Đứng vững đến cùng!

2.
Khẩu đội của An-tôn Pê-tơ-ru-skin ở bên phải trận địa, pháo của họ được ngụy trang khéo léo, chung quanh có tường đất chắn và có đường hào nối với toàn trận địa. Khi hai chiếc xe đi đầu xuất hiện, toàn khẩu đội đã sẵn sàng, các hòm đạn đã được mở nắp. Chiến sĩ tiếp đạn Xô-tai-ni-cốp, thậm chí còn ôm khư khư quả đạn tựa trên đầu gối. “Chỉ cần mày nổ thôi!… anh thì thầm với viên đạn.-Nổ trúng vào, thằng con yêu quý của ta ơi!…”.
Các pháo thủ dán mặt vào đám tăng, có người rít thuốc lá liên hồi để nén bớt hồi hộp, căng thẳng. Trước mắt họ, những chiếc tăng hung hãn vẫn tiến đều như trên bãi tập. Hai chiếc đầu đi song song với nhau và sau chúng là khoảng hai chục chiếc khác. Mặt đất dưới chân các pháo thủ rung lên vì tiếng máy nổ và sức nặng của đoàn xe chạy ở tốc độ cao. Hơn hai chục nòng pháo kia có thể nhất tề nhả đạn và dìm xuống mặt đất tất cả những gì muốn ngăn cản chúng. Pháo thủ Liu-ban-xki rít xong hơi thuốc cuối cùng, thò tay vào túi áo ngực rút ra chiếc khăn tay mỏng và nhè nhẹ, rất cẩn thận lau lại bộ phận ngắm mục tiêu. Anh làm với vẻ thận trọng tựa như giờ phút này, ở đây, không có việc nào quan trọng và cần thiết bằng.
-Đạn xuyên!-Pê-tơ-ru-skin hô, giọng vội.-Ngắm chiếc đi đầu. Cự li một ngàn bốn trăm mét! Ngắm bắn…
Đút vội chiếc khăn tay vào túi, cúi nhìn vòng ngắm tròn trĩnh và trong khoảnh khắc đã đưa gọn chiếc tăng đi đầu vào tâm điểm.
-Cố kiên nhẫn, chờ thêm hai trăm mét nữa! Một chút nữa! –An-tôn Pê-tơ-ru-skin đã định hạ lệnh bắn nhưng anh bỗng nhớ tới lệnh của trung úy. Anh đưa mắt nhìn lại trận địa và cảm thấy rõ rệt sự trống trải của nó. Họ chẳng được ai bảo vệ cả. Những nòng pháo phòng không cao dài không có tấm mộc thép che chắn như các loại pháo khác mà chỉ được bảo vệ bởi một bờ đất mới đắp vội vã. Ngẩng đầu nhìn, anh như khao khát lắng nghe tiếng nổ ầm ầm của đoàn tăng.
-Toàn trận địa, bắn! Bắn!
Pê-tơ-ru-skin chưa bắn ngay mà để chậm mất vài giây. Mục tiêu của anh đã vào cự ly nhưng anh chưa bắn vội, anh muốn nấn ná, để cho chắc ăn hơn, để nó bị gục ngay từ quả đạn đầu. Bên trái anh nơi khẩu đội của trung sĩ Bét-xpa-lốp án ngữ và xa hơn chút nữa về phía đường lớn là khẩu đội Trê-vô-nen-cô hầu như cùng một lúc phụt ra hai lưỡi lửa.
Chiếc tăng đi đầu sững lại, lộn một vòng và bùng cháy. Nó lộn nhào và bốc cháy một cách dễ dàng đến nỗi mọi người đều ngạc nhiên và hầu như không tin là sự thật. Từ trong xe bọn lính tăng Đức nhảy xổ ra, chúng nằm lăn đi lăn lại trên mặt đất cố dập đám lửa đang cháy trên người.
Chiếc tăng thứ hai cũng lăn sang bên và một bánh xích đứt tưng nằm xoảy ngay trên mặt đường nhựa, nhưng ngay mấy giây sau khi phát đạn của Pê-tơ-ru-skin vừa nổ xong thì khoảng mười lăm chiếc xe còn lại, trong đó có chiếc hạng nặng dần đầu, liền dàn đội hình hàng ngang, từ trên các ngọn đồi thoai thoải ùa xuống vừa chạy vừa bắn liên hồi.
-Bắn tiếp,-Pê-tơ-ru-skin gào lên.
Một làn hơi nóng sặc mùi thuốc súng phả vào tai, vào miệng anh. Nòng súng giật lùi lại sau và nhanh chóng trở lại vị trí cũ của nó. Đồng thời cùng một lúc bên trái anh cùng dội lên tiếng súng của khẩu đội Bét-xpa-lốp. Mặt đất như hơi rùng mình và chao đảo, bờ đất tung lên như giếng phun và tiếp đấy là một loạt tiếng nổ dậy lên ngay ở khẩu đội Bét-xpa-lốp. Trong tiếng nổ hỗn loạn, inh tai nhức óc đó, Pê-tơ-ru-skin vẫn nhận rõ tiếng nổ hối hả từ khẩu đội Bét-xoa-lốp nhưng rồi đột nhiên im ngay. “Bị dập rồi”-một ý nghĩ rùng rợn thoáng qua. Bét-xpa-lốp bị dập rồi.
Pê-tơ-ru-skin nhảy vội xuống hào, rụt đầu lại và nép vào bờ hào. Hàng loạt tiếng nổ dồn dập, tung từng mảng đất xung quanh anh và kèm theo đấy là từng đợt, từng đợt hơi nóng như muốn ùa vào cổ họng anh. “Chúng nó đã phát hiện-Anh thoáng nghĩ.-Hỏa điểm đã bị phát hiện”-Anh bật dậy, chiếc ống nhòm đung đưa trước ngực, anh giật phăng cổ áo tựa như hàng khuy làm anh ngạt thở và hét lạc cả giọng:
-Tất cả về vị trí! Về vị trí… Bắn!…
Ngước nhìn ra đường, anh thấy chiếc tăng đầu đàn chưa bị dính đạn. Nó vẫn hung dữ vượt qua những chiếc bị thương, xoay tròn trên đường và từ miệng pháo của nó vẫn phụt ra từng lưỡi lửa màu da cam. Nó chưa bị vỡ trán!-Pê-tơ-ru-skin hiểu ra.-Những viên đạn vừa rồi thật vô ích! Cứ vậy, anh nhìn trân trân đầy căm giận chiếc xe quái dị với hai chứ thập ngoặc trắng bên sườn. Và bỗng nhiên anh nhoẻn cười: phải bắn vào bụng nó. Vỏ thép ở đấy mỏng hơn. Anh chạy tới bên súng, nắm vai pháo thủ xạ kích Liu-ban-xki.
-Ngắm thẳng vào dưới bụng nó!…
Liu-ban-xki giương tròn mắt, lắc lắc đầu, tay chỉ vào tai, miệng hét lớn:
-Không nghe gì cả… Điếc rồi…. Nói to lên! To nữa lên!…
Pê-tơ-ru-skin đẩy anh ta ra một bên và ngồi vào vị trí, chúc nòng pháo thẳng vào con quái vật đang khạc lửa trước mặt. Bắt gọn nó trong vòng ngắm anh ấn cò.
Anh tính rất đúng. Quả đạn chọc thủng bụng xe và hầu như chui tọt vào trong xe… Chiếc xe nặng nề rùng mình, lảo đảo lết đi được mấy thước nữa và quay nghiêng đứng sững lại.
-Trúng rồi!-Pê-tơ-ru-skin mấp máy đôi môi khô khốc, mắt vẫn không rời vòng ngắm.-Trúng rồi, anh em ơi!…
Pháo thủ Liu-ban-xki ngạc nhiên trố mắt nhìn khẩu đội trưởng đang ngồi ở vị trí của anh, và nhoẻn miệng cười, dụi dụi mắt. Phải mất mấy giây ngơ ngác rồi bỗng vỗ vỗ tay vào trán.-Làm sao lại có thể tuyệt vậy nhỉ!-Lối bắn này có được học bao giờ đâu!
-Ồ, đội trưởng, bắn tuyệt lắm.
An-tôn Pê-tơ-ru-skin thở hồng hộc tựa như vừa từ đâu chạy tới, cũng nhoẻn cười và hét bảo pháo thủ của mình:
-Bắn tiếp!…
Liu-ban-xki nhảy phắt vào vị trí của mình nhìn vào vòng ngắm, Pê-tơ-ru-skin vẫn không rời mắt khỏi chiếc xe bị thương đang cố giãy giụa phía trước, hạ khẩu lệnh:
-Hai phát đạn xuyên, bắn tiếp!
Chiếc tăng phụt ra một làn khói đen đặc, rùng lên như con vật giãy chết, rồi mới chịu nằm yên. Hai phát tiếp đã phá vỡ mảng sườn trái của nó và xuyên vào trong.
-Nạp đạn! Mục tiêu theo hướng cũ!
Vừa nhìn ra đường cái, Pê-tơ-ru-skin vừa hô khẩu lệnh chờ cho chiếc tăng nhô lên vừa tầm sẽ bắn tiếp, nhưng ngay lúc ấy có ai đó hét lên:
-Máy bay! May… áy ba… ay!!!
Ngẩng nhìn lên, anh bắt gặp ngay bốn chấm đen từ phía rừng thông đang lao tới. Trong khoảnh khắc, bốn chiếc máy bay đen xám đã lượn tròn trên bầu trời trận địa đại đội.
 
3.
Chưa kịp nhảy lên khỏi hào giao thông, Mi-cla-sốp đã nghe tiếng đạn pháo nổ sau lưng và mặt đất dưới chân anh rùng lên. Mấy tiếng nổ hầu như cùng vang lên một lúc ngay cạnh và mấy tiếng khác, xa hơn một chút.
“Bét-xoa-lốp, và Trê-vô-nen-cô;-Mi-cla-sốp xác định ngay, và hơi nghiêng đầu lắng nghé một giây, anh tự hỏi:-Còn khẩu đội ba đâu? Sao lại im lặng? Hay là Pê-tơ-ru-skin đang chờ chúng đến gần hơn. Đúng là anh chàng láu cá! Cái gì cũng muốn ăn chắc!…”.
Loạt tiếng nổ đều đặn có vẻ như đang trên bãi tập. Anh muốn dừng lại nhìn xem có trúng địch hay không? Anh chậm bước. Trong hoàn khoảnh khắc đó anh như quên hết mọi sợ hãi, mọi nguy hiểm của những phút chờ đợi căng thẳng trước đây. Lúc này chỉ còn lại sự khao khát, tò mò muốn được chứng kiến xem trận đánh bắt đầu ra sao vì đây là những chiếc tăng địch thật sự, hiện đại chứ không phải là những mô hình như trên bãi tập. Anh muốn tận mắt nhìn xem đạn pháo đã xuyên thủng chúng thế nào… Anh dừng lại. Anh đã tận mắt trông thấy máy bay Đức bị bắn rơi, đã đụng độ với bọn thám báo nhưng chưa lần nào được xem xe tăng Đức bị bắn cháy, mặc dầu đâu đâu anh cũng được nghe nói về chúng.
Trong tiếng gầm của các loại pháo lớn anh vẫn nhận rõ những tiếng nổ lạ tai, đanh khô hơn. “Pháo gì đấy nhỉ?”-anh vừa kịp tự hỏi thì bỗng quanh anh, trước mặt, sau lưng và đặc biệt ở khẩu đội Bét-xpa-lốp hầu như cũng một lúc lóe lên những tia chớp và mặt đất một lần nữa lại rung lên nặng nề.
Nhảy vội xuống giao thông hào vừa hẹp vừa nóng, anh cúi gập người, nằm ép vào thành hào. Anh cảm thấy trên đầu, quanh anh đều có những tiếng đạn đi rin rít, tiếng nổ chói tai và từng đợt đất vụn rơi ngay trên lưng. Không khí nóng hầm hập chao đảo. Anh nằm xoài ra, mắt mở trừng trừng nhưng đầu lại thầm nhắc là phải đứng dậy, đứng dậy ngay và nhảy ngay khỏi chỗ ngột ngạt nóng hầm hập này. Song anh thấy nặng trĩu không làm sao nhấc được chân tay, không làm sao nhảy ra khỏi chiến hào được.
Tiếng đạn nổ vẫn vây quanh anh, lúc gần lúc xa tựa như đang cố tìm cách rơi ngay xuống quãng đường hào nóng, hẹp mà anh đang nằm.
Không làm sao đứng dậy được, anh đành phải bò để thoát ra khỏi khu vực đang bị tấn công này. Bò được một quãng anh vướng phải một cành thông lớn cản mất lối đi. Anh kéo mũ ca-lô sâu hơn và luồn qua đám lá thông nhọn thoảng mùi thơm dìu dịu.
Tới quãng rẽ anh bỗng gặp phải một chiến sĩ. Anh ta ngồi xổm, hai tay bưng lấy mặt, đầu cúi gằm xuống, vai hơi rung rung. Người chiến sĩ này mặc bộ quân phục mới, bê bết đầy đất sét, bên hông lủng lẳng chiếc túi cứu thương. Mi-cla-sốp lay vai anh ta:
-Sao cậu lại ngồi đầy? Sợ chết à?…
Đừng động vào tôi? Bỏ tay ra!-một giọng nữ run run làm anh sững người.-Mẹ, mẹ ơi!…
Mãi lúc định thần lại anh mới kịp nhận ra trước mặt không phải là anh lính phòng không mà là một cô gái lạ, bận quân phục Hồng quân. Anh tự hỏi:-Cô ta ở đâu đến đây? Làm sao lại lọt được vào trận địa đại đội?-Anh cau mặt nhìn cô gái lạ lùng đó và sẵng giọng;
-Cô là ai vậy?
-La-ri-xa… La-ri-xa Pô-gu-ga-e-va,-cô trả lời, thậm chí còn run hơn.-Tôi ở đây… Tôi… chỉ huy của các anh… anh chỉ huy trung úy của các anh bảo tôi đến đây… lúc này chưa như thế này… Đến đây để băng bó cho thương binh…
-Nhưng cô từ đâu đến chứ.
-Em ở đội sinh viên tình nguyện… Đào hào ở Lu-ga… Hào chống tăng.-La-ri-xa cứ vừa run vừa nói đứt đoạn như vậy hai tay vẫn ôm lấy mặt.-Em đi thẳng từ trường tổng hợp đến…
-Thế quân phục ai cấp cho?
-Họ gửi cho, chiếu hồm kia.
-Thế túi cứu thương:-Mi-cla-sốp tò mò hỏi thêm.
-Em tự sắm sửa lấy… Tự mua lấy để…
-Cô bịa…
 
