ở sườn phía Nam. Các chuyên gia quân sự không những chỉ lo lắng vì những tổn thất lớn lao trên mặt trận miền Đông mà cả về chất lượng của hững đội quân đó không thể nào bù đắp nổi. Trên chiến trường Nga, nhiều đơn vị tinh nhuệ có kinh nghiệm chiến đấu, xưa nay chưa hề nếm mùi thất bại đã từng vùng vẫy khắp châu Âu nay đã bị tiêu diệt”.
Ma-ri-na chưa kịp đọc hết bức điện thì bỗng có tiếng gõ cửa bất ngờ và dồn dập rồi một giọng đàn ông cất lên thô lỗ:
-Mở cửa.
Thoáng một giây Ma-ri-na hoảng hốt “Bọn giét-ta-pô” và một ý nghĩ khủng khiếp lóe lên trong đầu-Thế là hết”. Không kịp suy nghĩ gì hơn về hành động tự nhiên của mình, chị cuống quít vò nhàu mẩu giấy và ngậm vào miệng. Ma-ri-na vớ thỏi sô-cô-la, mở giấy bọc định cắn một miếng để nhai cùng mẩu giấy…
-Mở cửa!… Thợ điện đây!…
-Tôi mở ngay đây!
Đảo mắt nhìn quanh căn phòng không thấy gì sơ suất chị vội bước tới mở cửa.
-Xin phép bà vào phòng được chứ? Tôi ở Sở điện đây.
-Nhưng tôi có gọi thợ điện đâu?
-Kiểm tra định kỳ, thưa bà. Xem có gì cần sửa chữa bảo dưỡng không?
-Mời ông vào!-Ma-ri-na miễn cưỡng nói và né mình sang bên nhường lối cho khách không mời, đồng thời đưa lưỡi đẩy mẩu giấy sang một bên má. Chị thấy hơi nhẹ nhõm vì có thể đây là một cuộc kiểm tra định kỳ màng lưới điện thật thì sao?
Người thợ điện lặng im, thờ ơ và thạo việc đặt chiếc túi xách lên ghế, chẳng cần để ý tới Ma-ri-na và đưa mắt quan sát toàn bộ hệ thống đường dây, sờ mó lắc lắc các ổ cắm rồi nhìn cả chiếc đèn bàn…
Lợi dụng khoảnh khắc thuận tiện, Ma-ri-na đưa thỏi sô-cô-la lên miệng lè mẩu giấy ra và đút nhanh vào túi áo.
-Bà sống có một mình à?-Người thợ điện hỏi cho có chuyện và thản nhiên cúi nhìn gầm giường.
-Ở đó chẳng có dây rợ gì đâu,-Ma-ri-na lạnh lùng nói.
-Xin lỗi, thưa bà. Việc của tôi là phải xem kỹ tất cả,-anh ta điềm nhiên trả lời,-Kìa thưa bà, ấm nước đang trào rồi.
-Tôi biết rồi!
Khoảng mười lăm phút sau, anh ta bỏ đi, để lại trong phòng mùi thuốc lá rẻ tiền, mùi đồ da và quần áo thấm mồ hôi.
Ma-ri-na khóa cửa lại, vội trải mẩu giấy ướt và nhàu nát ra bàn. Chữ bị nhòe nhưng khi là khô vẫn còn đọc được.
Mở trang cần thiết trong cuốn “Ba người lính ngự lâm” chị nhanh nhẹn mã hóa bức điện mang nội dung báo cáo này. Đầu óc chị rối tinh, rối mùi. Khi một con người phải tạo cho bằng được hai cuộc sống thì bất cứ một vụ đột nhập nào, dưới bất cứ hình thức hợp pháp hay không hợp pháp vào nhà cũng đều gây nên mối hoài nghi day dứt chính đáng. Ma-ri-na cũng vậy. Chị cố tìm mọi lý lẽ để tự trấn an mình, cố coi đây như là một cuộc kiểm tra bình thường thật sự của sở điện, thế nhưng, đồng thời Ma-ri-na lại vẫn có cảm giác là anh ta không phải tự nhiên mò đến đây. Dù ít hay nhiều thì đây chẳng khác gì một sự khám xét sơ bộ công khai và đột ngột. “Ngày mai phải báo cáo cho Van-te biết”-chị thầm nhủ và mở tủ lấy trong ngăn ngầm ra chiếc va-li nhỏ đựng máy phát vô tuyến. Ma-ri-na nhanh chóng chỉnh làn sóng quen thuộc và khi tín hiệu vừa phát ra thì chị nhận ngay được tín hiệu đáp của Trung tâm. “Họ đang chờ sẵn mình”, chị vụt nghĩ và nhanh chóng tung lên không trung những làn sóng với những hàng chữ số khó hiểu. Chuyển xong Ma-ri-na liền nhận được tín hiệu “Nhận chỉ thị” của Trung tâm. Lát sau, khi xong buổi liên lạc, chị lại giấu điện đài và ngồi dịch ngay bức mật mã từ Mát-xcơ-va. Bức điện mới vẫn gửi cho người “lạ mặt” là người vẫn thường chuyển cho chị những bản tin với nét chữ nắn nót đều đều.