Mi-cla-sốp định nói gì nữa nhưng ngay lúc ấy một quả đạn rít lên cách họ khoảng mười mét. Mảnh đạn vút qua hơi nóng cùng đất đá bắn tung tóe, rơi lạo xạo trên mũ sắt. Họ nằm ngay dưới lòng hào giao thông theo quán tính, I-go quàng tay ấn đầu cô gái xuống. Rồi anh lại đứng dậy trước, rũ đất đá trên người, quệt tay phủi đất trên mặt, mũi, môi khô bỏng. Anh cảm thấy người nhẹ bỗng đi một cách kỳ lạ. Chưa việc gì! Còn nguyên vẹn! Và một ý nghĩ thoáng trong đầu.-còn sống!”.
Anh nhìn quanh và ngạc nhiên nhận ra, nơi anh đứng không phải là đoạn hào sau trận địa mà là nơi gần ụ pháo của Bét-xpa-lốp. Anh bỗng cảm thấy xấu hổ máu như dồn lên đầu.-ở đây, cách anh vài chục mét, các bạn anh, đồng đội của anh đang chiến đấu, đang đương đầu với cái chết, còn ở đây anh đang dúi dụi vào thành hào để tìm cái sống, anh đang trốn như con mèo trốn đàn chó săn. Anh bỗng nói thành tiếng với mình:
-Tôi sẽ tới! Tôi tới ngay bây giờ đây….
-Khoan đã! Đứng lại… Đừng đi vội…-La-ri-xa ngồi xổm dưới lòng hào… hốt hoảng nói.-Anh đừng đi vội. Đến đấy là… hết đấy.
Mi-cla-sốp nhìn sang trận địa khẩu đội Bét-xpa-lốp cách chỗ anh đứng khoảng hai chục mét. Nòng pháo dài nằm ngang chĩa thẳng ra đường lớn. Quanh đấy-trên ghế pháo, trên bờ đất cạnh các hòm đạn-anh thấy rải rác các tư thế khác nhau. Có lẽ họ đã chạy tản ra khi đấu pháo và giờ đây đang nhổm dậy trở về vị trí của mình. Còn trung sĩ Bét-xpa-lốp vẫn nằm bất động, tay vẫn giữ chặt chiếc ống nhòm. Chỉ có pháo thủ xạ kích là còn ngồi trên ghế sắt, lưng gập lại. Một, quãng đường lớn hiện rõ ngay trước mặt khẩu đội. Anh thấy rõ năm chiếc xe tăng Đức bị bắn cháy còn bốc khói. Một chiếc nằm nghiên, bách xích vẫn quay cuồng, thất vọng. Phía trái, sau nó ở bên kia là đường vang lên những phát súng hối hả, sợ hãi. Phía bên phải, ngay sát trận địa đại đội cũng vang đáp lại hàng loạt đạn pháo. “Trê-vô-nen-cô và Pê-tơ-ru-skin.-Mi-cla-sốp thầm nói.-Họ đang bắn! Thế còn Bét-xpa-lốp đâu? Đâu, hả?!”. và, bỗng anh thấy ớn lạnh khi một cảm giác kinh hoàng thoáng tới-cả khẩu đội bị rồi chăng… Không thể được! Anh hơi nhón chân cao hơn, nhìn chằm chằm vào khẩu đội. Chẳng thấy ai động đậy cả.
-Thế là họ…
La-ri-xa nhìn Mi-cla-sốp, vẻ đầy tin tưởng và thán phục-cô vẫn chưa dám đứng dậy nhìn ra xung quanh.
-Nào, anh thấy gì không?
-Chẳng còn gì nữa… Toàn khẩu đội! Không thể tin được.-Mi-cla-sốp đưa cánh tay lau mặt tựa như xua đi nỗi sửng sốt khó tin. Trong đôi mắt tối xầm và lạnh giá ánh lên vẻ kiên quyết, anh buông sõng:
-Theo tôi!…
Anh bước ra khỏi hào giao thông, cúi khom người nhảy tới hố đạn gần cây thông bị xén cụt một nửa. Từ hố đạn, anh lại chạy băng tới hố khác và lao tiếp tới trận địa khẩu đội. Một phát đạn nổ bùng lên ở phía sau làm tung lên một cột đất và quật cây bạch dương gãy gục. Anh cúi ôm vào ngực một viên đạn sáng loáng và chạy lao tới khẩu pháo.
-Còn ai sống không?… Chúng tôi đến đây!…
Không có tiếng đáp. I-go nạp quả đạn vào khẩu pháo trơ trọi. Từ phía đường lớn những chiếc xe tăng đang lao thẳng tới trận địa, vừa chạy vừa bắt lửa phụt ra liên hồi từ những khẩu pháo ngắn nòng. Anh lay chiến sĩ pháo thủ nhưng cái thân hình cứng đờ chỉ lật nghiêng sang một bên. La-ri-xa chạy tới, hai tay líu ríu mở nắp túi cứu thương.
-Bị thương à?
-Cậu ấy chết cứng rồi.-không cứu được nữa đâu.
Mi-cla-sốp nhảy vào chiếc ghế sắt cứng ngắt của anh pháo thủ, nheo mắt hướng thẳng nòng pháo vào chiếc xe tăng trên đường rê nòng theo mục tiêu di động. Ngay trong khoảnh khắc đó, từ trên bầu trời vọng tới tiếng gầm rít man rợ của đàn máy bay Đức. Tiếng rú ập tới quá nhanh hòa với tiếng gầm của bọn xe tăng trên đường cái lớn, một lúc gần hơn và chỉ một loáng đã át tất cả mọi tiếng động khác trên mặt đất.
-Chúng đang bay tới kìa!… Ôi, nó ném bom bây giờ đấy!-la-ri-xa ngước khuôn mặt tái mét vì sợ hãi nhìn lên và vội chạy khỏi khẩu pháo.
Mi-cla-sốp không rời mắt khỏi máy bay địch, vội quay nòng pháo nghếch lên bầu trời.
-Đạn!… Đạn!… Tiếp đạn… anh hét gọi cô ý tá.-Đạn, nhanh lên!
La-ri-xa đứng sững lại, sợ hãi nhìnmic và như chợt hiểu anh đang đói hỏi gì, rồi rụt cổ, khom người, ngập ngừng chạy lại phía hòm đạn đã mở tung.
-Có ngay đây… Em mang tới ngay đây…
Chiếc máy bay phát-xít đầu đàn loang loáng ánh nắng, nhẹ nhàng lao xuống thấp. Mi-cla-sốp nhanh nhẹn chỉnh nòng pháo và phát hiện thấy từ máy bay lao ra hai vệt đen ngòm hơi nghiêng ngả một chút rồi lao vụt xuống. Hai vệt đen to dần ngay trước mặt anh, nặng nề rơi nhanh. Nó như đâm thẳng vào anh và cũng ngay lúc ấy, với phản ứng tự nhiên của bất cứ pháo thủ nào trên mâm pháo-Mi-cla-sốp dận cò súng. Một cảm giác ớn lạnh tỏa khắp người anh-ai sẽ thắng? Anh cảm thấy mỗi thớ thịt trong người rung lên giần giật.
-Đạn, tiếp đạn.-Anh hét gọi và không đợi cô y tá đang quýnh lên, anh nhảy bật khỏi ghế, lao tới hòm đạn.
 
Những chiếc máy bay nối đuôi nhau lao xuống, kéo theo tiếng gầm rít hung hãn. Sau đó là tiếng rít của những trái bom lao xuống và mấy tiếng nổ nối nhau vang lên. Tiếng bom rít xé tan bầu không khí nóng rực, cành cây hơi lảo đảo, nòng súng cũng rung lên sau mấy phát đạn liền không trúng mục tiêu.
Sao chạy hả, chúng mày không thích sự đón tiếp thế này hả?-Mi-cla-sốp hét lên mắt vẫn không rời tốp máy bay Đức đã nháo nhào tản ra tránh những đốm lửa đang tỏa ra bao vây chúng.-Không ngon ăn đâu!...
-Đạn! Tiếp đạn, nhanh lên! Nào!…-Mi-cla-sốp rời mắt khỏi vòng ngắm và chẳng giấu giếm nỗi bực tức, quát gọi cô y tá.
La-ri-xa đứng gần anh, mệt nhoài, cô đã bị một mảnh đạn xé toác ống quần quân phục để lộ ra làn da trắng hồng. Mặt lấm bụi đất, đen nhẻm, chỉ còn đôi mắt long lanh. Cô thở dốc, miệng há ra như nuốt từng hớp không khí.
-Hết rồi! Hết sạch rồi…
-Sao?!
-Hết đạn rồi.
Mi-cla-sốp nhảy bổ khỏi mâm pháo và phóng tới hòm đạn rỗng. Anh bê lên, giận giữ vứt tung đi, tiện chân anh đá mạnh vào hòm đạn bên cạnh, nhưng nó vẫn nằm trơ trơ làm anh suýt ngã và chân đau điếng. Bỗng anh chợt mỉm cười sung sướng vì trong hòm còn hai viên đạn nặng chịch.
-Còn! Còn đạn!-Anh reo lên, ôm chầm lấy, ghì chặt vào ngực và chạy vội về ụ súng.
-Này, cầm lấy! Anh giúi một quả cho cô y tá và ẵm quả kia nhảy lên mâm pháo…
… Chiếc máy bay lớn dần, lớn dần và chiếm cả vòng ngắm. Cố nín thở, Mi-cla-sốp bám lấy nó và chọn thời cơ thất chắc để nổ súng. Nhưng ngay trong cái khoảnh khắc quan trọng đó La-ri-xa bỗng nắm lấy tay anh. Anh cáu tiết giật ra nhưng cô gái lại nắm lấy, chặt hơn. Cố nén giận, Mi-cla-sốp suýt bật ra tiếng rủa, quay lại nhìn cô gái:
-Xe tăng kìa!… La-ri-xa bỏ tay ra và chỉ về phía bên phải.-Nó đang tiến về phía ta.
Lúc ấy, Mi-cla-sốp mới nhận ra một chiếc tăng đang vượt qua mấy bụi cây rậm tiến thẳng tới phía anh, nòng pháo tóe lửa. Mi-cla-sốp thấy ớn lạnh sống lưng trước giây phút hiểm nghèo. Anh như quên hết tất cả, vội chúc nòng pháo xuống. Động tác nhanh và chính xác kỳ lạ. Mắt dán vào con quái vật thép loang lổ đang hung hãn lao tới mỗi lúc một to dần, húc cả những cây thông xanh rờn đổ gãy gục.
La-ri-xa tay vẫn ôm chặt viên đạn vào bụng, lùi dần vào bờ hào, cúi gập người xuống thật thấp. Một loạt đạn đại liên rít trên lưng cô, xới tung bờ hào.
-Bắn đi!… Bắn ngay đi, anh!… cố nuốt nước mắt giọng lạc đi, gào lên, tay vẫn ghì chặt quả đạn pháo cuối cùng.
Mặt Mi-cla-sốp vã mồ hôi, mắt cay xè làm nhòa cả cái vòng ngắm. Chiếc tăng vẫn lầm lũi lao lên, đạn xối xả cắm phập vào bờ hào, hai vành xích xới tung đất lên quanh nó.
-Bắn!-Mi-cla-sốp bỗng quát lên một tiếng, tự hạ lệnh cho mình và dận cò.
Anh không nghe thấy tiếng đạn nổ, chí thấy một quầng lửa da cam lóe lên trước mắt. Hầu như cùng một lúc vang lên hai tiếng nổ trầm đục. Tháp xe tăng cùng khẩu pháo ngắn nòng tung sang một bên. Chiếc xe tăng chao đi, nòng pháo chúc xuống và cái thân hình nặng nề đó vẫn gầm rú quay lộn tại chỗ tựa con sư tử bị thương đang giãy giụa, một sức mạnh vô hình quật ngã luôn Mi-cla-sốp bật khỏi ghế pháo.
Lồm cồm bò dậy, tựa lưng vào bờ ụ sungs Mi-cla-sốp đưa mắt tìm La-ri-xa. Cô ngồi lặng thinh ngay trên thành hào giao thông hai mắt nhằm nghiền, tay vẫn khư khư quả đạn trước bụng. Anh muốn nhảy ngay đến, gỡ vất thật xa quả đạn pháo giờ đây không còn cần tới nữa. Nhưng anh chưa kịp cựa mình thì ngay trong khoảnh khắc đó một quả đạn nổ tung ngay trước mặt La-ri-xa, một tích tắc sau, Mi-cla-sốp kinh hoàng thấy mình đã bị chìm nửa người trong đống đất bị cày xới ngổn ngang sau tiếng nổ…
 
4.
Họ còn lại hai người-anh lính đánh xe ngựa Ta-ghi-xla-ép và trinh sát viên A-lếc-xan-đrin. An-tôn Pê-tơ-ru-skin vừa chết cách đây mấy phút-một vài giây trước khi chết, An-tôn còn kịp bắn phát đạn cuối cùng vào chiếc xe tăng phát-xít đang xông tới sát họ.
Mặt đất rung lên vì tiếng nổ liên hồi. Ta-ghi-xla-ép đầu quấn băng trắng xóa, mặt đen khói súng, áo quần tả tơi đang nằm dưới gốc cây thông, tay hướng nòng tiểu liên theo những tên lính bộ binh Đức đang chạy lao tới ụ pháo của họ. Bọn lính Hitler hung hãn vừa chạy vừa bắn liên hồi, đạn rẽ thành hình quạt, phạt rơi lả tả những cành cây là là sát mặt đất.
-Cứ đến đây!-Ta-ghi-xla-ép mấp máy đôi môi khô rát, má áp chặt vào báng súng tiểu liên.
Phía bên trái, từ ngoài đường lớn, một chiếc tăng đang tiến vào nhằm quật ngã cái vật cản cuối cùng của trận địa đại đội phòng không này. Mát-vây A-lếc-xan-đrin đứng tựa lưng vào bờ chiến hào hẹp, tay móc vào dây lựu đạn, bình tĩnh chờ chiếc xe tăng Đức hùng hổ lao thẳng tới phía anh. Hai cái lỗ vuông vuông như hai con mắt mà sau đó ẩn náu tên lái xe và xạ thủ đại liên, có vẻ như đang nhìn một cách đại thắng vào A-lếc-xan-đrin. Anh có sợ không? Rất sợ. Anh đang kinh hoàng? Đúng, anh thật sự kinh hoàng. Anh không muốn phải chết trong lúc này. Nhưng anh càng sợ hơn nếu chiếc tăng đổi hướng hoặc dừng lại. Hầu như anh không cảm thấy vết thương ở tay trái mà anh vừa tạm băng bằng ống tay áo, đau buốt như lúc nãy nữa.
-Lại đây! Lại gần nữa, con ác thú kia!
Và khi chiếc tăng vừa nhô đầu tới khoảnh đất trước chếin hào, anh chồm người lên rút mạnh dây nụ xòe và vung quả lựu đạn. Một ánh chớp da cam lóe lên kéo theo tiếng nổ đanh gọn. Trong bầu không khí nóng nực sặc mùi thuốc đạn nghe rõ những mảnh lựu đạn bay rít lên trong không gian.
A-lếc-xan-đrin, mệt mỏi mở mắt và, trông thấy mờ mờ trước mắt mình một đám lửa lớn, như thể qua làn sương mù. Và cũng trong giây phút đó anh bỗng cảm thấy thất vọng và bất lực vì sự sợ hãi của mình nếu lại có chiếc xe tăng nữa xuất hiện. Chống cánh tay lành lặn, anh khẽ dướn lên nhìn và thấy ngay lũ lính Đức đang hò hét chạy tới chiến hào. Bỗng sau lưng chúng vang lên những loạt tiểu liên vật ngã mấy tên lính rằn rì xuống cỏ. Bọn sống sót chạy tán loạn, từng loạt đạn dài vẫn đuổi theo chúng. Bắn đến loạt cuối cùng, Ta-ghi-xla-ép bật dậy chạy tới chỗ A-lếc-xan-đrin.
-Còn sống chứ? Còn nguyên vẹn chứ?…
Hãy còn run lên vì quá sợ nhưng A-lếc-xan-đrin vẫn cố nhoẻn đôi môi đen nhẻm cười.
-Thôi, chuồn đi! Rút nhanh lên! Ta-ghi-xla-ép giục.
-Khoan đã, thử chạy lại đài quan sát xem… May ra có ai còn sống chăng…
Và, hai con người sống sót đó đảo mắt nhìn quanh, cùng chạy ra khỏi chiến hào. Đài quan sát bị sụp, đất phủ đầy. Ta-ghi-xla-ép vấp chân vào đường dây điện thoại, anh vừa rủa vừa đá tung nó lên. Trong hầm chỉ huy trung úy Ô-vru-chin đang nằm nghiêng chân co chân duỗi.
-Kìa, đại đội trưởng.
-Đâu?
-Kia kìa…
A-lếc-xan-đrin dừng lại, trố mắt nhìn và kinh hoàng thấy sọ trung úy vỡ một miếng sát gáy. Anh không thể tin được rằng Ô-vru-chin đã chết. Nừa giờ trước đây, anh còn chỉ huy, còn ra lệnh… Và, dĩ nhiên, lcú ấy anh vẫn tin vào mình, vào ngôi sao chiếu mệnh của mình!… A-lếc-xan-đrin hớp một ngụm không khí. Anh bước tới bên trung úy, đất dưới chân anh lạo xạo mảnh đạn. Mọi vật xung quanh bị tung lên vì bom, đạn cày xới.
-Này, dừng lại đã!…-Ta-ghi-xla-ép ngăn A-lếc-xan-đrin lại, giơ tay chỉ về phía trước.-Có người đang đi tới… cậu thấy không?
Họ nhìn nhau và lùi vào góc hầm tối. Tai họ vẫn ù đặc, kêu vo vo. Từ phía đường cái lớn vẫn vọng tới tiếng ì ầm và một đoàn xe tăng nhốn nháo trên đường tựa như đàn súc vật bị đuổi chạy.
-Cậu có thấy gì không?-A-lếc-xan-đrin hỏi,-Hay là do bị tai bị ù?…
-Không, xe chúng đấy! Thấy không?
A-lếc-xan-đrin nín thở, cố nhoài về phía Ta-ghi-xla-ép vừa chỉ. Mi-cla-sốp lừng lững đi tới tựa như chui từ dưới đất lên. Quần áo lấm đất bụi và đẫm mồ hôi, tay áo rách tả tơi, mặt đen nhẻm, khuy ngực mở phanh, một dòng máu từ tai trái rỉ xuống má. Tay phải anh nắm chặt quả lựu đạn.
-Ôi, trung sĩ! Còn sống nguyên lành!…
Cả hai anh lính nhào tới Mi-cla-sốp.
-Ôi, Mi-cla-sốp, cậu đấy à?
-Mình đây! Đích thị mình đây! A-lếc-xan-đrin vừa hét vừa dang tay ra ôm choàng lấy Mi-cla-sốp.
Ta-ghi-xla-ép bỗng nhón chân, nghển cổ nhìn và la lên:
-Bọn Đức đấy!!!
A-lếc-xan-đrin nắm tay Mi-cla-sốp lôi chạy theo mình.
-Rút thôi! Nhanh lên…
Mi-cla-sốp luồn ra khỏi vòng tay người đồng đội, ngước nhìn và trông thấy bọn lính Đức đang lũ lượt tiến đến gần chỗ họ. Anh nhìn chúng một lúc tựa như đánh giá tình hình. Một tiếng nổ gầm lên và ngay lúc ấy hàng loạt tiểu liên rất đanh nổ liên tiếp. A-lếc-xan-đrin kéo tay Mi-cla-sốp và anh để vậy không giằng ra mặc dù chính anh cũng không nghe được tiếng lựu đạn nổ, tiếng bọn Đức hò hét, tiếng tiểu liên chát chua.
-Chạy đi… vào rừng! Nhanh lên, rút thôi.
 
Chương mười một

1.
Những ngôi sao đầu tiên xuất hiện, nhấp nháy trên bầu trời dần tối. Chúng tắt và hiện theo đúng một chu kỳ nghiêm ngặt từ bao đời nay. Nó trở thành quen thuộc đối với anh. Anh vẫn nằm im ngắm nhìn màn đêm, dòng suy nghĩ về cái quá khứ trẻ thơ không những không bị đứt đi mà trái lại, càng chặt chẽ hơn, càng nối tiếp vững chắc hơn với tương lai, mặc dầu tương lai lúc này càng trở nên mờ ảo và không chắc chắn.
Đra-tun vẫn nằm im nhìn mãi ngôi sao mỗi lúc một nhiều hơn trên bầu trời và có cảm giác như đang sống lại với trận không chiến ban chiều. Anh nhớ rõ từng chi tiết, cố phân tích từng nguyên nhân, từng diễn biến chính. Anh nhìn vào trận đánh vừa qua với con mắt của một viên quan tòa nghiêm khắc. Tại sao lại như vậy được?
Anh cứ ngẫm nghĩ về cái giây phút cuối cùng của chiếc máy bay chiến đấu của phi đội anh. Chẳng ai trong họ có lỗi cả. Những suy nghĩ đó dần dần thu gọn lại và hiện ra hình ảnh cái tai họa của chiếc máy bay ném bom do anh chỉ huy. Anh lim dim mắt tựa như đang ngồi trong buồng lái chật hẹp, quen thuộc, tay cầm cần lái, mắt không rời bảng điện chi chít nút điều khiển và tự nhiên mấy ngón tay anh bỗng dưng cựa quậy như đang điều khiển vậy.
… Trung úy phi công Va-xi-li Đra-tun nghiêng cánh từ phía mặt trời lặn, lần cuối cùng quyết định lao máy bay xuống quốc lộ Lê-nin-grát nơi ngổn ngang những chiếc xe tăng, những xe tải, xe bọc thép đang bốc cháy hoặc đang nối đuôi nhau chạy thục mạng, vừa chạy vừa bắn tung tóe.
Bên phải và bên trái đội hình hành quân dài dằng dặc của đội quân Hitler, đến bờ sông Pliu-xa còn có thêm hai chiếc phóng pháo và ba chiếc máy bay yểm trợ vừa cất cánh sau khi có lệnh báo động. Từ trên cao nhìn rất rõ pháo ra đã nã khá trúng vào đội hình đó. Song những tên Hitler lì lợm ấy, có vẻ như không hề biết gì đến tổn thất, vẫn cứ nối nhau như không hề biết gì đến tổn thất, vẫn cứ nối nhau lạnh lùng tiến về phía sông Pliu-xa, vật cản thiên nhiên cuối cùng trước thành phố Lu-ga. Nơi mà chúng đã cảm thấy, chỉ một sải tay nữa là sờ nắn được Lê-nin-grát!…
-Đội trưởng, đếm được 18 xe đang bốc cháy!-tiếng phi công hoa tiêu vang lên trong tai nghe.
Đra-tun ngước nhìn khuôn mặt mệt mỏi của anh ta và giơ ngón tay cái lên, mỉm cười.
-Quay về.
Anh còn định nói thêm điều gì đó nữa nhưng bỗng vang lên giọng nói lo lắng của phi công-điện đài viên:
-Bọn Đức bên phải: Chúng đang chặn đường. Chín chiếc “Mê-xê-rét”, Bọn “I-un-ke” bay trên cao!…
Bộ ba tiêm kích mang ngôi sao đỏ tăng tốc lao vào đón đánh bọn quạ đen Đức. Từ đài chỉ huy mặt đất vang lên mệnh lệnh: Biên đội oanh tạc quay về ngay! Đra-tun hiểu rất rõ tâm trạng của trung đoàn trưởng của mình: thủ trưởng rất quý từng chiếc máy bay. Chiến tranh chỉ vừa mới bắt đầu mà khu trục oanh tạc có thể đếm trên đầu ngón tay.
Va-xi-li tăng tốc và chui tọt vào đám mây lớn gần đấy-biết sao được, rút lui là phải như vậy! Anh lái máy bay về hướng mặt trời lặn để cho bọn đuổi theo bị chói mắt. Bọn Đức vòng nhanh lại. Những chiếc khu trục oanh tạc nặng nề này không thể bay nhanh hơn được nữa. Đến gần khu vực hồ Đen, máy bay của Đra-tun bị bảy chiếc “Mê-xe-rét” chặn đánh. Đối với chúng chiếc khu trục hạng nặng này quả là miếng mồi béo bở.
Trận đánh, nếu có thể gọi như vậy, thật ngắn ngủi và độc ác. Cho đến giờ trong tai anh vẫn còn âm vang tiếng reo vui của trung sĩ thông tin.
-Đồng chí chỉ huy! Một con quạ bị rụng rồi…
 
Nhưng anh chưa kịp ngoái lại nhìn thì đã thấy một chùm lửa lớn của chiếc máy bay Đức lao xuống và mất hút. Một phút sau họ lại hạ được chiếc nữa. Trận đánh anh hùng kết thúc ở đây. Thật ra thì chiếc khu trục oanh tạc của anh không làm sao xoay xở được trước năm chiếc máy bay Đức đang quây chặt lấy anh. Chỉ trong ít phút các thành viên đội bay của anh lần lượt hi sinh hết, đầu tiên là phi công xạ thủ, trước khi chết còn kịp kêu “vĩnh biệt”. Sau đó đến hoa tiêu ngất xỉu đập đầu vào cần lái… Đra-tun không làm sao cứu được.
Chiếc máy bay bị thương nặng, không còn tuân theo tay lái nữa. Động cơ bên phải bốc cháy, những lưỡi lửa vàng lan tỏa ra trên cánh. Nó mất thăng bằng lúng liếng và hạ độ cao. Nhưng Đra-tun vẫn hi vọng và cố tìm cách cứu nó, cố lái về sân bay gần nhất. Hoặc cùng lắm thì bay qua cánh rừng kia, hạ khẩn cấp xuống cánh đồng sau nó. Động cơ bên trái cũng bắt đầu rung lên. Khói ùa vào buồng lái, nhiệt độ trong ca-bin tăng lên nhanh chóng. Ống dẫn dầu bị hỏng!-anh thoáng nghĩ-Động cơ sẽ cháy ngay bây giờ. Không thể bay thêm được nữa!-Anh liế mắt nhìn xuống dưới-mặt đất rất gần, nhảy dù rất nguy hiểm.
Nghiến chặt răng, Đra-tun tìm cách kéo dài thêm sự sống của chiếc máy bay đã nặng chình chịch cố lướt tới cánh đồng lúa mạnh trơ trọi phía xa xa. Động cơ bên trái tắt hẳn. Tuy nhiên, mặt đất cũng đã sát ngay dưới cánh. Những giây phút cuối cùng ấy in rõ trong trí nhớ anh. Khi động cơ vừa tắt thì, một chiếc “Mê-xe” đã rít ngay trên chiếc khu trục nặng nề nổ súng. Trong giây lát đó, Đra-tun không thể hiểu nổi, chiếc máy bay đã lết xuống như thế nào. Anh chỉ còn nhớ, nó nặng nề trườn bụng ngay trên cánh đồng lúa mạch để lại một vệt đất đen sâu nhẵn phía sau…
Chỉ một lát sau bọn bộ binh cơ giới Đức đã phóng mô-tô cùng mấy chiếc xe tải chở lính tới. Một vài quả mìn đã nổ quanh máy bay. Không còn thì giờ để suy nghĩ xử trí. Chỉ có hai cách giải quyết-hoặc bị bắt làm tù binh hoặc phải cố chạy về bên mình. Anh chọn cách thứ hai.
Vụt nhảy ra khỏi chiếc máy bay bị thương, anh lao về phía rừng thông, vừa chạy vừa rút súng lục. Anh đã đánh lừa được bọn lính mô-tô, chúng phóng thẳng ra cánh đồng. Anh đã lọt được vào khu rừng thông rậm. Nấp sau một cây thông lớn, anh giơ súng ngắm “mười lăm phát đạn-anh thầm nghĩ,-ít nhất cũng năm bảy thằng. Phát cuối cùng, thứ mười sáu, sẽ dành cho mình… không để chúng bắt sống”.
Đra-tun bắn liền hai phát vào chiếc xe gần nhất. Tên mặc quân phục sĩ quan đang phóng xe ngã vật ra sau. Bọn lính điên cuồng nổ súng về phía anh. Đạn chiu chíu trên đầu. Chúng chững lại đổi hướng. Lợi dụng khoảnh khắc đó, anh quay người chạy thục mạng vào rừng. Súng vẫn vang lên xối xả sau lưng anh. Bọn lính phải bỏ xe, chạy bộ vào rừng.
Vừa thở dốc, anh nhằm thẳng hướng trước mặt, lao đầu chạy miết không còn kể gì bụi gai hay cây lớn, anh cứ chạy chừng nào còn nhấc nổi đôi chân đã rã rời, cho đến lúc chân hẫng trong đám rong rêu, bì bõm nước bòn đặc quánh, anh mới biết đã bị lạc đến một đầm lầy. Anh hoang mang dừng lại, nhìn quanh. Ba phía là rừng thông dày đặc, trước mặt là một đầm lầy mọc đầu lau sậy… Anh ớn lạnh bởi ý nghĩ: Giờ đây chẳng còn lối thoát nào khác-hoặc là chết chìm trong đầm lầy này, hoặc là chết trong tay bọn phát-xít.
Từ phía sau vẳng tới tiếng la hét, những mệnh lệnh tiếng Đức vang lên. Anh định bước sang một bên nhưng toàn thân bị lún ngập tới thắt lưng. “Sa lầy rồi”-anh kinh hoàng thốt lên. Bọn Đức đang tiến gần về phía anh. Đra-tun đành nhoài lên mấy bước. Vẫn chỉ tới thắt lưng. Anh không nghĩ tới việc lội lên bờ. Để làm gì? Đầm lầy có thể cứu anh, miễn là đừng vào hồ lầy sâu hơn.
Anh lội mỗi lúc một xa dần và bỗng sụt xuống một hồ lầy ngập đến cổ. Ann níu được một bụi lau dầy và ẩn luồn vào đấy. Thời giạn lặng lẽ trôi qua nhưng vẫn không thấy một tên Đức nào xuất hiện. Tiếng kêu la xa dần, có lẽ bọn chúng đã đi về hướng khác, hoặc có thể chúng chưa quen với những khu rừng Nga rậm rạp, chúng không muốn lùng sục sâu, cũng có thể chúng đinh ninh người phi công Nga đã chết chìm trong đầm lầy.
Đra-tun vẫn chờ đợi căng thẳng, khổ sở vì đàn muỗi đói, sợ gây ra sóng trên mặt đầm lầy, anh khe khẽ dùng răng cắn một càng sậy nhỏ và vươn một tay lên xua đàn muỗi.
 