“Hãy hết sức chú ý theo dõi tiếp tình hình quân đội Đức. Theo dõi sát việc chuyển quân của chúng từ Pháp, Bỉ và các khu vực khác ở miền Tây sang phía Đông chúng ta”.
 
4.
Đến ngày thứ năm thì hai người bạn tù cô đơn ấy đã trở thành bạn bè. Mi-cla-sốp rõ ràng là đã có cảm tình hơn với người bạn tù và, về phần mình, Pê-tơ-rô dần dần cũng tỏ ra hết ngờ vực anh. Khi chỉ có hai người bị cầm tù ngồi với nhau suốt ngày quanh bốn bức tường, chẳng thể trông và gặp được ai thì họ không thể im lặng mãi được. Nỗi bất hạnh chung làm con người trở nên dễ gần gũi nhau. Thoạt tiên họ nói với nhau những việc linh tinh, về sau dần dần nảy sinh những cách nhìn nhận có vẻ hợp nhau hơn. Họ cùng nhớ lại cuộc sống trước chiến tranh, kể cho nhau nghe những cuốn sách đã đọc, những bộ phim đã xem…
Vào buổi tối hôm thứ năm khi đã quen nhau, lúc đang nằm trên tấm ván chung khe khẽ trò chuyện. Pê-tơ-rô bỗng bảo:
-Này, mình biết cậu từ hồi chưa chiến tranh cơ đấy, hay nói đúng hơn là trước chiến tranh mấy ngày. Cậu là võ sĩ quyền Anh, phải không nào?
-Đúng, mình là võ sĩ quyền Anh.-Mi-cla-sốp không ngần ngại gì cả, trả lời một cách thành thật, nhưng trong lòng lại hoàn toàn không ngờ câu chuyện lại xoay nhanh như vậy nên anh thầm cảnh giác.-Ở đâu? Cậu biết hoặc thấy mình ở đâu?
-Ở công viên Pi-tê-rơ-gốp. Sau ngày Một tháng Năm, bọn mình đến tham quan và tối xem thi đấu quyền Anh ở đấy luôn.
Pê-tơ-rô kể lại chi tiết là họ gồm ba người-ba đoàn viên Côm-xô-môn-được thưởng một chuyến đi thăm Lê-nin-grát: anh ta đi nhiều đến mõi nhừ cả chân và chuyến đi “thưởng” ấy đã gây bao ấn tượng không thể nào quên trong họ: họ được đến điện Xmôn-nưi, thăm điện Mùa Đông, bảo tàng nghệ thuật Er-mi-ta-giơ và bảo tàng Mỹ thuật Nga. Anh ta kể chi tiết đến nỗi làm tiêu tan mọi hoài nghi trong lòng Mi-cla-sốp.
-Buổi tối họ phát cho mình vé đi xem đấu quyền Anh. Hai cậu kia từ chối còn mình thì đi. Pê-tơ-rô kể tiếp,-Mình vốn rất thích quyền Anh, bản thân có tập đôi chút, nhưng chỉ biết võ vẽ, chứ đừng hòng nói đến chuyện mơ trở thành kiện tướng… Công tác Đoàn chiếm hết cả thời gian. Mình là cán bộ quận đoàn mà.
Mi-cla-sốp vẫn im lặng chăm chú lắng nghe, không ngắt lời. Ký ức đang đưa anh trở lại những ngày cách đây không lâu nhưng giờ đây đối với anh nó đã trở thành quá khứ xa lắc-đã gần một năm trôi qua kể từ trận đấu trên vũ đài đáng ghi nhớ ấy. Thậm chí anh có cảm giác khó tin được là điều đó đã xảy ra với chính anh.
Pê-tơ-rô vẫn khẽ khàng rủ rỉ:
-Đối thủ của cậu lúc đó là một anh chàng võ sĩ hải quân… cũng đã từng là nhà vô địch thì phải. Mình không còn nhớ tên anh ta nữa, hình như là…
-Là I-van Da-pô-rô-giơ-xki,-Mi-cla-sốp nhiệt thành nhắc hộ.
-Đúng rồi, đúng anh chàng I-van lính thủy ấy rồi. Hôm ấy cậu đấm mới ác liệt chứ!… Thật tuyệt… Nhất là ở hiệp hai. Đấm thế mới gọi là đấm chứ… Trình độ quả thật điêu luyện! Hôm ấy khán giả cứ phải gào lên vì khoái chí. Mình đỏ cả tay vì cổ vũ cậu. Sau đó cậu giành chức vô địch, phải không nào?