2.
Trời đã tối. Vầng trăng vàng đục nhô lên sau dãy rừng tím thẫm. Ánh trăng yếu ớt mờ mờ soi xuống đầm lầy loang loáng gợn sóng. Im lặng đến dễ sợ. Màn đêm tĩnh mịch thỉnh thoảng bị xáo động bởi tiếng chim xào xạc trên cành cây, tiếng cú vỗ cánh kiếm mồi. Dù là đêm sâu nhưng vẫn có cuộc sống riêng của nó.
Đra-tun khẽ cựa quậy chân. Cần phải thoát khỏi đây để tìm đường về phía quân ta. Phải thật nhẹ nhàng để khỏi gây xáo động, anh nhích từng bước một về phía bờ khấp khểnh mọc đầy cỏ lác và lau sậy. Lết lên đến bờ, dù đã mệt lử anh vẫn không dám nghỉ, cố lần mò về hướng bắc.
Tiếng cành cây khô rãy răng rắc dưới chân nghe rõ mồn một trong màn đêm yên tĩnh. Đra-tun lặng lẽ dừng lại, tay lăm lăm khẩu súng lục. Rồi anh lại bước tiếp, tìm lối ra qua ánh trăng bàng bạc. Cứ đi như vậy cho đến lúc có cảm giác như rừng đã thưa dần. Phía trước quãng đãng, mặt đất nhấp nhô gò đống. Anh lặng lẽ khom người đi tới và chợt nhận ra mấy nấm mồ. Bãi tha ma! Anh đi sâu vào và thấy dù các loại mồ đắp đất, đá, xây gạch theo từng hàng… “Như vậy là ở gần đây là có làng.-Anh suy đoán và tự nhủ thầm.-Phải hết sức thận trọng”.
Lần theo đường mòn qua nghĩ trang đến một hẽm rừng có con suối nhỏ chảy qua, Đra-tun sung sướng, quên cả thận trọng, ngồi sụp xuống làn nước mát lạnh, kỳ cọ mặt mũi, vò xát quần áo và hớp liền mấy ngụm. Cổ họng khát bỏng từ chiều đến giờ như khô cứng lại. Làn nước mát lạnh làm răng hơi buốt nhưng anh cứ gục đầu xuống thỏa thuê.
Rời dòng suối nơi cửa rừng, anh đi tới một khu vườn. Anh dừng lại, ngồi nấp vào luống khoai tây rậm rạp. Trước mặt anh một ngôi nhà nổi bật trên bầu trời rạng sáng. Anh dừng lại lặng im quan sát và vẫn chưa quyết định là có nên vào hay không. Con chó nhà cạnh đấy sủa vang lên, tiếp theo là tiếng bò kêu. Từ cuối làng tiếng gà thi nhay gáy. Trời rạng dần.
“Chớ có ngủ gật!-Đra-tun hạ lệnh thầm.-Nếu không thì-sẽ chấm dứt tất cả!”. Một phụ nữ ở ngôi nhà gỗ mở cửa đi ra. Chị ta vừa đi vừa vung vẩy đôi thùng. Chị trạc ngoài bốn mươi tuổi, mái tóc đen xõa xuống dưới chiếc khăn vuông quấn hờ. Anh đánh bạo bò vào gần giếng và lên tiếng gọi:
-Ôi! Ai ở đây thế này?…
-Người của ta. Người Nga… Đra-tun đáp và nhỏm dậy hỏi tiếp.-Trong làng có bọn Đức không?
-Có.
-Sao?
-Tôi nói, có. Hôm kia chúng vừa đến đây. Rặt một bọn lính mô-tô và xe tăng. Thật khủng khiếp!… nhưng đã đi rồi. Giờ đây chúng tôi không thuộc về ai cả,-người phụ nữ nói nhanh, lắp bắp.-Anh đừng đứng dậy cứ nấp kín thế. Ông láng giềng nàh tôi nhát gan lắm đấy.
Chị ta đặt thùng xuống, sợ hãi và kín đáo liếc nhìn xung quanh rồi hỏi khẽ:
-Anh là ai thế?
-Phi công… Chiều qua máy bay tôi bị bắn hỏng-Anh đành thú thật.
-Ôi, anh thân yêu. Té ra là vậy, té ra anh chính là người mà cả chiều tối qua chúng nó lùng tìm… Ôi, tôi nghiệp anh… Chúng nó sục sạo không còn thiếu nhà nào.-Chị nhìn ra đường làng sang phía nhà người hàng xóm rồi đưa mắt ra hiệu về phía nhà kho, sát ngay ngôi nhà lớn và khẽ nói.-Anh đừng đấy dậy, cố bò vào nhà kho kia. Ở đó có cửa thông với nhà trên…
Chị múc đầy hai thùng nước, gánh vào sân. Vài phút sau, Đra-tun đã ở trong gian nhà kho sạch sẽ, mát lạnh, ngăn nắp. Cởi bộ quân phục ướt bẩn, đôi ủng sũng nước, anh bắt đầu cọ rửa, gội đầu trong chiếc chậu men xanh.
-Hãy mặc tạm bộ quần áo đàn ông này.
Chị chủ nhà tốt bụng đưa cho anh quần áo lót, chiếc quần âu xanh và chiếc áo vét-tông cũ.
Đra-tun thay quần áo, đút khẩu súng lục vào túi áo bên phải và các giấy tờ chứng minh thư sĩ quan, huân chương vào túi ngực. Lát sau, chị chủ nhà đã mang cho anh mấy quả trứng luộc, mấy miếng thị ướp, một bình sữa tươi và ổ bánh mì.
-Làm sao anh trốn được thế?…
-Tôi trốn trong đầm. Rồi sau đó băng sâo vào rừng.
-Thế cơ đấy. Anh đừng ra ngoài nữa, làng này giờ đây là của chúng nó.-nữ chủ nhà nói, khi Đra-tun đã ăn xong.-Cứ nằm trốn ở đây đến tối tôi chỉ đường cho mà đi về phía mình.
-Tôi có thể đi ngay bây giờ được,-Đra-tun nói và đứng dậy vươn vai.
-Không được liều. Anh điên à? Chúng nó đang lùng bắt anh và rồi chúng tôi cũng phải chịu vạ lây. Anh đừng có làm tội mình. Anh cứ việc ẩn vào nhà kho kín, chờ đến tối hẵng hay. Vả lại tôi cũng phải giặt bộ quần áo đầy bùn lầy của anh nữa chứ.
Sau khi cảm ơn chị chủ nhà tốt bụng và dũng cảm, Đra-tun quay vào kho, ngả mình trên đống cỏ tươi. Anh lim dim mắt, lát sau đã ngủ lịm đi.
 
3.
Mi-cla-sốp chợt choàng dậy, Ta-ghi-xla-ép và A-lếch-xan-đrin đang ngủ rất say cạnh anh. Mùi lá thông và cỏ tươi bốc lên thoang thoảng. Một con chim nhỏ nhảy chuyền từ cành nọ sang cành kia, cái mỏ nó mấp máy, có vẻ như đang hót. Anh chẳng nghe rõ gì cả.
Anh lắc lắc đầu để xua đi cái tiềng đùng đục trong tai. Anh có cảm giác tựa như sau khi tắm bị nước nước vào tai, nó cứ lạo xạo ở màng nhĩ rất khó chịu.
Mi-cla-sốp lay gọi Ta-ghi-xla-ép đang nằm nghiêng, say sưa trong giấc ngủ triền miền, miệng thỉnh thoảng lại chép rồi mỉm cười. Dù cho có lay mạnh đến thế nào anh ta vẫn nằm yên miệng lảm nhảm nói mê. Mi-cla-sốp chỉ thấy môi anh ta mấp máy chứ không nghe được gì và vẫn lay gọi. Khi Ta-ghi-xla-ép mở mắt và bật dậy. Cuộn băng trên đầu anh hơi bị tuột ra, máu đã khô cứng lại, in thành vết sẫm tím. Anh lo lắng nhìn Mi-cla-sốp rồi lắp bắp hỏi:
-Gì thế? Quân Đức à? Báo động? Đúng không?
Mi-cla-sốp thầm đoán xem anh ta nói gì. Anh khát khao mong muốn được nghe rõ, được hiểu ngay cái tiếng nói quen thuộc đó-tiếng nói của con người. Qua tiếng ù ù lạo xạo khó chịu trong tai, anh loáng thoáng nghe được tiếng Ta-ghi-xla-ép. Anh chợt cười-anh đã nghe được. Anh nhìn người đồng đội của mình và nhắc đi nhắc lại.
-Nói đi, nói nữa đi.
Ta-ghi-xla-ép hơi nghiêng đôi mắt to, đen láy nhìn lại,-và cũng không hiểu anh muốn gì ở mình, tay sờ vào cò súng, lo lắng hỏi lại:
-Đâu? Bọn Đức đâu?…
-Mát-vây A-lếch-xan-đrin cũng đã thức dậy vươn tay vồ ngay lấy khẩu tiểu liên. Chợt thoáng nghe tiếng Ta-ghi-xla-ép nói ”quân Đức ở đâu”, là anh bừng tỉnh liền. Tuy chưa thật hết cơn ngái ngủ, Mát-vây vẫn sẵn sàng chiến đấu ngay.
-Các cậu ơi, phải bố trí phòng ngự vòng cung.
Mi-cla-sốp bỗng nghe rất rõ những tiếng nói ấy. Anh ôm lấy Mát-vây và kêu lên vui sướng.
-Được rồi! Cậu biết không, mình nghe được rồi.
-Sao? Cậu nghe thấy cái gì? Xe tăng à?
-Mình thoáng nghe cậu nói được rồi… Quỷ bắt cậu đi. Mình nghe rõ rồi! Chúng ta sẽ sống và trở về!-Mi-cla-sốp cười như trẻ con.-Mình nghe hết tất cả lời cậu nói rồi.
-Khẽ thôi, con gấu!… Tay mình.
Mi-cla-sốp vội buông Mát-vây ra:
-Ôi, xin lỗi cậu. Mình quên khấy mất cái tay bị thương của cậu. Tai mình hết kêu rồi.
-Đó là chuyện thường tình. Sau khi bắn súng lớn như vậy, tai ai chả bị ù.-Ta-ghi-xla-ép nói vẻ thông hiểu.
A-lếch-xan-đrin sửa lại cuộn băng trên đầu, xa xa tiếng súng lớn nhỏ lại dồn dập, kéo dài như tiếng sấm trước cơn dông. Ba người nhìn nhau. Rừng vẫn lặng thinh, huyền bí và căng thẳng. Nét mặt họ đanh lại.
-Đang đánh nhau ở đấy,-Ta-ghi-xla-ép phá tan cảnh im lặng.-Chúng mình cứ theo hướng ấy mà đi.
-Trước hết phải xem xét lại đã, chúng ta bị rớt lại phía sau quân Đức rồi, cậu hiểu không? Ba chúng mình đủ một tổ chiến đấu.
A-lếch-xan-đrin, mím môi, lắc lắc đầu.
-Toàn đại đội chỉ còn lại thế này…
Mi-cla-sốp đứng dậy, giũ giũ đất bám trên quần áo.
-Thế này nhé! Ở đay, về cấp bậc, tôi là người cao nhất. Tôi làm chỉ huy. Chúng ta tìm đường về đơn vị.
 
4.
-Đra-tun không ngủ được. Mấy tuần lễ nặng nề vừa qua, lúc nào anh cũng chỉ chập chờn không trọn giấc. Cái cảm giác thấp thỏm chuẩn bị cho những chuyến bay, những trận đánh ác liệt không rời khỏi anh. Anh nặng nề mở mắt, hốt hoảng hói:
-Sao? Báo động à?
-Dậy thôi đồng chí thân yêu. Lên đường được rồi. Chuẩn bị đi.
Tiếng nói của chị chủ nhà, mùi cỏ tươi, tiếng gà cục tác đã đưa anh về với thực tại.
-Tôi đã chuẩn bị thức ăn cho anh đây. Quần áo đã sạch sẽ rồi đây.
-Cám ơn chị,-chàng phi công trẻ tuổi ngập ngừng chả biết nên xưng hô ra sao cho tiện, nên gọi “chị” hay “thím” nhưng giờ đây, không phải lúc lựa chọn cách xưng hô nên anh cứ gọi là “chị”,-Cám ơn chị.
Trong nhà còn có một phụ nữ nữa, trẻ hơn, khoảng trên dưới ba mươi tuổi, ăn mặc theo kiểu thành phố, mái tóc sáng và đôi môi đỏ thắm như tô son. Chị ta ngồi sau bàn, nhìn anh, mỉm cười đầy vẻ thân mật, thán phục-khi Đra-tun vừa bước qua ngưỡng cửa nhà trên, thấy còn một cậu bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi, trán giôi, đôi mắt sắc sảo.
-Cô Ma-ri-a Lơ-vốp-na.-Chị chủ nhà giới thiệu người phụ nữ trẻ. Mùa hè nào chị ấy cũng nghỉ được trọn vẹn, vừa tới đây thì quân Đức cũng ập tới.
-Thật là khủng khiếp. Chúng tôi không kịp rút chạy về thành phố nữa, mọi ngả đường đều bị chặn hết!-Người phụ nữ mang tên Ma-ri-a, giảng giải,-không có một chiế xe nào cả! Bưu điện, điện tín, điện thoại, đều không còn nữa… Còn tôi và thằng con trai bị kẹt lại đây… Thật là kinh khủng.
-Đây là con trai chị? Đra-tun hỏi và nhìn cậu bé,
-Xin lỗi, cháu Vô-va của tôi chỉ mới tới đây lần đầu thôi.
-Tên em là Pết-ca... tức Pi-e mà…-Chú bé đứng dậy, chằm chằm nhìn Va-xi-li.-Cháu trốn ra mặt trận, phải cố gắng lắm, cháu mới ra tới mặt trận.
Thế nhưng ở đây chỉ thấy người ta ngồi ở nhà, thao vãn, chờ đợi, xem bao giờ thì mọi việc sẽ kết thúc.
-Thế cháu cũng từ Lê-nin-grát tới à?-Đra-tun hỏi, vẻ quan tâm.
-Đúng rồi, nhà chúng cháu ở khu Crét-xtốp-xki, gần Pki-ô ấy-tức là công viên văn hóa và nghỉ ngơi ấy. Chú đã đến đấy chưa? Nhà cháu gần ngay bãi pháo phòng không. Gớm, nghe bắn đến ù cả tai.
Chị chủ nhà dọn bàn ăn.
Vừa ăn, Va-xi-li vừa suy nghĩ rằng người phụ nữ trẻ với cậu bé này không thể là bạn đường được, nhận người phụ nữ trí thức cùng vượt qua vùng địch tạm chiếm là điều khá mạo hiểm. Còn chú bé thì lại là chuyện khác. Cậu ta có thể là người bạn đường tích cực, có thể đi trinh sát, có thể… và anh nói:
-Vượt qua mặt trận chỉ có thể vào ban đêm. Chúng ta có thể bị phát hiện và bị bắn bất cứ lúc nào. Do đó, nếu có cả cậu bé nữa thì rất nguy hiểm. Chị không thể đi một mình được à?
-Không đời nào!-Ma-ri-a Lơ-vốp-na kiên quyết lắc đầu.-Chả lẽ tôi có thể về với cháu Xê-ri-ô-gia mà không có Vô-va. Làm sao tôi có thể nhìn mặt bố nó được.
-Chú phi công, chú nhận cháu chứ?-Pết-ca buột hỏi.
-Chỉ với một điều kiện.
-Điều kiện gì ạ?-Cậu bé chồm hẳn người lên, thái độ đày hi vọng.
-Phải phục tùng tuyệt đối!
-Vâng, cháu đồng ý!-Pết-ca đứng dậy giơ tay theo nghi thức tuyên thệ của đội viên thiếu niên tiền phong. Cháu xin thề, lời thề thiếu niên…
Thực lòng mà nói, Va-xi-li Đra-tun rất thích cậu bé. “Có lẽ bố mẹ cậu ta đang lo lắng sầu não nhờ tìm kiếm, còn cậu ta, một cậu bé hiếu kỳ, chỉ nghĩ đến chiến đấu thôi.-anh thầm nghĩ và tự khẳng định rằng. Nếu giờ đây anh chỉ là một cậu bé thì có lẽ anh cũng sẽ trốn ra mặt trận như cậu ta… khi còn ở lứa tuổi như cậu ta, anh chỉ có thể được xem cảnh chiến tranh nội chiến qua phim ảnh mf thôi”.
Chị chủ nhà đã đưa ra một bọc thức ăn. Chị phụ nữ trí thức trao cho Va-xi-li mảnh giấy xé trong vở học sinh có ghi số điện thoại:
-Nhờ anh giúp hộ, khi về tới Lê-nin-grát, anh gọi ngay tới số máy này và báo cho chồng tôi biết là tôi đang mắc kẹt ở đây…
Chị chủ nhà dẫn anh phi công và cậu thiếu niên đi tắt qua mấy khu vườn ra tới ngoài làng. Đêm yên tĩnh, tối mờ mờ. Từng tảng mây trôi nhanh trên bầu trời. Thỉnh thoảng ánh trăng le lói hắt chút sánh sáng yếu ớt xuống khu làng. Chẳng ai tin được rằng, trong cái cảnh trời đêm thanh bình này lại đang bùng lên ngọn lửa chiến tranh gây chết chóc và đau thương cho con người cách đây không xa.
-Con yêu quý, chạy ngay tới nhà bác Ép-chây nhé,-chị chủ nhà gọi Pết-ca âu yếm.-Bác ấy biết hết đường ngang lối tắt ở khu này đấy. Bác ấy sẽ chỉ đường tắt qua rừng về Lê-nin-grát cho.
 