-Phải đấy,-Mi-cla-sốp đáp. Trận hôm ấy quả là hay nhưng khá căng…
-Chứ còn sao nữa! Cái cậu lính thuỷ ấy nom dữ tướng như một con báo ấy. Vì thế cho nên mình còn nhớ kỹ trận đấu ấy hơn mọi trận khác mà mình đã được xem.Pê-tơ-rô thì thào vẻ cởi mở, tâm sự đầy tin cậy.-Chả hiểu sao mình luôn đứng về phía cậu. Mình thích cách đánh của cậu, chỉ thế thôi… Điều này thật khó giải thích. Thậm chí còn định lẻn vào phòng thay quần áo để bắt tay chúc mừng cậu nhưng người ta không cho…
Pê-tơ-rô dừng lưòi, rồi lại thủ thỉ:
-Hôm đầu tiên ở đây mình không nhận ra cậu, chỉ mang máng thấy khuôn mặt quen quen. Sau đấy mìng bỗng nhớ ra trận đấu hấp dẫn từ năm ngoái ấy. Mình thầm hỏi: chả lẽ đúng là anh ta? Suốt mấy ngày qua mình chỉ im lặng quan sát, thăm dò. Trái tim đã nhắc mình, ký ức đã giúp mình nhớ lại và mình không nhầm, nhưng mắt mình thì không tin. Không thể tin được. Có thế thôi! Kiện tướng vô địch quyền Anh bỗng dưng lại ở cái xó này, lại rơi vào đây! Thật vô lý. Mình không thể hình dung nổi, không hiểu nổi. Giống như thể có hai con người rất giống nhau nhưng cũng rất khác nhau ấy. Một đằng là nhà quyền Anh, một đằng là cậu lại ngồi lù lù ở đây, trong cái buồng giam này.. Lúc hỏi cung chúng nó đã khích mình, nêu cậu ra làm gương, nào là cậu tự chạy sang đầu hàng, nào là gì gì nữa… Nhưng mình không tin! Không thể tin được, chỉ đơn giản thế thôi! Không thể như vậy được!… Cậu I-go ạ, cậu có thể không nói ra, nhưng tự mình, mình hiểu tất cả, công tác bí mật mà…-Pê-tơ-rô thầm thì vào tai Mi-cla-sốp-Không cần nói gì với mình cả, đó là bí mật quân sự. Mình cũng thế, cậu hiểu chứ? Mình mới nhảy dù xuống đây. Hai tuần trước và chẳng may bị…
“Cho dù anh ta có thật sự được bộ chỉ huy mặt trận tung vào đây đi nữa,-Mi-cla-sốp thầm nghĩ ,-thì bọn mình cũng chẳng có điều gì chung để mà nói cả. Mình có việc của mình, anh ta có việc của anh ta. Mà tại sao anh ta lại cố tình tiết lộ với mình nhỉ? “Ngay lúc đó một tiếng nói khác, tựa hồ như bên trong Mi-cla-sốp còn có một con người khác, tỉnh táo và chín chắn hơn, biết suy xét hơn. Anh ta tiết lộ với mình như với một thần tượng mà anh ta sùng bái. Có lẽ anh ta muốn được giống như mình. Lúc bi hỏi cung có thể anh ta đã không khai báo gì, chứ chẳng phải vô cớ mà bọn chúng đánh anh tàn nhẫn như vậy… Đừng nên ghét bỏ, xa lánh một người bạn như vậy”.
-Sao lại yên lặng thế, I-go? Cậu không tin mình hay sao? Pê-tơ-rô lại thì thào phả hơi nóng vào tai Mi-cla-sốp.-Tất nhiên mình hiểu. Cậu là một con người quan trọng. Cả nhiệm vụ và mục tiêu… Cậu hãy nắm chặt tay mình để khẳng định cho mình tin rằng nhất định cậu sẽ không khai, rằng cậu là người của chúng mình… Khi đó mình sẽ nói cho cậu một mật khẩu liên lạc. Cậu có thể thoát khỏi đây và tìm tới đội du kích…. Cậu hãy nói mật khẩu này và người ta sẽ tiếp nhận cậu, giúp đỡ cậu hoàn thành nhiệm vụ ở đây… Cậu hiểu chứ? Nào, đưa tay đây, Mi-cla-sốp…
Nhưng Mi-cla-sốp không chìa tay ra. Pê-tơ-rô tự giằng lấy rồi ghì chặt vào người, nhưng Mi-cla-sốp đã nhẹ nhàng gỡ tay ra. Rồi anh cũng nhẹ nhàng nói:
-Mình chẳng phải là nhân vật như cậu ngộ nhận đâu. Ngủ đi thì hơn, muộn rồi đấy!
-I-go cậu không phải là người mà tớ…?-Pê-tơ-rô vẫn chưa thôi,-Đúng không?
Anh ta đã đi quá xa và Mi-cla-sốp đã trở nên thận trọng hơn. Anh ta hỏi để làm gì?
-Đúng như vậy.-Mi-cla-sốp sẵng giọng, cảm thấy giữa họ dã mất đi sự gần gũi của những người đồng chí mà vẫn hy vọng từ mấy hôm nay…-Cậu chẳng hiểu nổi đâu! Người ta đã làm nhục mình!… Và mình tự bỏ chạy sang đây!… Thế đấy!… Cậu hãy cút đi cho rảnh với cái mật khẩu khỉ gió ấy!…
Pê-tơ-rô co rúm người dịch lại sát tường. Mi-cla-sốp cảm thấy áy náy. Mình làm như vậy để làm gì nhỉ? Vấn đề phải trở nên dứt khoát, hoặc là phải thế này, hoặc là phải thế kia.
-Thằng khốn kiếp, quân chó má,-đột nhiên Pê-tơ-rô hét lên giận dữ-Quân chó má!
Rồi liền sau đó anh ta đưa cùi tay đẩy mạnh Mi-cla-sốp làm anh bật khỏi giường rơi uỵch xuống sàn nhà.