Chương mười hai

1.
Mi-cla-sốp dẫn tổ chiến đấu ít ỏi của mình len lỏi qua rừng, đi vòng qua ga và khu thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ. Anh không còn hoài nghi gì về việc bọn Đức đã làm chủ khu ga và thị trấn. Tối hôm đó, họ đã tới được gần đường sắt. Họ dừng lại, nghe ngóng. Lát sau, theo lệnh Mi-cla-sốp, họ lần lượt yểm hộ cho nhau vượt qua nền đường và hai tuyênd đường sắt rồi lăn ngay vào mấy bụi cây rậm rạp cạnh đấy. Từ phía ụ đất gần đường sắt, một loạt súng máy vang lên rít qua đầu họ.
-Nằm xuống!
Đường đạn xanh lè kẻ một vệt thẳng tắp trong màn đêm. Bọn Hit-le đang bảo vệ con đường.
-Chà, được quả mìn nhỉ.-A-lếch-xan-đrin nói, vẻ ước ao.-Đặt xuống đường ray này, được đấy chứ?
Đến một quả lựu đạn cũng chẳng có, lại còn mơ đến mìn,-Ta-ghi-xla-ép lẩm bẩm-chỉ có lòng căm thù thôi!
-Căm thù cũng là một vũ khí,-Mi-cla-sốp nói và đứng dậy.-Yên lặng rồi đấy. Đi tiếp thôi.
Họ đi nhanh và lặng lẽ. Mi-cla-sốp bước nhanh, khá thành thạo theo con đường mòn. Trong khu rừng thông này, anh cảm thấy vững tin hơn. Bóng đêm dầy đặc đã che phủ cho ba người. Rừng yên tĩnh và ấm áp. Thoang thoảng mùi hoa thông, mùi nấm thơm càng khêu gợi cái đói mà họ đã cố quên đi. A-lếch-xan-đrin đi sau Mi-cla-sốp, thầm tưởng tượng đến ca men súo nấm trắng thơm phức… Còn I-go bỗng nhớ đến món bánh rán nhân thịt mà vợ anh hay làm có những lát nấm nhỏ.
Riêng Ta-ghi-xla-ép thì lại nghĩ đến cảnh sum họp ở ngôi nhà thân yêu của anh tận vùng thảo nguyên xa xôi. Không chịu được, anh thì thào nói chuyện với A-lếch-xan-đrin về các món ăn bằng nấm và trộn nấm. Họ dần quên mất là mình đang ở đâu, tranh nhau nói mỗi lúc một to hơn.
-Khẽ thôi, các cậu! Mi-cla-sốp nhắc Ta-ghi-xla-ép, mặc dầu anh cũng muốn nghe cho quên hết cơn đói đang cồn cào.
Mảnh trăng lưỡi liềm cuối tháng nhô lên sau rặng thông già. Ánh sáng yếu ớt, bàng bạc soi xuống khu rừng và bóng dáng ba người lính đi theo đường mòn có vẻ khẩn trương hơn. Khu rừng vẫn giữ nguyên vẻ im lặng, huyền bí.
… Bỗng trong cảnh đêm yên tĩnh đó vẳng lại tiếng ô-tô trầm trầm từ xa. Mi-cla-sốp giơ tay ra hiệu dừng lại.
-Gần đến đường lớn rồi, lac thầm thì nói.
Mi-cla-sốp cúi người, nhón chân đi lên trước. Mát-vây A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép bám sát, tay ghì chặt tiểu liên Đức-chiến lợi phẩm mà họ nhặt được trên đường rút chạy, đang sẵn sàng nhả đạn ngay từ khẩu lệnh đầu tiên.
Đêm tháng Bảy ngắn ngủi đã sắp tàn. Tuy còn lâu mới sáng nhưng bầu trời đã rạng hơn, thoang thoảng làn gió nhẹ ban mai. Chỉ có ánh trăng suông là còn tỏ vẻ lạnh lùng muốn soi mãi ánh sáng xuống khu rừng bát ngát này.
Con đường hiện ra đột ngột mặc dù họ chờ đợi nó từ lâu. Nó tạo ra một vệt sẫm thẳng xuyên qua khu rừng thông dày đặc đá sỏi. Bóng những chiếc xe lầm lũi in trên mặt đường bằng bạc phủ sương đêm.
-Đường dẫn đến Xtơ-ru-ga Đỏ.-Mi-cla-sốp vẫy tay và chăm chú lắng nghe tiếng động cơ xe xa dần,-vượt đường!…
Ba cái bóng vụt qua đường và biến vào các bụi cây. Họ dừng lại lắng nghe. Tiếng máy xe đang đến gần.
-Xe con, A-lếch-xan-đrin xác định.-Hình như chỉ có một chiếc… Thế nào, trung sĩ, chả lẽ cho nó thoát à?
Mi-cla-sốp cũng thoáng nảy ý nghĩ: “Bắt cóc”. Anh liếc nhanh đoạn đường. Chỗ thuận lợi nhất là phía góc rẽ nơi có nhiều bụi cây um tùm mọc sát vệ đường. Hình như chỗ này đã được tạo nên cho những cuộc phục kích đêm như thế này.
Họ chẳng phải chờ lâu. Vừa chạy đến chỗ phục kích một lát, phía dưới đã lộ rõ hai ánh đèn pha vàng vàng.
-Một thằng, Ta-ghi-xla-ép xác định.
-Diệt thằng lái trước,-Mi-cla-sốp sôi nổi hẳn lên.-Nổ súng theo lệnh tôi.
Hai vệt đèn vàng lớn dần và mỗi lúc một tiến gần tới chỗ ngoặt với tốc độ khác lớn. Làn ánh sáng chói lòa chiếu thẳng vào bụi cây, xuyên thẳng vào mắt. Ba người có cảm giác như bọn trên xe phát hiện ra họ.
 
Tiếng máy hơi giảm, tốc độ chậm lại và chiếc xe nghiêng vào cua.
-Bắn!-Mi-cla-sốp hét lên và nổ liền một loạt tiểu liên vào cửa kính bên trái, nơi tên lái xe ngồi. Hầu như cùng một lúc vang lên hai loạt tiểu liên khác. Tiếng kính vỡ loảng xoảng rơi trên con đường. Chiếc xe màu đen chồm lên, mất thăng bằng, đổ nghiêng bên lề đường.
tất cả chỉ diễn ra có mấy giây. Thậm chí họ cũng không tin là dễ dàng và nhanh gọn như vậy.
-Yểm họ cho tôi! Mi-cla-sốp ra lệnh và nhảy lên mặt đường.
Anh mở bật cửa sau và một tên Đức mặc áo ca-pốt sĩ quan đổ nhào vào anh như một bao hàng. Tên lái xe ngồi bất động, đầu gục xuống tay lái. Cạnh hắn trên ghế trước bên phải, tên phát-xít thứ ba, ngồi ngây ra, mồm há hốc.
-Người Nga! Đừng bắn, không, đừng bắn!
-Xuống xe!…
Tên phát-xít thoát chết run lập cập miệng lải nhải: “Người Nga, đừng bắn!”. Hắn lập cập bước ra khỏi xe, giơ hai cánh tay ngắn ngủn lên. A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép cũng vừa chạy tới.
-A hà, con quạng khoang!
-Tôi là sĩ quan… sĩ quan lớn! Không được bắn!
Tên sĩ quan Hit-le tầm thước, khuôn mặt béo phị trắng bệch ra vì quá kinh sợ, hai mắt đảo nhìn, toàn thân run lẩy bẩy. Trông dáng điệu hắn, không ai có thể tin được rằng đây là một trong những vị sĩ quan đại diện cho một đội quân hùng mạnh đã chinh phục gần hết châu Âu.
-Trung tá,-A-lếch-xan-đrin xác định khi nhìn vào quân hàm đeo trên vai và cổ áo,-Không rõ binh chủng nào.
-Khám xét,-Mi-cla-sốp hạ lệnh tiếp.
A-lếch-xan-đrin nhanh chóng lục soát túi áo quân phục, lấy được quyển số rtay, chiếc bút máy và một tập giấy khá dày. Anh cởi dây da và bao súng của hắn ra. Ở túi quần sau còn tìm thấy một khẩu súng lục bé nữa.
-Lấy dây da trói lại.
Tên Đức căng thẳng lắng nghe như cố hiểu cho được cái thứ tiếng nói lạ tai này, mắt thao láo đảo nhìn hết người này sang người kia như muốn biết số phận hắn sẽ được quyết định ra sao. Hắn há hốc mồm hít từng ngụm không khí, tựa như con cá cắn câu bị vất lên bờ, và hổn hển lặp lại, câu nói ngắt quãng cả tiếng Đức lẫn tiếng Nga ngập ngọng:
-Không bắn! Không! Tôi “nà” sĩ quan “nớn”!… sĩ quan…
A-lếch-xan-đrin bẻ quặt hai tay nó ra sau và lấy dây da đeo súng trói chặt lại. Trong khi đó, Mi-cla-sốp vào xe lục soát. Anh lôi ra một chiếc cặp da căng phồng. Món hàng quan trọng đây,-anh thầm nghĩ, tham mưu cỡ bự đây.
-Thu hết giấy tờ và vũ khí của hai tên kia,-Mi-cla-sốp bắt đầu chỉ hai tên bị giết. Dưới đệm còn một can xăng đấy…
-Cho nó một mồi lửa chứ, trung sĩ!-A-lếch-xan-đrin thu nhanh hai khẩu tiểu liên, năm băng đạn đầy ắp và khảu súng lục của tên sĩ quan bị chết rồi cầm lấy can xăng.
Mi-cla-sốp đưa mắt tìm xem có mẩy giấy hay mảnh bìa nào vương vãi trên đường, nhưng không thấy gì cả. Anh liền tuột luôn chiếc mũ lưỡi trai cao vành của tên sĩ quan chết, đổ xăng vào và đưa cho A-lếch-xan-đrin.
-Đốt đi!…
Anh ta bật lửa. Chiếc mũ tẩm xăng bùng lên một ngọn lửa đỏ rực.
-Rút vào rừng!-Mi-cla-sốp kêu lên và vất chiếc mũ cháy rừng rực vào cửa xe. Một tiếng nổ nhỏ và ngọn lửa bốc cao trùm lên chiếc xe. Chung quanh rực sáng ngay. Mùi vải bạt, mùi sắt, mùi sơn cháy khét lẹt. Một làn khói đen đặc cuộn lên bầu trời còn le lói ánh sao…
 
2.
Trung tá Phrăn-xơ Lây-man, sau này đã xác định được là phó xếp thứ nhất của cục quân báo cụm tập đoàn quân “Noóc-đơ” thất thểu rảo bước đi theo Ta-ghi-xla-ép-người mà hắn thầm rủa là “thằng châu Á mắt to”. Trên chiếc cổ béo phị của hắn lủng lẳng ba khẩu tiểu liên và quàng qua vai là chiếc cặp da màu vàng, căng phồng. Lây-man lo lắng nhất về chiếc cặp da này. Trong đó toàn là các tài liệu mật và tối mật của cục quân báo… Lây-man sẵn sàng đổi tất cả để làm sao đốt được các tài liệu này đi. Nhưng hắn biết, hắn sẽ không thể làm gì được khi đôi tay đã bị trói quặt ra sau lưng.
Viên trung tá tình báo này bước đi, đầu cúi gầm, rũ rượi. Hắn nhớ lại, mới chiều hôm qua thôi, sau bữa tiệc tối chiêu đãi các sĩ quan tham mưu tại khách sạn sang trọng ở Pơ-xcốp. Trung tá Lây-man đã được cử đến cái vùng Xtơ-ru-ga Đỏ đáng ba lần nguyền rủa này và tuy không muốn đi nhưng hắn vẫn không thể hình dung nổi tình cảnh lại như thế này. Chỉ cần nghĩ đến một điều là-một sĩ quan chủ yếu của cơ quan quân báo Cụm quân “Noóc-đơ” bị rơi vào tay bọn lính Nga, những kẻ mà theo hắn nghĩ, đang bị đánh cho tơi tả. Số phận thật trớ trêu!…
Vừa nuốt nước bọt, Lây-man vừa thầm rủa thậm tệ sự do dự của mình. Trong xe, ngay trên chiếc cặp da vàng của hắn là một khẩu tiểu liên còn nguyên cả băng đạn. Chỉ cần với tay lấy nó và lia một loạt là cũng đủ để thoát thân. Thậm chí trí tưởng tượng “yêng hùng” của hắn còn quay trở lại những giây phút diễn biến vừa qua. Hắn đang ngồi trong xe, tay cầm tiểu liên bắn thẳng vào bọn “lợn Nga”… Sau đó, hắn vớ lấy chiếc cặp da vàng và nhảy xuống gầm xe rồi một mình,-chỉ một minh thôi, chọi lại bọn Nga trong khi gã đại úy Phi-sơ đáng nguyền rủa lúc nào cũng vênh váo kia chưa kịp chạy tới, mặc dù Phi-sơ được cử đi cốt là để bảo vệ vị trung tá, tình báo này.
Càng nghĩ, ngài trung tá tình báo quân đội quốc xã càng thấy căm giận gã đại úy Phi-sơ vênh váo kia. Đồ tự cao tự đại, đồ nhãi ranh. Hắn nhớ lại…
Tất cả mọi chuyện đều bắt đầu tại bữa tiệc ở Pơ-xcốp. Gã đại úy vô lễ nốc hết cốc này đến cốc khác và rống lên như lợn. Người ta phải khiêng hắn vứt ra xe bọc thép. Thực ra thì gã trung tá có thể hoãn chuyến đi đến sáng mai, nhưng trước sự cam đoan là đường đi “rất sạch sẽ về mọi phương diện” và để bảo đảm an ninh tuyệt đối, một chiếc xe tải chở đầy lính đã được phái đi dọn đường. Chiếc xe tải xuất phát khoảng nửa tiếng rồi xe của gã mới đi. Theo Lây-man, đó là nguyên nhân của mọi “chuyện chết người này. Sau đấy, khi qua cầu bắc trên con suối, chiếc xe bọc thép bị trật bánh trước, do một cây gỗ tròn bị gãy và cả khối sắt nặng nề đó nằm bẹp dí trên cầu. Lúc ấy lẽ ra không nên vội vã và cứ chờ cho chiếc xe tải quay lại quay lại kéo lên. Thế nhưng gã không muốn chờ vậy…
Tên trung tá cảm thấy nghẹt thở. Quả thật, vừa bị thúc đi nhanh với đôi tay bị trói quặt sau lưng không phải là điều dễ chịu gì. Mấy chiếc quai súng như nghiến lấy cổ và chiếc cặp da đeo nặng trĩu như đè ấn xuống vai gã. Hễ hơi chậm bước là bị một mũi súng lạnh lìn thúc ngay sau lưng.
-Nhanh lên, nhanh lên nào! Chạy đi!
Giọng nói của người lính Nga đầy vẻ căm thù làm cho ngài trung tá không còn bình tĩnh được nữa. Gã hiểu rằng, mấy người lính Hồng quân này không ngại gì mà không kết liễu gã trung tá Đức Lây-man. Đối với họ, gã chẳng là của báu gì… Chỉ có điều khó hiểu là, tại sao đến tận giờ gã vẫn chưa bị một phát đạn găm vào lưng. “Cũng chẳng có gì là khó hiểu cả-Lây-man nuốt nước bọt, thầm nghĩ và toát mồ hôi,-chẳng qua là chúng cần mình làm con vật thồ hai chân mà thôi”.
Con đường mòn trong rừng mỗi lúc một dốc cao lên. Trời mỗi lúc một rạng dần. Những ngôi sao biến mất trên bầu trời rạng sáng. Lây-man vẫn lầm lũi bước đi, mệt nhọc, nặng nề lê đôi chân rã rời và thầm cầu trời cho đừng bị gục xuống đây… Trong thâm tâm gã vẫn không muốn cuộc đời kết thúc trong tình huống vô nghĩa này. Gã vẫn le lói niềm hy vọng được cứu thoát một cách tình cờ. Dĩ nhiên giờ đây ở bộ tham mưu người ta đã được báo động về tình hình của trung tá. Và có lẽ tên đại úy kênh kiệu Phi-sơ cũng đã được đưa về bộ tham mưu. Người ta đã biết được mọi chuyện.
 