-Đi đi! Đi mà báo cáo đi!… Thằng phản bội!…
Mi-cla-sốp vùng đứng bật dậy. Mọi mối nghi ngờ đã tiêu tan, thế giới lại trở nên rõ ràng và tàn nhẫn. Nhưng trong tiếng thét phẫn nộ của Pê-tơ-rô như có vẻ giả dối, tự tin vào tính chính xác ắt phải có của sự việc.
-Thằng “Quận đoàn mặt mo”!-Mi-cla-sốp thở dốc, giận dữ, đầy sắt khí,-Tao sẽ đấm mày lồi mắt ra cho mà xem!
Ngay lúc ấy có tiếng khóa cửa kêu lách cách vội vã và cánh cửa bật mở tung ra. Tên giám thị xô vào. Mi-cla-sốp có cảm giác là hắn đã cố ý rình mò sẵn ở cửa và chờ đợi cái phút kết thúc của tấn tuồng này:
-Chúng mày làm gì mà om sòm lên thế?-Hắn hét lên giọng the thé.
-Con lợn “đỏ” này đánh tôi,-Pê-tơ-rô kêu toáng lên định trút mọi tội lỗi lên đầu Mi-cla-sốp. Nó xông vào chực đán tôi.
Hai tên lính canh nữa bước vào phòng, Mi-cla-sốp chẳng buồn nghe nữa. Bọn chúng thúc báng súng vào lừng, đẩy anh đi dọc hành lang rồi nhốt vào xà lim cá nhân.
 
5.
Mi-cla-sốp nằm xà lim tối hai ngày đêm. Bọn Đức không đưa anh đi hỏ cung và cũng không quấy rầy anh nữa. Mi-cla-sốp nhiều lần nhớ lại sự việc xảy ra trong buồng giam “lớn” và nhớ lại những lời nói “tâm sự” của Pê-tơ-rô. Chẳng lẽ anh ta lại là kẻ khiêu khích?… Anh không muốn tin điều đó: trông Pê-tơ-rô không giống như một kẻ phản bội. Mi-cla-sốp tự đặt mình vào địa vị anh và tự hỏi: nếu là mình thì sẽ xử xự ra sao? Trả lời câu hỏi này chẳng phải dễ.
Đến ngày thứ ba, chúng dẫn anh ra khỏi xà lim đưa tới văn phòng. Khi ra rới sân, bất giác Mi-cla-sốp nhắm nghiền hai mắt lại: hơn tuần nay anh không được thấy ánh nắng mặt trời, anh đã mất đi cảm giác quen thuộc khi nhìn thứ ánh sáng chói chang này. Lập tức anh bị thúc vào lưng:
-Nhanh lên!
Chúng dẫn Mi-cla-sốp vào phòng làm việc của tên trợ lý trưởng trại giam. Thiếu tá SS Phôn Rít-tơ đứng dậy khỏi bàn. Mày râu nhẵn nhụi, chiếc áo sơ mi trắng bảnh bao và thân hình mập mạp được bó gọn trong bộ quân phục.
-Ồ, xin chức mừng ăng!-Y bỗng xởi lởi nói bằng thứ tiếng Nga trọ trẹ.-Có thư từ Béc-lin gửi cho anh đây!
Đoạn y chìa cho Mi-cla-sốp một chiếc phong bì bỏ ngỏ. Trên một trang giấy trắng mịn là nét chữ viết tháu tròn trĩnh: ”Cậu rất sung sướng vì cháu, cháu ạ-Dô-nen-béc Tô-bôn-xki viết,-Cậu sẽ lo chạy và làm mọi điều có thể làm được… Nhưng chính cháu mới là người chủ vận mệnh của mình, mọi việc đều phụ thuộc vào bản thân cháu rất nhiều”. Rồi gã khuyên Mi-cla-sốp nên gia nhập đội quân “giải phóng” để đem lại tự do cho “đất Mẹ-nước Nga”. Cuối thư hắn chuyển tới anh lời chào của dì An-na và nói thêm “dì rất sung sướng nhận được tin vui của đứa cháu hiếu tháo”.
Đọc xong bức thư của ông cậu rể. Mi-cla-sốp tỏ ra vui mừng thật sự. Anh thở phào nhẹ nhõm:
-Thưa ngài thiếu tá, tôi xin cảm tạ ngài về bức thư này.
-Ein moment! (Đợi cho một chút)-Phôn Rít-tơ vội nói và đưa tay ấn nút điện trên bàn làm việc của hắn.
Một tên thượng úy bước vào, Mi-cla-sốp ngoảnh mặt lại nhìn và… lông mày anh dựng ngược hẳn lên vì ngạc nhiên: trước mắt anh không phải ai xa lạ mà chính là tên Pê-tơ-rô! Bộ quân phục sĩ quan của gã may vừa khít nom gã cân đối và cao hẳn lên. Trên gực hắn lấp lánh tấm huân chương chữ thập ngoặc. Hắn bước ngang qua Mi-cla-sốp như qua một vật vô tri vô giác. Đến bên Phôn Rít-tơ, hắn hiên ngang dập gót giày:
-Thưa ngài thiếu tá, tôi có mặt!