3.
Trong lúc Mi-cla-sốp và các bạn chiến đấu của anh đang thúc tên trung tá Đức béo lùn qua ngọn đồi trọc thì cũng là lúc, phía xa bên kia, một chiếc xe con đang len lỏi trong khu rừng công viên ngoại vi thành phố. Các chiến sĩ ở trạm kiểm soát, sau khi đã kiểm tra kỹ giấy tờ liền mở cửa chắn cho xe đi. Đây là chiếc xe của đại tá cục trưởng cục kỹ thuật, ông vừa ở cuộc họp Hội đồng quân sự mặt trận nghiên cứu về tình hình vùng Lu-ga.
Máy nổ, đều đều, chiếc xe lăn bánh trên nền cát của khu rừng thông già. Trong tai ông vẫn còn văng vẳng lời thông báo của tham mưu trưởng mặt trận: ”… các đơn vị trung đoàn bộ binh và sư đoàn chống tăng đã phải rút về bên sông Pli-út dưới sức ép cũat và mô-tô Đức. Khoảng hai chục xe tăng Đức đã bị bắn cháy trong cuộc chiến đấu ác liệt này”. Tuyến phòng thủ mới trên bờ sông Pli-út kéo dài đến hữu ngạn sông Lu-ga vừa được tổ chức xong. Tư lệnh mặt trận tướng Mi-khai-lô-vích Pô-pốp cầm cây bút chì đỏ vạch một đường trên bản đồ và ra chỉ thị:
-Ngày mai sẽ mở cuộc phản công ở dải sông Pli-út. Nhiệm vụ chính là đẩy quân Đức sang bên kia sông.
Sau cuộc họp, tướng Pô-pốp mời đại tá cục trưởng kỹ thuật ở lai. vừ xoa xoa cằm, tư lệnh vừa ra chỉ thị:
-Theo tin tức quân báo thì trong các nhà ở Xtơ-ru-ga Đỏ nơi mà chúng ta đã đặt bộc phá đều có quân Đức đóng, phải cho nổ ngay ba khối bộc phá lớn.
Các quả bộc phá đã được chôn và ngụy trang rất khéo trước sự giám sát của đại tá, trên mỗi quả đạn lớn được nối với hệ thống điều khiển vô tuyến điện. Loại mìn điện vô tuyến này chỉ vừa mới được sản xuất trước chiến tranh ít lâu.
Chiếc “Em-ca” của đại tá vẫn nhẹ nhàng lướt trên quãng đường rừng bằng phẳng, len lỏi qua những hàng thông, sồi, bạch dương cao lớn, qua những quán hàng xinh xắn, những đường lát đá trắng phau… Bên trái thấp thoáng mặt hồ, nhấp nhô những hòn đảo nhỏ xanh rờn bóng cây. Nơi này cách đây không lâu còn là một khu nghỉ mát lúc nào cũng náo nhiệt, vui vẻ, lúc nào cũng vang lên những bản nhạc, bài ca vui tươi. Chả lẽ lại để cho gót giầy quân Đức giẫm đập lên đây chăng?
Chiếc “Em-ca” còn phải dừng lại hai lần nữa trước trạm kiểm soát. Trong một góc công viên um tìm, có một chiếc xe tải lớn đang đậu, phủ kín lá ngụy trang. Chiếc xe này được bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chính là chiếc xe điện đài cực mạnh. Đại đội trưởng đại đội vô tuyến điện trong những ngày gần đây hầu như không lúc nào rời khỏi hệ thống điện đài phức tạp này.
-Chỉ huy đâu?-Đại tá cục trưởng hỏi anh lính trực ban cao gầy.
-Báo cáo đại tá, đồng chí ấy vừa chợp mắt.
-Đánh thức dậy!
Anh chiến sĩ vội chạy vào lều bạt. Thoáng sau một sĩ quan trẻ khoảng hai mươi lăm tuổi thân hình cao lớn cân đối của một nhà thể thao, đôi mắt sâu tham quầng vì thiếu ngủ vội vã chạy tới. Vừa chạy vừa cài khuy cổ áo quân phục, vẻ mặt còn ngái ngủ, anh đứng nghiêm trước mặt đại tá, báo cáo:
-Thượng úy I-a-cô-vlép có mặt…
Đại tá giơ tay chào đáp lại và hạ lệnh ngắn gọn:
-Cho nổ ba quả bộc phá ở Xtơ-ru-ga Đỏ.
Vẻ ngái ngủ liền biến khỏi nét mặt thượng úy. Anh còn nán lại vài giây nhìn thẳng vào người chỉ huy cao cấp của mình, rồi đập gót quay ngoắt ra sau và chạy vội về xe. Các khẩu lệnh đanh gọn vang lên. Cả đơn vị điện đài nhỏ bé này sôi động hẳn. Máy nổ khởi động đều đều. Tiếng máy réo lên, đèn xanh đỏ nhấp nháy. I-a-cô-vlép nhìn vào các bảng điện và kiểm tra một lần nữa. Anh giơ tay phải lên và băm mạnh xuống kèm theo khẩu lệnh.
Đèn nhấp nháy, tiếng rít trong máy reo vang. Người ngoài không thể biết được rằng, trong những giây ngắn ngủi đó, một làn sóng điện cực mạnh được phóng lên không trung… Và cũng ngay lúc ấy, ở vùng Xtơ-ru-ga Đỏ cách đấy hơn một trăm ki-lô-mét, nơi các đơn vị quân Đức đang chiếm giữ, các thiết bị vô tuyến đặc biệt lắp ở các khối bộc phá lớn đã tiếp nhận được làn sóng điện theo ký hiệu mã quy định.
-Báo cáo đại tá xong!-I-a-cô-vlép báo cáo.
-Thế thôi ư?-đại tá hỏi lại có vẻ như đây là lần đầu tien ông được chứng kiến việc phóng sóng điện điều khiển từ xa này. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu được tâm trạng của đại tá vì đây cũng là lần đầu tiên ông ra một mệnh lệnh cho nổ thực sự vào kẻ địch chứ khôngphải là để diễn tập như các lần trước.
-Đồng chí cho phép đề nghị được không ạ?
-Được, tôi nghe đây.
-Đề nghị đại tá thông báo với không quân cho máy bay đi kiểm tra kết quả.
 
4.
Lên đến đỉnh đồi, Mi-cla-sốp quyết định dừng lại nghỉ. Những bụi cây rậm rạp lúp xúp là vật che chở đáng tin cậy của tổ chiến đấu nhỏ bé này. Quả là liều lĩnh và mạo hiểm khi cứ liều sâu vào vùng chiến sự giữa ban ngày.
-Nghỉ đến chiều chứ?-A-lếch-xan-đrin hỏi.
-Có thể như vậy-Mi-cla-sốp ngập ngừng đáp.-Để xem xét tình hình và sẽ quyết định sau.
Khi chân trời phía đông đỏ rực, chân trời phía tây mảnh trăng vẫn còn cố dùng dằng chưa muốn khuất hẳn sau cánh rừng xa nhấp nhô như răng cưa, Mi-cla-sốp thong thả đi một vòng kiểm tra ngọn đồi. Không khí ban mai yên tĩnh, mát lạnh. Từ ngọn đồi thưa cây này có thể nhìn rõ bằng mắy thường toàn cảnh thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ và nhà ga đường sắt. Giữa những mái nhà gỗ xám xịt nổi bật lên những ngôi nhà ngói hai tầng.
-Xtơ-ru-ga Đỏ đây phải không?-A-lếch-xan-đrin hất đầu về phía thị trấn, hỏi.
-Chính nó đấy.
Tên trung tá Lây-man, ngồi bệt xuống bãi cỏ dưới lùm thông non, đoi chân ngắn ngủn đã mỏi nhừ và hắn có cảm giác không phải là chân mình nữa. Đôi tay bị trói tê nhức. Họ đã bỏ món hàng nặng trên cổ và vai hắn ra, và hắn nhớ lại bài học iôga hồi trẻ, liền há miệng hít thở một hơi thật sâu đầy lồng ngực. Miệng và cổ khô khốc, khát cháy họng. Khi nghe đến tiếng Xtơ-ru-ga Đỏ, hắn cũng quay đầu nhìn về cái thị trấn đầu mối giao thông này và chua xót nghĩ rằng, quan thầy hắn không còn mong gì hắn đến đấy nữa.
Đúng vào lúc ấy, ngay giữa trung tâm thị trấn, nơi nổi bật mấy ngôi nhà ngói hai tầng bỗng lóe ánh chớp vàng rực kéo theo ba cột khói và đất bùng lên cùng một lúc… Cảnh tượng giống như một cuộc ném bom vậy.
-Kìa!-Ta-ghi-xla-ép kêu lên và giơ tay chỉ nơi phát ra tiếng nổ-Quân ta ném bom.
Chưa ai kịp nhìn kỹ, đám đất bị tung lên cao chưa kịp rơi xuống thì ngay lúc ấy một làn chớp nữa xuất hiện, khói lại cuộn bốc lên… Rồi lại một vụ nổ thứ ba… Toàn khu thị trấn ngập chìm trong màn khói đen đặc.
-Không, không phải là ném bom,-Mi-cla-sốp nhận định.-Bầu trời không một bóng máy bay. Hình như công binh chúng ta đang cho bọn Đức nếm mìn điện đấy. Chà, khá lắm!
Gã trung tá trố mắt về khu thị trấn và lặng đi vì vui sướng. Ai có thể đoán trước được như vậy. Hình như chính mệnh trời cứu Lây-man khỏi tai họa khi phải lọt vào tay ba gã lính Nga lang thang tan tác vì lạc đơn vị này. Té ra số phận trớ trêu vẫn còn mỉm cười với gã! Chẳng phải nghi ngờ gì nữa, chính những tiếng nổ kia là nhằm vào gã, vào ngài sĩ quan tình báo của quân đội Đức này. Chính chúng nó đã cứu ta, trung tá Lây-man tốt số này. Bị bắt làm tù binh còn hơn bị tan xác theo đám đất bụi kia chứ! Nếu không có ba gã lính Nga lạc ngũ này thì có lẽ Lây-man đã đến ngay cái trung tâm thị trấn bị phá hoại kia từ lâu rồi.
Lây-man ngẩng mặt nhìn trời, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Hắn cảm ơn trời, chúa, đức bà Ma-ri-a và mọi thánh thành thiêng liêngkhác.
Mát-vây A-lếch-xan-đrin quỳ nhổm dưới bụi liễu hoàng diệp ngay sau lưng gã trung tá. Anh kéo chiếc xắc lại, mở khóa và hỏi:
-Tổ trưởng, lót dạ được rồi chứ?
Vừa hỏi anh vừa lôi trong chiếc túi xắc ra mấy thỏi xúc xích tròn tĩnh, mấy ổ bánh mì gối trắng tinh, một nửa thỏi pho-mát, mấy hộp thịt, chai cô-nhắc Pháp, năm thanh sô-cô-la, hộp bánh bích-quy xốp v.v… Cái túi chiến lợi phẩm của gã trung tá thật là phong phú… Dưới đáy xắc còn mấy hộp thuốc viên tròn tròn.
-Thuốc bệnh à?-Ta-ghi-xla-ép hỏi.
-Vi-ta-min đấy,-Mát-vây đáp vẻ thành thạo.
Nhìn đống thức ăn ngồn ngộn, Mi-cla-sốp bèn cất một nửa thỏi xúc xích và pho-mát, cùng mấy hộp thịt cất đi. Vừa phải thôi, ai biết được quãng đường phía trước sẽ thế nào?
Ta-ghi-xla-ép mở dao găm và thái thức ăn bày trên áo quân phục vừa được trải ra.
 
Chương mười ba

1.
Trung úy Đra-tun không rời mắt khỏi Pết-ca. Cả hai lặng lẽ bước theo lối mòn mờ mờ trên cỏ, có cảm giác như vệt đường mòn này chỉ loanh quanh tại chỗ, nhưng anh vẫn luôn ngước mắt nhìn ngôi sao Bắc đẩu trên bàu trời và dải lạu mờ mờ của chòm sao Ngân hà, nhìn vào vành trăng khuyết đanh nhích dần về hướng tây và vững tin đi về phía Nam. Anh đã hình dung rõ nét vị trí của vùng này và đây là khu vực anh bay tập trong thời bình, giờ đây anh đứng ở đâu đó chếch về phía tây khu ga thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ, cách không xa con sông nhỏ có cái tên giống như người Liu-ta.
Vệt đường mòn len lỏi giữa những hàng cây cao ngất. Những cây thông đuôi ngựa thẳng tắp, đứng thành hàng đều đặn, nghiêm chỉnh như hàng cột vươn tấm thân cao lớn màu đồng xám. Những hàng thông non chen lấn giữa hàng thông cổ thụ. Điểm thưa thớt những cây sồi, bạch dương trắng muốt. Đến bờ suối họ dừng lại.
Va-xi-li bỗng cầm tay Pết-ca im lặng quay nhìn sang phải. Pết-ca cũng nhìn theo và lặng người đi. Cách họ độ ba chục mét một con lợn to lớn đang ủi đất cạnh bụi phi tử. Lưng phẳng lì, lông màu xám đen, chân cao khỏe, béo mập và hai chiếc răng nanh nhô lên trên mõm như hai chiếc sừng. Nó bỏ bụi cây khịt khịt tới bên bờ suối và gục đầu uống nước. Lát sau nó ngửng lên, vẻ thỏa mãn, hai bên mép còn kéo theo hai vệt nước.
Cảm thấy có người, chú lợn nghếch mõm lén thận trọng, mũi khịt khịt đánh hơi. Pết-ca muốn nói với nó vài lời âu yếm, vỗ về nhưng bỗng nó nhảy phóc một bước lên bờ, chui vào bụi rậm và biến luôn trong đó.
-Đẹp thật!-Đra-tun thở dài, tiếc rẻ.
-To như một con bò ấy-Pết-ca hưởng ứng theo,-và nhanh hơn con thỏ.
Con đường mòn len lỏi qua cây cối rậm rì dẫn người phi công và em bé tới một khu rừng bạch dương.
-Ôi, bao nhiêu là nấm?-Pết-ca thở dài.
Sau rừng bạch dương lại đến một dải rừng thông sẫm mờ hơi sương, khi trời sáng hẳn và cây cối đã mất đi vẻ bí hiểm của nó bỗng vang lên tiếng nổ trầm trầm ở đâu đó phía sau họ. Va-xi-li quay lại và chưa kịp định hướng thì vang lên hai tiếng nổ tiếp nhau.
-Bom?.. Bom của chúng ta?
Đra-tun nhìn bầu trời bạc trắng ban mai, lắc đầu.
-Chẳng nghe có tiếng máy bay gì cả.
-Bắn súng lớn chăng?-Pết-ca lại khẽ hỏi.
-Không giống tiếng súng lớn.
-Vậy thì tiếng gì?
-Phải nhìn thì mới xác định được. Nhưng đứng ở đây thì chả thấy gì cả.
-Sắp tới một ngọn đồi, có thể thấy rõ thị trấn Xtơ-ru-ga Đỏ được. Cháu với bố thường đến vùng này đi câu mà. Sau đồi là một cái hồ lớn. Trại hè thiếu niên vẫn hay đóng ở đấy. Đứng ở trên đỉnh có thể trông rõ tất cả.
-Im lặng!-Đra-tun dừng lại.
Anh không thích cái khu đồi họ vừa đến, vì nó trống trải và nếu có bất trắc, nguy hiểm thì không biết trốn vào đâu, chỉ có một cách duy nhất là ngâm mình dưới hồ. Phải tắm mình trong nước bùn đặc quánh kia thì anh không hề muốn tý nào. Anh linh cảm thấy hình như có một mối nguy hiểm gì đó quanh khu vực trống trải này nhưng là cái gì thì chưa xác định được. Tuy nhiên, linh cảm thường không đánh lừa anh.
-Chú Va-xi-li, trông kìa… Con sếu,-Pết-ca lai khẽ thở dài chỉ sang phía bờ hồ.
Con sếu cách họ không xa lắm. Nó đang lặng lẽ và có vẻ lười nhác đứng im trong nước, chờ mồi. Nhưng bỗng nhiên chú chim cao cẳng đó ngếch mỏ, vẻ thận trọng và kêu lên. Ngay lúc ấy, từ trong bụi lác, cô bạn sếu cái của nó xuất hiện. Chúng kéo nhau chạy một quãng và sải cánh bay lên. Vừa bay vừa kêu, chúng đảo một vòng hẹp trên hồ rồi bay thẳng.
-Chúng mình làm nó sợ,-Pết-ca nói.
-Loài chim thông minh thật.
-Chú Va-xi-li, cháu hỏi thật chú một câu được không?
-Hỏi đi.
-Chú được thưởng huân chương Cờ Đỏ vì chuyện gì đấy?
-Ồ chuyện dài dòng lắm, Pết-ca ạ?
-Do đẫ bắn rơi nhiều máy bay Đức à?
-Tất nhiên phải bắn rơi nhiều máy bay Đức, nhưng huân chương này là hồi chú còn chiến đấu ở Mông Cổ.
Anh có thể kể tiếp những ngày tháng được tham gia chiến đấu ở biên giới phía đông Mông Cổ, tại khu vực sông Khan-kin-gôn nhưng cũng ngay lúc đó, trong bầu không khí yên tĩnh ban mai quanh hồ vọng lại tiếng chó sủa lanh lảnh.
 