-Anh hãy dịch cho người bạn Nga này biết rằng, sáng mai chúng ta sẽ công bố việc tuyển mộ lính tình nguyện vào đội quân lê dương Nga.-Viên trợ lý trưởng trại nói tiếng Đức,-Chúng tôi hy vọng ông Mi-cla-sốp sẽ là người đầu tiên xung phong ghi tên để làm gương cho các tù binh khác.
Gã thượng úy quay sang Mi-cla-sốp và trong cặp mắt hắn toát lên vẻ thân thiện cởi mở. Gã mỉm cười như thể hôm trước đã từ giã nhau như những người bạn thân thiết:
-Mình rất mừng cho cậu, I-go ạ.-Gã nói và dịch lại lời viên trợ lý trưởng trại giam.
 
Chương mười

1.
Mọi dự định của Gri-gô-ri Cun-ga trong ngày hôm đó đã bị đảo lộn ngay khi anh từ nhà ga đến thẳng Bộ tư lệnh. Sĩ quan trực ban-một trung úy trẻ tuổi với hai cuống huân chương trên ngực, sau khi xem kỹ các giấy công tác, đã lịch thiệp bảo anh ngồi chờ:
-Tôi được lệnh khẩn tới gặp thủ trưởng, anh nói khẽ, và liếc nhìn tấm huân chương Lê-nin còn mới tinh, long lanh trên bộ ngực nở nang của Cun-ga, sau một lúc im lặng, anh nói: Có đại diện hội đồng quân sự đến.
Cun-ga ngồi tựa lưng vào thành ghế dựng sát tường, sẵn sàng đợi chờ lâu, vì anh nghĩ rằng, các thủ trưởng nói chuyện sẽ còn dài. Hai nữ quân nhân ngồi sau chiếc bàn đang chăm chú biết cái gì đó, không để ý đến Cun-ga. Tiếng máy chữ tanh tách vang lên sau tấm bình phong bằng gỗ dán:
-Ở đây hút thuốc được chứ ạ?-Cun-ga hỏi vừa rút bao thuốc “Ca-dơ-bếch” ra. Anh không nghiện nhưng muốn hút cho đỡ sốt ruột.
-Anh cứ việc hun khói vì sức khỏe của anh, người nữ quân nhân ngồi cạnh cửa sổ liên tiếng đáp lại.
Nhưng Cun-ga không kịp hút. Trung úy trực ban đã xuất hiện nơi bậc cửa.
-Nào, đồng chí sĩ quan xe tăng, quàng lên! Thủ trưởng đang chờ.
Khi Cun-ga vừa bước qua ngưỡng cửa và giơ tay chào báo cáo theo đúng điều lệnh với thiếu tá đang ngồi sau bàn thì một trung tá cụt tay liền rời khỏi cửa sổ bước lại bên anh. Trung tá đeo hai huân chương Cờ Đỏ. Cun-ga cũng cảm thấy khuôn mặt trung tá khá quen thuộc. Nét mặt không quá ba mươi tuổi, nhưng mái tóc trên thái dương bên phải đã điểm bạc.
-Gri-sa, cậu phải không?
Và mãi lúc ấy Cun-ga mới kịp nhận ra trung tá. Đó chính là đại uý Xô-rô-kin trước đây và là tiểu đoàn trưởng xe tăng, nơi Cun-ga phục vụ. Ngay đêm thứ hai của chiến tranh Cun-ga đã muốn đuổi theo đơn vị khi anh từ quân khu Lê-nin-grát dự cuộc thi đấu quyền Anh trở về. Nhưng họ đã bị muộn mất mấy tiếng: rạng sáng toàn tiểu đoàn đã lên đường ra mặt trận.
Tim Cun-ga nhói lên-người sĩ quan xe tăng dũng cảm cua anh nay đã là một thương binh, đã mất tay trái, nhưng đồng thời anh cũng vui mừng khôn xiết khi bất ngờ gặp lại người chỉ huy cũ của mình.
-Đồng chí đại… Xin lỗi, đồng chí trung tá!-Và siết chặt thân hình anh trong lòng mình. Trung tá thân mật vỗ vỗ lưng anh và thì thầm:
-Gri-sa, con gấu của tôi! Làm mình ngạt thở đây này, con quỷ ạ.
Cả hai đều vui sướng trước cuộc gặp gỡ bất ngờ. Trung tá Xô-rô-kin ngắm nhìn Gri-sa và tấm tắc:
-Chà, chàng trai anh hùng! Nào huân chương Lê-nin, nào huân chương Cờ Đỏ. Mình đã đọc tin này trên báo và tự hào khoe với mọi người trong đơn vị: cậu ta là chiến sĩ của mình đấy. Vô địch quyền Anh quân khu đấy!...
-Đồng chí tiểu đoàn trưởng cũng có tới hai huân chương Cờ Đỏ đấy chứ.
-Chiếc thứ nhất được tặng thưởng sau trận chd ở Pri-ban-tích, còn chiếc thứ hai là trong các trận đánh bảo vệ Mát-xcơ-va đấy… Và cũng bị mất tay ở đây.-Xô-rô-kin thở dài:-Tóm lại, trong cái may vẫn có cái rủi! Giờ thì chiến đấu ở văn phòng vậy.