-Chó sủa,-Pết-ca ngạc nhiên,-hình như ai đi săn ấy.
-Tình hình này mà còn đi săn,-Đra-tun lầu bầu định chửi đổng nhưng ngay lúc đó lại có tiếng súng nổ.
-Có tiếng súng đấy, phải không chú?-Pết-ca nhìn anh, hỏi-Lại một loạt nữa. Chú có nghe thấy không?
-Có.
Tiếng nổ có vẻ đanh và liên hồi hơn. Đra-tun vẫn đứng im, lắng nghe. Chỉ có tiếng súng tiểu liên Đức thôi. Tiếng tiểu liên dễ phân biệt được ngay. Có cả tiếng súng lực rời rạc. Đra-tun rủa thầm và cố phán đoán lực lượng địch qua tiếng súng. Nếu đây là tiếng súng quân, có thể khẳng định đó là tiếng súng phá vây của những người bị lạc đơn vị như mình đang tìm đường về. Hay có thể là đội đặc biệt của ta chăng? Bởi vì mới vang lên ba tiếng nổ xong. Chúng đã phát hiện ra mục tiêu và đang săn đuổi…
Đra-tun rút khẩu súng lục, còn một băng nguyên vẹn và băng cũ còn sáu viên. Tất nhiên với khẩu súng này thì không phải để tấn công.
-Đi thôi!-Anh bảo Pết-ca-Em tìm lối đi ngắn nhất, hiểu chứ? Lối đi ngắn nhất.
-Có thể đi thẳng… lội qua hồ,-Pết-ca trả lời với vẻ cố làm cho chú phi công tin tưởng: cậu ta rất muốn được tận mắt xem một trận đánh thực sự.
-Có lội qua được không?
-Được, hồ này không sâu. Cháu đã có lần đi đánh tôm ở đây mà-Cậu chỉ nói vật thôi, chứ thực ra cậu ta mới đến đây có một lần mà là đi cắm trại:-Chú có thấy cái cây bạch dương đổ kia không. Lội thẳng sang đấy và vượt lên bờ, rồi… Đi chứ.
-Ừ, thì đi,-Đra-tun đành đồng ý.
 
2.
Bọn Đức xuất hiện bất ngờ. Chúng đã bí mật rải quân thành một hình vòng cung, tiến lên ngọn đồi. May mà Ta-ghi-xla-ép kịp phát hiện trước. Đôi tai của người thợ săn vùng thảo nguyên trước đây đã phân biệt được tiếng chó sủa từ xa. Chó nào lại đến đây thế này? Chó của ai?
Anh nuốt vội miếng xúc xích, đứng bật dậy.
-Cậu đi đâu đấy?-Mi-cla-sốp ngăn lại.
-Có tiếng chó… Để xem xem…
-Cậu cứ tưởng tượng thôi,-Mát-vây nói theo.
Với khẩu tiểu liên, Ta-ghi-xla-ép luồn ngay vào bụi cây. Anh không tin vào mắt mình nữa: cách họ khoảng hơn hai trăm mét xuất hiện hai tên Đức vừa đi vừa chạy lom khom, tay lôi chiếc dây da căng lên vì hai con chó săn rất lớn đang dằng chạy. Cổ họng Ta-ghi-xla-ép khô đặc lại, giương súng lên, anh ngắm thật kỹ tựa như khi bắn tập nhằm vào tên chạy trước và bóp cò. Tên Đức ngã sấp xuống cỏ. Con chó trong tay hắn lồng lên, sủa ầm ĩ và cứ muốn bật ra khỏi sợi dây da mắc trong tay chủ hắn. Thêm nhiều tiếng chó sủa rộ lên cả khu rừng sôi động hẳn. Bọn Đức từ nãy vẫn im lặng chạy theo sau đàn chó, đột ngột dừng lại và đồng loạt nổ súng về phía trước.
-Chúng ta bị bao vây!-Ta-ghi-xla-ép kêu lên-Báo động!
Mi-cla-sốp và lac vội lấy súng. Tên trung tá Lây-man cũng hoạt bát hẳn lên. Thế là quân ta đã đến! Hắn mừng thàm và đứng phắt dậy tựa như kẻ đang làm chủ tình thế, hách dịch hét lên:
-Này, bọn lợn Nga. Cắt ngay dây rtói cho ngài sĩ quan! Nhanh lên! Không được bắn! Ta là sĩ quan lớn! Ta hứa cho mày, mày và thằng kia được hưởng chế độ tù binh tốt! Ta hứa sẽ cho chúng mày sống!
Mi-cla-sốp ôm chặt chiếc cặp da căng phồng. Giấu nó đi đâu bây giờ? Nếu là cái xắc thì còn có thể đeo được. Đằng này lại là cái cặp nên không thể nào đeo được, còn xách thì lại càng bất tiện vì còn tay đâu mà bắn. Song lại không thể vứt đống tài liệu quan trọng này, anh không được phép làm như vậy. Anh đành cởi thắt lưng da, vòng qua quai thắt chặt lại trước bụng rồi ôm xốc ngực gã trung tá Lây-man, dựng hắn dậy.
-Nào, đứng dậy.
-Rút đi,-A-lếch-xan-đrin hét lên và nhìn về phía bọn Đức đang hò la, bắn loạn xạ-I-go, khử con rắn độc này đi thôi.
-Còn kịp chán!…
Mi-cla-sốp quàng thêm hai khẩu tiểu liên lên cổ, suy nghĩ giây lát rồi cúi xuống, cầm lấy thắt lưng tên sĩ quan Đức, nhấc lên vai như một bao bột.
-Đi thôi!
Anh chạy xuống chân đồi, rồi len lỏi chạy biến vào đám cây um tùm. Anh bỗng vấp ngã xoài trên cỏ ướt hơi sương. Mi-cla-sốp vứt tên tù binh xuống đất, và bò lên, kéo nó lê trên cỏ, vừa nổ những loạt đạn ngắn yểm hộ cho hai bạn rút. Cứ thế ba người thay nhau lùi dần vào rừng sâu. Vùng trên đầu Ta-ghi-xla-ép sổ bung ra. Anh thở dốc ngắt quãng.
-Trung sĩ! Hết đạn rồi! Thật xấu số.
-Bắn điểm hai phát một thôi!... Bắn thật chắc vào…
Mi-cla-sốp hiểu rằng họ không kháng cự lâu được. Anh bật dậy, xốc gã trung tá lên vai, hắn hầu như đã ngất xỉu đi vì khiếp sợ.
A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép chạy theo anh. Phía sau vẫn vang lên lanh lảnh tiếng chó sủa, tiếng hò la của bọn lính Đức và tiếng đạn tiểu liên chiu chíu vút qua đầu. Bọn lính đi lùng sục vẫn chưa kịp dừng lại.
Rừng cây thưa dần một cách bất lợi. Những hành bạch dương và thông lớn đã lùi lại sau, chỉ còn lại những đám thông, bạch dương khẳng khiu và những bụi câp lúp xúp… Đang chạy họ bỗng thấy hiện ra trước mặt một mặt nước long lanh, điểm những bụi cói, lau rập rạp.
-Hồ nước!-A-lếch-xan-đrin thở dài, thốt lên-Hết đường rồi.
Lúc này không còn có thể quay sang hướng khác được nữa. Ba mặt hầu như đều có tiếng chó sủa, tiếng hò la và súng nổ. Hình như bọn Hít-le đã nghĩ trước và bố trí tình huống này. Chúng cố ý dồn cho tổ lính Nga này chạy ra hồ và sẽ bắt sống họ.
A-lếch-xan-đrin nhìn quanh.
-Thế nào đây, tổ trưởng?
Ta-ghi-xla-ép giật phăng cuộn băng thấm máu đã khô tím sẫm kêu lên:
-Đánh thôi!
-Lội xuống hồ!-Mi-cla-sốp lạnh lùng hạ lệnh.-Các anh hiểu ý tôi chứ?-Ta sẽ dìm bọn Đức tại đây… Miễn là chúng dám liều lĩnh xông xuống đây! Hãy yểm hộ cho tôi!
Xốc lại cái khối thịt nặng trên vai, Mi-cla-sốp lội xuống hồ, cố bước tới đám cỏ lác rậm rạp. Bùn lầy dưới chân lún xuống, bọt sục lên ùng ục, một mùi hôi nồng nặc xông lên. Tên trung tá vẫn nằm còng queo gập xuống vai Mi-cla-sốp và trông như không còn sự sống trên nét mặt nó nữa. Bỗng anh lại mất đà ngã chúi người ra sau, đầu tiên tù binh nhúng xuống nước, nó hồi tỉnh lại, hai chân cố quẫy quẫy, miệng gào thét lên kinh hoàng vì bị sặc nước. I-go vội ôm hai chân tên Đức, ghì chăth như trong một trận đấu vật. Lây-man vẫn cố gắng giấy giụa, rên hừ hừ.
Cuối cùng Mi-cla-sốp cũng đã lội tới được bụi cói. Bùn dưới chân sôi lên, nhưng anh vẫn cố bước tiếp trong nước bùn. Càng ra xa, bùn lun càng sâu. Thỉnh thoảng lại bị hẫng một cái, nước ngập đến cổ và mỗi lần như vậy thì Lây-man lai giãy giụa cố ngoi lên miệng kêu the thé.
Đến giữa hồ, nơi cỏ lau mọc dày như bức tường xanh, I-go không còn chịu đựng nổi nữa liền vất phịch lão trung tá tù binh vào thảm cỏ lác dày, rồi anh trườn lên, tìm chỗ thuận lợi, nằm nghỉ và lôi chân tên Lây-man lại gần. Tên Đức chỉ còn biết có ngửa đầu lên để thở, tránh mùi bùn và lá thối nồng nặc.
-Bây giờ thì mày muốn rống thở bao lêu tùy thích!-Mi-cla-sốp thở hồng hộc và nói thêm bằng tiếng Nga:-Chung quanh mày là chếc chóc cả… Chỉ có bùn và nước thối đấy…
Để tên Đức nằm chết lặng đó. Mi-cla-sốp quay lại yểm hộ cho đồng đội. Họ cũng đang bìb õm vừa lội vừa chạy, tới mấy bụi lau rậm rì giữa hồ. Trên mé hồ đã nghe tiếng chó sủa lồng lên vì bất lực. Bọn Đức kêu loạn xạ, đứng lố nhố nhưng xem ra không có tên nào dám liều mình nhảy xuống hồ cả.
Cái im lặng và lạnh lùng của mặt hồ với những lùm cỏ lác rậm rạp làm chúng ngần ngại, sợ sệt…
 