Xô-rô-kin quay sang thiếu tá chỉ huy trưởng bộ chỉ huy quân sự tỉnh và đề nghị cho Cun-ga về nhóm của trung tá.
-Chúng ta sẽ đi nhận xe tăng ở nhà máy. Gri-sa ạ. Mình đang rất cần những chuyên viên cỡ giỏi như cậu đấy…
Nửa giờ sau họ đã cùng nhau chen chúc trong chiếc “Em-ca” cũ kỹ đang chờ tới nhà máy liên hợp chế tạo máy.
Những chiếc tăng mới tinh đang lặng lẽ và trang nghiêm xếp thành hàng, nòng súng hơi nghếch lên. Mùi sơn xanh, mùi dầu máy, mùi mỡ, thơm nồng quen thuộc. Những hàng chũ số sơn trắng nổi bật trên thành xe. Cun-ga bỗng nhớ lại chàng dũng sĩ “ba tư tấn” của mình hồi trước chiến tranh ở lng.-Nhưng hồi đó những chiếc xe chiến đấu như vậy còn rất ít, có thể đếm trên đầu ngón tay. Anh nhớ đến chiếc tăng mang số 813 của mình. Đó là một chiếc xe thật tốt, không có gì đáng phàn nàn cả! Trước mắt anh như hiện rõ các chiến sĩ thân yêu xếp thành hàng ngay ngắn. Những con người, những bạn chiến đấu dũng cảm. Xca-cu-nốp và Nốp-gô-rốt-kin đã hy sinh trong một trận đánh chiếm điểm cao. Ti-mô-phê-ép còn sống nhưng đang nằm bệnh viện.
Một chiếc tăng chạy qua trước mặt họ, máy nổ đều đều. Nó chạy một quãng ngắn rồi dừng lại và quay ngoắt trở về hàng, ống xả toả khói trắng mù mịt. Cun-ga nheo mắt ngắm nhìn chiếc xe mới, lòng thầm cảm phục người lái xe.
-Cậu ấy lái cừ thật!
-Không phải trai đâu! Một cô gái đấy!-trung tá nói với anh.-Tôi sẽ giới thiệu cậu với cô ta.
-Đồng chí không nói đùa đấy chứ! Chả lẽ phụ nữ cũng hợp với công việc lái tăng ư?
-Cậu chưa bao giờ tới những nhà máy như thế này,-Xô-rô-kin nói và quay sang chiếc xe đã dừng hẳn.-Cô Min-ga-sen-ca! Chờ một chút!
-Có ngay!-một giọng nữ thánh thót vang lên.
Từ tháp xe một chiếc mũ da nhô lên. Cun-ga chú ý ngay đến đôi mắt mở to trong sáng, tròn như hai hòn bi. Cô gái mang tên Min-ga-sen-ca lẹ làng nhảy xuống đất. Quân phục cô lấm lem dầu mỡ, chân đi đôi giày lính nặng nề, cổ tất tụt xuống.
 
Vừa đi vừa chùi tay vào nắm giẻ, Min-ga-sen-ca đến trước mặt Xô-rô-kin:
-Có chuyện gì vậy, đồng chí Vích-to Va-xi-lê-vích?
-Chiếc thứ bao nhiêu rồi?
-Thứ tám ạ, riêng ngày hôm nay đấy…
Lúc đầu Cun-ga nhìn cô với vẻ tò mò sau chuyển sang khâm phục. Min-ga-sen-ca nói chuyện với trung tá rất tự nhiên và kính trọng, tỏ ra là một người khá thành thạo công việc. Cun-ga bỗng nảy ra ý nghĩ: anh muốn rút chiếc khăn tay trong túi ra lau vết dầu trên má cô gái lái xe tăng đáng mến kia.
-Min-ga-sen-ca, xin giới thiệu với cô,-Xô-rô-kin vừa nói vừa chỉ chàng sĩ quan xe tăng,-Đây là đồng chí Gri-gô-ri Cun-ga.
-Có phải chính là người đã được tặng huân chương Lê-nin không ạ?
-Chính anh ta đấy,-trung tá cười, vẻ tự hào.
-Tôi là Ga-li-i-a, còn theo tiếng Nga là Ga-li-a-Min-ga-sen-ca tự giới thiệu, vừa chìa bàn tya nhỏ nhắn nhưng cứng cáp ra cho Cun-ga.-Tôi có tên riêng vùng Ba-sơ-khia. Nhưng mọi người vẫn quen gọi là Ga-li-a. Cô nói và nhìn thẳng vào mặt Cun-ga, trong đôi mắt to trong sáng ánh lên vẻ vui mừng.
Lúc vào nhà ăn, Cun-ga hơi bực mình và lúng túng khi thấy nhiều cặp mắt phụ nữ nhìn anh chăm chú. Người mới đến bao giờ cũng bị đám lính cũ chú ý. Anh hơi ngượng và cứ cúi mặt xuống, hai tay khuấy lia lại chiếc thìa trong đĩa xúp.
-Đồng chí Xô-rô-kin! Đồng chí đại diện Hội đồng quân sự?
Một cô gái hiện ra nơi cửa nhà ăn và gọi toáng lên, vừa gọi vừa vẫy tay: Mời đồng chí lên ngay, nói chuyện với Mát-xcơ-va.
-Này, cậu cứ ăn đi nhé. Đừng chờ tôi.-Trung tá vội nói và quay sang min:-Này, Ga-li-a, hãy nhận và giúp đỡ cậu ấy nắm kỹ thuật mới nhé. Phải hướng dẫn cẩn thận những điều cần thiết. Cậu ấy chịu khó và có kinh nghiệm đấy. Nói tóm lại cô phải giúp đỡ thật sự. Tôi đi đây, có việc cần.
Sau khi Xô-rô-kin đi khỏi, họ ngồi ăn im lặng, chẳng ai dám nói trước. Hai người cứ khua thìa trong đĩa xúp. Cun-ga cố tìm ra một câu mở đầu nào đấy nhưng đầu óc cứ như đặc lại. Chả lẽ lại hỏi: Cô đã có chồng hay chưa? Anh chỉ lặng lẽ liếc trộm đôi bàn tay thon nhỏ của cô đặt ngay trước mặt mình. Anh mạnh dạn nhìn vào khuôn mặt nhưng lúc đó Ga-li-a lại dang cúi vào đĩa xúp và anh cảm thấy ngượng vì đã nhìn cô gái hơi lâu.
Đĩa xúp của trung tá còn nguyên vẹn đặt giữa hai người. Cun-ga cầm lên định xẻ làm đôi, nhưng Min-ga-sen-ca đã ngăn lại:
-Anh ăn đi, tôi đủ rồi. Để tôi đi lấy nước uống.
Rồi cô bỏ chạy đi. Chả còn biết làm gì hơn, Cun-ga đành cố ăn hết đĩa xúp của trung tá và khi Ga-li-a trở lại với chiếc ấm trà trong tay thì chàng lính xe tăng đã thanh toán xong.
Chẳng còn cốc nữa,-cô gái nói giọng như xin lỗi và đặt lên bàn hai chiếc vỏ đồ hộp loại nửa lít.
-Ngoài mặt trận chúng tôi còn uống bằng mũ sắt nữa cơ đấy,-Cun-ga nói,-Tôi có đường và bánh bích-cốt. Nhưng lại để trong ba-lô trên phòng trung tá. Để tôi chạy ào lên lấy nhé.
-Thôi lần khác, giờ nghỉ trưa sắp hết rồi,-Ga-li-a nói và rót nước trà nóng vào hai chiếc vỏ hộp.-Nào mời anh.
-Chúng ta cùng uống trà với bích-cốt vậy,-Cun-ga nói và bẻ miếng bánh bích-cốt ra làm hai, đưa cho Ga-li-a một mẩu,-Mời cô!
Cô cầm miếng bích-cốt mỉm cười, gật đầu tỏ ý cảm ơn. Cun-ga thấy thoải mái, tự nhiên và vui sướng.
 
2.
Cun-ga cùng làm việc với Ga-li-a đến tận tối. Té ra việc tiếp nhận xe mới không đơn giản như anh tưởng. Tuy là người đã hiểu biết tường tận cấu tạo của xe nhưng đôi khi anh cũng ngượng ngùng khi bị Ga-li-a nhắc cần chú ý tới những bộ phận hoặc chi tiết máy móc mà anh không phát hiện ra.
Cun-ga cảm thấy mệt nhoài, nhưng không dám để lộ ra. Khi ca tối kết thúc, Ga-li-a đề nghị được đưa Cun-ga đến nhà bà mẹ một người bạn chiến đấu của anh ở trong thành phố để chuyển quà và thư.
-Không xa lắm đâu,-cô nói, sau khi đọc địa chỉ trên thư,-độ nửa giờ tàu điện. Tôi cũng ở gần khu này đấy.
-Để tôi xin phép trung tá đã,-Cun-ga đồng ý.
Nhưng họ không tìm thấy Xô-rô-kin trong phòng giám đốc. Anh đang họp ở Thành uỷ. Người thư ký văn phòng giám đốc trao cho Cun-ga mẩu giấy của Xô-rô-kin viết dặn anh hết ca hãy đến tìm trung tá ở khách sạn vì ở đấy đang còn một giường dành cho cho anh.
-Thôi ta đi đi,-Ga-li-a và Cun-ga đành theo cô.
Họ đến vừa kịp chuyến tàu điện. Toa tàu chật ních người, dồn họ sát vào nhau và Cun-ga cảm thấy ngượng khi phải tựa sát vào Ga-li-a như vậy. Chặt đến nỗi anh như ôm choàng lấy cô.
Đã lâu lắm rồi, qua những năm tháng chiến tranh nặng nề, hầu như anh đã quên mất cảm giác vui vui khi đi tàu điện và giờ đây chỉ thấy khó chịu trong cảnh ngột ngạt chen chúc, và nhất là phải đứng sát vào vai cô gái như thế này. Không biết cô có hiểu cho hay lại nghĩ xấu về anh. Bao nhiêu lần anh định tìm cách nói chuyện với Ga-li-a nhưng đều không được. Không hiểu tại sao, Ga-li-a chỉ trả lời nhát gừng và qua giọng nói không thể đoán được cô giận dỗi hay ngượng ngùng.