3.
Mi-cla-sốp nghe rõ tiếng súng tiểu liên rền đanh, tiếng súng trường phát một và tiếng lựu đạn thưa thớt. Tưởng chừng như toàn khu rừng đang nổi giận, đang dương oai bằng những tiếng nổ và chớp lửa. I-go vẫn căng tai lắng nghe. Trong tiếng nổ hỗn loạn, tuy rất khó phân biệt nhưng hình như anh vẫn thoáng nghe có giọng tiếng Nga: “Bắn đi!”, “Hãy gầm lền!”.
Trên bờ hồ đã xảy ra một cái gì đó rất khó hiểu. Hình như có ai đó đang bắn vào bọn Đức. Mi-cla-sốp nhổm người lên, rẽ đám cỏ lác để nhìn.
-Quân ta! Đằng kia có quân ta.
Khi anh lội được vào bờ thì cuộc đấu súng đã ngừng. Ta-ghi-xla-ép đang ngồi dưới gốc một cây tùng già. Người anh ta ướt sũng, đầy bùn và một anh lính Hồng quân lạ mặt đang băng cánh tay trái cho anh.
-Chỉ sầy da thôi, đồng chí trung sĩ ạ,-Ta-ghi-xla-ép định đứng dậy nhưng người Hồng quân giữ anh lại.
-Chưa chạm đến xương, anh ta nói, giọng có vẻ am hiểu.-Cậu còn sống được đến ngày cưới đấy!
Một phi công xuất hiện, bộ quân phục của anh cũng đầy bùn, dán chặt lấy người, làm nổi bật lên vóc người cân đối. Khẩu tiểu liên Đức đung đưa trước ngực. Cạnh anh là một cậu bé, cũng trang bị tiểu liên. Gần mắt trái anh phi công có một bết sẹo dài. “Trông quen quen,-Mi-cla-sốp thầm nghĩ.-Mình đã gặp anh chàng này ở đâu rồi ấy nhỉ?”.
-Cậu đấy à?-anh phi công kêu lên vui sướng vỗ lia lịa vào vai nhà cựu võ sĩ quyền Anh. Xin chào nhà vô địch!…
-Xin lỗi, tôi không nhận ra anh đấy… Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu rồi ấy nhỉ?
-Ở trên xe ô-tô khi chúng ta rời Lu-ga… Cậu còn nhớ không, hôm ấy mới là ngày chiến tranh thứ hai…
-Sao lai không nhỉ?-Mi-cla-sốp nhớ ra và cũng hỏi lại. Cậu cũng có một mình?
-Sao lại một mình?-Còn một người bạn đường cừ khôi đây!…
Một chuẩn úy gầy gò đi đến bên họ. Đra-tun vừa chỉ vào I-go vừa nói nhỏ gì đó với anh ta. Anh này gật đầu nhìn Mi-cla-sốp với vẻ quý trọng và không giấu nổi vẻ tò mò.
-Anh đã làm khuấy động lên đấy,-chàng phi công vui mừng nói oang oang, vỗ vỗ vai Mi-cla-sốp, làm cho bọn Đức bấn lân.
-Tổ trinh sát à?-Mi-cla-sốp hỏi, tay cởi thắt lưng cầm lấy chiếc cặp da. Các anh từ phía ta ra đi lúc nào đấy?
-Đúng tôt trinh sát. Nhưng chúng tôi chưa về tới chỗ quân ta được. Chỉ mới đi mở đường thôi! Chuẩn úy bắt đầu nhìn lên chiếc cặp, hỏi.
-Chủ nó đâu?
-Cách đây hơn nửa giờ hắn đã tắm bùn phải không?-Bọn tôi nghe rõ cả tiếng kêu thét của hắn.
-Phải đến mấy bụi cỏ lác kia mà tìm hắn. Có lẽ còn sống đấy.-Mi-cla-sốp nói. Bọn tôi đã trói chắc hắn lại rồi.
-Nếu còn sống thì có lẽ hắn đã rống to lên, chàng chuẩn úy nói, giọng đùa cợt. Quân Đức không phải là dân ngu đâu.-Anh đưa hai ngón tay lên miệng:
-Hiệu lệnh tập hợp đấy, đến giờ về tồi,-anh chuẩn úy nói.-Người của anh đủ cả chứ?
-Chúng tôi chỉ có hai người thôi.-Đra-tun nói và hất đầu chỉ vào cậu bé đang giúp các chiến sĩ Hồng quân thu nhặt vũ khí.
Pết-ca vui hẳn lên, cậu khoác hai vai hai khẩu tiểu liên và cài thêm ba băng đạn quanh thắt lưng.
-Còn chúng tôi chỉ có ba tay súng thôi.-Mi-cla-sốp đáp. Tất cả đã sẵn sàng
-Vậy thì đi thôi.
Các chiến sĩ lên đường, mang nặng súng đạn chiến lợi phẩm. Tinh thần phấn chấn, họ cười đùa, nói chuyện với nhau một cách sảng khoái.
-Này cứ the thé như ngựa đực ấy! Tinh thần phấn chấn quá đấy.-Chuẩn úy làm ra vẻ kẻ cả, và nhìn khắp lượt những con đại bàng của mình. Mới bốn hôm trước đây mặt mày ủ rĩ nặng nề như đưa đám ấy. Có lẽ cho đến khi chết mỗi người chúng ta sẽ vẫn còn nhớ mãi cái ngày mồng mười tháng Bảy này. Đấy không phải là một ngày bình thường nữa mà tự như là ngày tận cùng của thế giới ấy. Đến bây giờ mình cũng không hình dung nổi là tại sao chúng ta vẫn còn sống được!…
-Cậu nói, ngày mồng mười à? Này, có phải đúng vào ngày sư đoàn cậu phải rút khỏi Pơ-xcốp tới bờ sông Lu-đô-nhi không?-Mi-cla-sốp hỏi, khi nhớ lại ngày rực nắng ấy cùng với trận chiến đấu căng thẳng trên đường quốc lộ chính.-Đại đội phòng không chúng mình được lệnh phải chặn bọn không quân Đức trên bầu trời vùng này… Thế mà hóa ra lại đánh nhau với xe tăng…
-Mình không biết là bên phòng không đã chặn chúng lại nhưng quả thật bọn mình đã được bảo vệ một cách thật sự! Chúng mình đã tiến lên theo đội hình tấn công. Và bỗng bọn “Gioong-ke” và “Méc-xéc” ập tới, chúng cứ việc lao vào xả hết bom đạn, chưa kịp hoàn hồn thì lũ xe tăng nghễu nghện tới.
Chuẩn úy Xê-men Sa-pi-cốp vừa kể về những thử thách vừa hết lời ca ngợi người chỉ huy đội đặc biệt là chính trị viên tiểu đoàn Gri-gô-ri Phê-đô-rô-vích Va-xi-chin, một con người dũng cảm và bình tĩnh khác thường. Ông đã tìm cách tập hợp hầu hết các sĩ quan và chiến sĩ bị tan tác vì bọn xe tăng Đức lại, thành lập một đơn vị chiến đấu và chọc thủng vòng vây đưa về hành quân quân ta năm chục xe tải chở đầy vũ khí, đạn dược.
-Một con người có ý chí gang thép! Trông bề ngoài thì chẳng có gì đặc biệt cả. Được thưởng huân chương Cờ Đỏ từ thời nội chiến cơ đấy.
Chuẩn úy kể lại cuộc chiến đấu ngày hôm ấy, nhắc lại cả việc chiếc xe tăng “T.34” từ vùng bị quân Đức chiếm đóng lao về đơn vị.
-Và các cậu biết không, chỉ cần một xe tăng là cũng có đủ sức mạnh rồi!… Ngoài họ ra còn ai có thể bảo vệ cho đoàn xe chở đạn của chúng mình nữa. Đội trưởng xe tăng ấy là cậu chuẩn úy Cun-ga.
-Ai, cậu nói là Cun-ga à?-Mi-cla-sốp sôi nổi hỏi.-Nếu là cậu ấy thì mình biết quá rõ đấy. Chính cậu ta cùng ở trong đội tuyển với mình mà. Cậu ấy còn sống ư, đúng là Cun-ga chứ?
-Cậu ấy đang chiến đấu mà!-Chuẩn úy nâng khẩu tiểu liên lên ngang ngực và nghiêm giọng, ra lệnh-Đi đều bước!…
 
Chương mười bốn

1.
-Nào, Sa-pi-cốp nhanh lên… Va-xi-chin đang đợi.
Ban ngày, đơn vị nhỏ này dừng lại nghỉ trong rừng thông rậm. Đoàn xe được giấu kín dưới các tán cây lớn và các chiến sĩ chia ra thành từng nhóm một. Chỉ huy đơn vị nằm trên chiếc áo bạt trải rộng gần chiếc tăng “ba tư tấn” cắm đầy cành thông ngụy trang đang nhìn vào tấm bản đồ và ghi chép điều gì đó vào quyển vở dày. Từ xa Đra-tun đã nhận ra tấm bản đồ địa hình quen thuộc của vùng này.
Cặp bút chì vào quyển vở, Va-xi-chin đứng dậy. Anh trạc tuổi trung niên, thân hình cao to vạm vỡ chắc nịch. Nhìn quân hàm và mấy ngôi sao trên ve áo, Đra-tun biết được anh ta là chính trị viên tiểu đoàn. Bộ quân phục sạch sẽ, chiếc cổ là thẳng tắp đập vào mắt Mi-cla-sốp. Nghe xong báo cáo của người trung sĩ, Va-xi-chin quay sang hỏi anh phi công:
-Anh có chứng minh thư gì không?
-Báo cáo đồng chí chính trị viên, có!-Đra-tun mở khuy áo ngoài để lộ ra tấm huân chương Ngôi Sao Đỏ trên ngực áo quân phục và rút trong túi ra tấm chứng minh thư sĩ quan cùng thẻ đảng.
“Thượng sĩ không quân Va-xi-li I-van-nô-vich Đra-tun”,-Va-xi-chin đọc thành tiếng, liếc nhìn tấm ảnh và xem kỹ tấm thẻ đảng rồi hỏi thêm:-Anh được thưởng huân chương vào dịp nào và vì sao?
-Báo cáo, huân chương Ngôi Sao Đỏ này được tặng thưởng do chiến đấu dũng cảm ở mặt trận Khan-khin Gôn theo Sắc lệnh ngày mười lăm tháng Mười năm bốn mươi,-Đra-tun nghiêm trang trả lời.
-Anh bị bắn rơi ở đâu?
-Phía bắc hồ Đen. Theo lệnh của trung đoàn trưởng tôi đã bay để đánh lạc hướng bọn máy bay Đức. Chúng tôi đã oanh tạc vào đội hình tăng bị bắn phá ở hướng Pli-út-xa… Chúng tôi đã yểm trợ bộ binh và pháo binh. Tôi đã đếm được mười tám đống lửa dọc đường cái lớn!…
-Và họ đã ngăn chặn được?-Trong ánh mắt Va-xi-chin lộ rõ vẻ lo lắng và hi vọng.-Các phi công ở trên cao đã trông rõ xe tăng bị ngăn chặn?
-Mệnh lệnh là phải ngăn chặn bằng bất cứ giá nào. Tôi tin rằng bọn Đức không thể tiến lên được.-Rồi anh nói thêm:-Sông Pli-út-xa chỉ là trận địa tiền tiêu của tuyến hai phòng ngự chiều sâu. Không thể vượt qua nó bằng tấm lá chắn xe tăng được!
-Chúng tôi cũng hi vọng rằng chúng nó không chọc sâu hơn được,-Va-xi-chin nói một cách tin tưởng và trả lại chứng minh thư cho Đra-tun. Suy nghĩ một lát, anh nói thêm:-Chúng tôi không có máy bay, nhưng lại có xe tải. Vậy nếu không chê thì đồng chí thượng úy, xin mời.
-Xin phép đề nghị được không?-Đra-tun nói, vẻ kiên quyết.
-Tôi sẵn sàng nghe đây.
-Đồng chí chính trị viên tiểu đoàn, tôi là sĩ quan chiến đấu… Xin phép đồng chí cho tôi được tham gia chiến đấu như một người lính thường. Tôi không có ý định được làm người chỉ huy.
-Cứ yên tâm, đồng chí thượng úy ạ! Tôi sẽ không cử đồng chí làm chỉ huy như đồng chí đã định khước từ, mà sẽ cử phụ trách đoàn xe chở đạn. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai là điều quan trọng, đồng chí đã vượt qua vòng vây an toàn, lành lặn và phải sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, đồng chí còn hỏi gì nữa không?
-Không, thưa đồng chí chính trị viên tiểu đoàn!-Trong tiếng trả lời của Đra-tun vang lên vẻ hài lòng.-Xin phép được thi hành.
-Thi hành đi!
Đra-tun quay đi và Pết-ca cũng vội bước theo anh.
Chính trị viên quay sang nhóm của Mi-cla-sốp. Anh nghiêm khắc nhìn từng chiến sĩ, ánh mắt như xoi mói vào những áo quân phục bị nhàu nát và những chiếc quần xộc xệch, ống cao ống thấp. Mi-cla-sốp đứng “nghiêm như trời trồng” cảm thấy mặt bóng bừng. Đúng là vẻ bên ngoài của nhóm anh không đúng điều lệnh gì cả.
-Bỏ chạy lâu chưa?
-Chúng tôi không bỏ chạy,-A-lếch-xan-đrin đáp, nhìn thẳng vào mắt Va-xi-chin với vẻ tức giận.
-Tôi không hỏi anh. Tôi hỏi trung sĩ. Tên họ anh là gì?
-Mi-cla-sốp, I-go Mi-cla-sốp.-I-go đáp và thấy hối hận về thái độ do dự của chính mình… Trung sĩ Mi-cla-sốp.-Chúng tôi rút ra khỏi trận địa chứ không phải là bỏ chạy. Đây là tất cả những anh em còn lại của đại đội phòng không… Chúng tôi đã phải đánh trả bọn xe tăng ở đường lớn, thưa đồng chí chính trị viên tiểu đoàn. Chúng tôi đã chiến đấu trực diện với chúng!…
-Thế ra là…-chính các anh đã chiến đấu như vậy đấy!-Nét mặt Va-xi-chin liền thay đổi-Vẻ giận dữ đã chuyển thành kính trọng và khâm phục-anh bước đến ôm lấy Mi-cla-sốp rồi A-lếch-xan-đrin và Ta-ghi-xla-ép…-Đúng là bằng cả một đại đội! Mọi người đã nghe và tôi đã thấy được từ xa… Nhưng chúng tôi không có cách nào chi viện được!
-Trong kính quan trắc tôi trông rõ bọn máy bay phóng pháo gầm rú bay quanh các đồng chí,-Mi-cla-sốp đáp và anh bỗng đổi giọng, nói:
-Xin phép cho tôi báo cáo, được chứ ạ?
-Hãy báo cáo đi!
-Tối hôm qua, hay chính xác hơn, là sáng sớm hôm nay… Chúng tôi đã bắt cóc được chiếc xe tham mưu ở trên đường Xtơ-ru-ga Đỏ. Cả ba tên đều chết… Chiếc xe đã bị đốt cháy. Còn đây là cặp tài liệu của chúng! Còn tên trung tá Đức chúng tôi cũng không giữ nổi. Bây giờ thì hắn đang làm mồi cho cho lũ ếch nhái ở dưới hồ,
-Có phải vì vậy nên bọn Đức đã dùng chó đi lùng bắt các anh không?
-Đúng là đi lùng bắt chúng tôi,-Mi-cla-sốp đưa chiếc cặp căng phồng đầy tài liệu cho chính trị viên.-Đề nghị đồng chí nhận hộ, xin tha lỗi cho nếu có tài liệu nào bị ướt. Quả thật chúng tôi không muốn phải lội xuống hồ làm gì.
Chúng tôi sẽ chuyển về ban tham mưu. Ở đấy họ sẽ phân tích xem đây là loại tài liệu gì.-Va-xi-chin cầm lấy chiếc cặp và đặt lên chiếc áo bạt trải sẵn trên cỏ.
Gri-gô-ri Cun-ga lách qua những người đang tò mò đứng nghe, bước đến gần. Bộ quần áo bảo hộ của anh bê bết dầu mỡ xe, chiếc mũ sắt chụp xuống gần cặp lông mày, trên mặt vẫn còn vương mấy vết dầu ma-dút. Anh lính tăng này có lẽ vừa sửa chữa xong động cơ hỏng hóc và chẳng kịp rửa tay liền chạy tới đấy ngó qua mấy anh chàng lính mới. Từ xa anh đã nhận ra một khuôn mặt quen quen. Nhìn kỹ, Cun-ga liền kêu to:
-I-go!… Chả lẽ lại là cậu ư?
Cun-ga dang tay ôm chầm lấy vai anh bạn trung sĩ, ghì chặt lấy và xòe rộng đôi bàn tay vỗ đồn độp vào lưng:
-Ai có thể nghĩ được là… hả?-Thật là không thể tin được!…
-Gri-sa!… đúng là như mơ ấy!…
Cun-ga liền xoay Mi-cla-sốp quay sang phía chỉ huy của mình không giấu nổi vẻ vui mừng giới thiệu:
-Báo cáo chính trị viên, đồng chí hãy làm quen đi! Đây là võ sĩ I-go Mi-cla-sốp, kiện tướng thể thao nhà vô địch quyền Anh thành phố Lê-nin-grát đấy.
-Cậu chậm mất rồi, Gri-gô-ri ạ,-Va-xi-chin vui vẻ đáp.-Chúng tôi đã nhận ra là võ sĩ Mi-cla-sốp từ lâu… Có lẽ cậu nghĩ rằng nếu là chính trị viên thì sẽ không bao giờ xem thi đấu cả phải không? Cậu nhầm rồi đấy! Chúng ta đang ở phía sau quân địch và ở đây kiện tướng thể thao Mi-cla-sốp trước hết phải là trung sĩ bộ đội chiến đấu đã. Có đúng thế không trung sĩ?
-Đúng đấy, đồng chí chỉ huy?
Các chiến sĩ của đội Va-xi-chin vẫn chăm chú ngắm nhìn Mi-cla-sốp. Còn sao nữa-nhà võ sĩ nổi tiếng đứng ngay trước mặt họ…! Va-xi-chin cử Mi-cla-sốp và các bạn anh vào đội quân báo của chuẩn úy Xê-men Sa-pi-cốp. Hài lòng với sự ủng bổ sung mới này, Xê-men phấn khởi mời ba chiến sĩ dũng cảm này về đội. Nhưng Cun-ga nhất định không chịu rời Mi-cla-sốp và sau khi thuyết phục được chỉ huy đồng ý, anh kéo Mi-cla-sốp về xe tăng của mình.
 
Back
Top