Tàu thưa người dần sau mỗi chặng dừng. Và cuối cùng, khi hai người bước xuống bến thì Ga-li-a bỗng hoạt bát và vui vẻ hẳn lên. Cun-ga thầm trách mình đã quên khấy đi, không đỡ tay cô gái khi bước xuống bậc tàu và anh cảm thấy tiếc vì bỏ lỡ mất cơ hội tỏ phép lịch sự này. Họ im lặng đi dọc theo đường phố vắng, hai bên trồng cây xanh tốt. Thỉnh thoảng vang lên tiếng chó sủa sau các dãy hàng rào im lìm trong bóng trăng lờ mờ. Trăng đã lên cao. Những lớp băng mỏng đầu mùa vỡ tan, lạo xạo dưới chân. Cun-ga bước đi, cố nén hồi hộp. Ánh trăng mờ đục soi các ngôi nhà nhấp nhô, phủ lớp tuyết mỏng tạo nên cảm giác mờ ảo, hư hư thực thực, bí ẩn. Vẫn còn những nhà có ánh đèn bắt qua cửa sổ.
-Sắp đến chưa?-Cun-ga hỏi.
-Sắp rồi! Một quãng nữa thôi.
-Cô biết rõ nhà họ rồi chứ?
-Không, chỉ biết phố thôi,-Ga-li-a đáp và hỏi luôn. Nhà số mấy?
Cun-ga nói ngay số nhà mà không cần phải xem lại phong bì nữa.
Trong sân nhà, một phụ nữ đang rút quần áo trên dây phơi.
-Bà chủ ơi!-Cun-ga cất tiếng gọi.-Đây có phải là nhà bác Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na không ạ?
-Đúng đấy.-Người đàn bà lên tiếng và quay nhìn hai người khách lạ.
-Vậy thì bác có khách đây!-Cun-ga nói giọng thân mật hơn.
-Mời anh chị vào!-Bà Mác-pha đi làm chưa về,-người phụ nữ nói tiếp và chăm chú nhìn kỹ khách.
-Thế bà ấy sắp về chưa chị?-Ga-li-a hỏi.
-Đáng ra là phải về từ lâu rồi, có lẽ là bận việc gì đột xuất đấy. Công việc ở đây vẫn thế đấy,-Chị vừa nói vừa bước lại đón khách.
-Chị là Li-đa. Xin lỗi, chị là Li-đa-ve-ta Mi-cla-sô-va phải không?
-Vâng, tôi đây… Còn anh là ai vậy?
-Bạn chiến đấu của anh ấy đây…
-Anh Cun-ga phải không?-Li-đa-ve-ta thở một hơi dài như trút đi sự căng thẳng bị nén lại từ nãy tới giờ,-Chả lẽ lại là anh?
-Chính hắn đấy.-Cun-ga nói đùa giọng vui hẳn lên.
-Ôi, anh I-go nhà tôi nói rất nhiều về anh!... Sao lại đứng đây thế này. Mời anh chị vào nhà đi. Chúng tôi cũng đang chờ anh đấy nhưng cứ tưởng là phải dăm ba hôm nữa anh mới tới được. Cậu Phê-dô con trai bà chủ nhà có biên thư bảo như vậy… Bà chủ chắc sẽ vui lắm đấy.
-Chị để tôi đỡ quần áo cho,-Ga-li-a đề nghị.
-Cảm ơn cô, xin mời vào nhà đi… Anh chị từ ga đến thẳng đây à?
-Từ tàu điện chứ không phải tàu hoả… Cun-ga vừa nói vừa vào hành lang.
Căn phòng nhỏ vừa vặn, sáng sủa, ấm áp và gọn gàng, Li-đa-ve-ta bỏ đống quần áo lên chiếc bàn phủ khăn, thoang thoảng mùi xà phòng thơm man mát. Cun-ga đặt chiếc bọc xuống và đứng lên bàn chờ đợi. Một chú bé khoảng ba tuổi đang đùa với con mèo con lông vằn, dừng tay, dương đôi mắt ngây thơ nhìn những người khách lạ.
-Cháu bé xinh quá,-Ga-li-a nói và ngồi xuống cạnh cậu bé,-tên cháu là gì?
-An-đrây,-chú bé lí nhí đáp.
-Tên cháu đẹp lắm!
-Cháu giống ai?-Cun-ga cúi xuống hỏi chú bé,-bố hay mẹ?
-Bố,-Vừa đáp cậu bé vừa tụt khỏi giường, chạy tới chiếc tủ và đưa tay chỉ vào tấm ảnh treo gần chiếc gương lớn,-Bố cháu đấy,-Chú xem, bố cháu đấy!
Cun-ga nhận ngay ra I-go Mi-cla-sốp. Anh mặc bộ quân phục nhưng không mặc áo khoác. Cun-ga vui mừng nhận thấy bạn mình cũng đã được thưởng huân chương Sao Đỏ.
Anh bước đến bên tủ và cầm lấy tấm ảnh xem cho rõ hơn. Khi còn ở Lê-nin-grát anh đã biết tin bạn được thưởng huân chương. Họ không thể gặp nhau để chúc mừng được mặc dầu đóng quân không xa nhau mấy.
 
Back
Top