Đứng vững đến cùng!

2.
Ngày hôm nay thật khó chịu và bực bội. Sau khi các bác sĩ quyết định cho thượng sĩ Cun-ga trở lại đơn vị chiến đấu thế mà anh còn phải chạy đi chạy lại vào hết phòng này sang phòng khác để làm các thủ tục giấy tờ.
Cun-ga khao khát được ra mặt trận. Vết thương của anh đã lành và bất cứ ở đâu anh cũng có cảm giác là mọi ánh mắt đều nhìn vào anh như muốn hỏi: trông con người khoẻ mạnh thế kia mà lại quanh quẩn ở hậu phương. Rồi còn việc riêng tư nữa, cái công việc như người ta thường nói là “mặt trận trái tim” cũng chẳng ra sao cả đến nỗi anh không muốn nghĩ đến nó nữa. Đã hai lần, Ga-li-a Min-ga-se-va gợi ý với người lính tăng nhát gan này rằng nếu không ra phòng giá thú và tay cô chưa có nhẫn cưới thì đừng động đến cô. Nhưng ai lại có thể nói đến chuyện cưới xin vào lúc mặt trận đang tiến dần đến vùng Vôn-ga. Cun-ga chưa hề nghĩ đến chuyện này và cảm thấy xấu hổ khi anh phải sa vào vòng gia đình luẩn quẩn dẫu biết rằng, sau chiến tranh anh sẽ khó sống được nếu không có Ga-li-a. Do đó cho nên không có một sức mạnh nào ở cái thành phố hậu phương vùng U-ran này có thể giữ anh lại được ngoài trung tá Xê-rô-kin, người có quyền làm tất cả để Cun-ga trở lại với những chiếc xe bọc thép. Thật ra họ cũng đã đề cập vấn đề này tới hai lần lúc chỉ có hai người ở khách sạn. Nhưng trung tá không chịu và anh luôn vung cánh tay phải còn lại để chứng minh cho mình. Cun-ga mặc dầu phải chấp nhận nhưng vẫn cứ khăng khăng trình bày ý kiến riêng.
-Tôi không thể ở mãi đây được, chỉ có thế thôi. Ước vọng trở lại mặt trận đang thiêu đốt lòng tôi, đồng chí tiểu đoàn trưởng ạ… Đồng chí đừng giữ tôi lại đây, không nên như vậy! Rồi sau này, khi chiến tranh kết thúc tôi làm sao có đủ can đảm để nhìn thẳng vào mặt bạnbè, đồng chí được?
Giờ đây thì tất cả mọi khó khăn cản trở đã ở phía sau. Chỉ còn lại một thủ tục là đến nhà máy, làm phiếu nhận xét và đưa trình quyết định.
Nhưng ở văn phòng nhà máy người ta giữ Cun-ga lại:
-Mời anh tới phân xưởng ngay.
-Tôi còn việc gì ở đấy nữa? Hôm qua tôi đã trình giấy tờ và lấy nhận xét rồi.-Cun-ga định gắt nhưng kịp kìm lại.-Không thể giữ tôi lại được đâu!
Nhưng anh cũng tới phân xưởng lắp ráp, nơi có những đường dây chuyền chính, với những khung cửa khổng lồ, nơi hoàn chỉnh toàn bộ quá trình lắp ráp cho xe xuất xưởng để tới nơi tập kết. Húng hắng ho anh đi lại phân xưởng trong tiếng ồn ào quen thuộc. Phân xưởng trưởng là một bác công nhân già, tóc điểm bạc đang đứng hút thuốc ở khung cửa lớn. Cạnh bác ta là Ma-ri-na, bí thư đoàn thanh niên cộng sản nhà máy và hai thợ cả khác, những người khá quen thuộc với anh và cũng là những người sản xuất có uy tín.
Hình như tất cả họ đều đang chờ Cun-ga thì phải. Khi vừa thấy anh đến, họ bỗng sôi nổi hẳn lên, quay sang nói thầm gì với nhau. “Có chuyện gì thế nhỉ?-Cun-ga tự hỏi.-Họ muốn tổ chức tiễn đưa hay sao?”.-Anh kín đáo đưa mắt tìm Ga-li-a Min-ga-se-va-nhất định cô ta cũng có mặt đâu đây,-nhưng anh không thấy đâu cả. Nhất định Ga-li-a phải biết là anh đã được trở lại đơn vị chiến đấu. Liệu cô ấy có mỉm cười với mình nữa hay không?
Anh tạt qua sân xếp đầy xe tăng mới để đến phân xưởng. Một dãy tăng dài xếp dọc theo hàng rào đã sẵn sàng xuất phát. Cun-ga đưa mắt nhìn suốt hàng xe lòng thầm mơ ước: “Giá mình được nhận một chiếc ở đây và lại cưỡi con ngựa sắt này tiến thẳng ra mặt trận thì tuyệt biết bao”.-Đã bao lần anh thầm ước ao nhưng anh cũng hiểu rằng chẳng ai có quyền quyết định như vậy được. Mỗi chiếc tăng ra xưởng đều đã ghi vào kế hoạch và đại diện các đơn vị chiến đấu đang nằm chờ sẽ nhận chúng ngay.
Bỗng từ trong xưởng xuất hiện một chiếc tăng mới, từ từ tiến thẳng về phía anh. Nó cũng giống như những chiếc đàn anh ra trước, song với con mắt sành sỏi, Cun-ga đã phát hiện ra điểm khác biệt và chằm chằm nhìn chiếc xe tăng đang lù lù tiến về phía mình. Tháp pháo nhỏ hơn, vỏ tháp dày hơn và đặc biệt là hai bên sườn có hàn thêm tấm chắn. Với lớp vỏ này thì đạn thông thường không bắn thủng được. Trên tháo pháo, thay cho dòng chữ số thấy nổi bật mấy chữ: “Kôm-xô-môn”.
Chiếc tăng tiến thẳng tới trước mặt anh. Anh định giơ nắm đấm lên đe người lái nhưng anh đã kịp dừng lại. Nhất định là cô ta rồi, không thể ai khác được. Sao lại đùa thế này, đáng trách thật. Nhưng anh bỗng mỉm cười và rảo bước tới đón chiếc xe tăng vẫn đang rú máy từ từ lại gần trước mặt anh.
Nhưng khi còn cách anh đúng hai bước nữa thì “chàng trai ba tư tấn” đó liền ngoặt sang phải, xéo nát một đường cỏ và dừng lại. Cánh cửa nắp tháp xe bật mở và, Cun-ga, đã đoán đúng, từ trong xe Ga-li-a nhô đầu lên. Cô nhoẻn miệng cười để lộ hai hàm răng trắng đều đặn. Đôi mắt đen láy dưới hàng lông mày mỏng cũng như cười với anh, long lanh tinh nghịch.
Ga-li-a giơ tay sát vành chiếc mũ da chào và báo cáo:
-Đồng chí thượng sĩ! Ban chấp hành đoàn uỷ nhiệm cho tôi thử chiếc xe này, và cô cao giọng hơn: quyết định cử tôi làm chiến sĩ lái kiêm thợ cơ khí còn đồng chí là trưởng xe!
Giọng hồi hộp và vui sướng của cô lan sang Cun-ga. Anh mỉm cười đáp:-Tôi sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ đoàn giao phó. Chúng ta sẽ kiểm tra xem cô có hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu và có biết thực hiện các mệnh lệnh hay không. Tôi sẽ sát hạch đồng chí.
-Xong ngay!
-Đấy,-cô trả lời sai rồi. Không được nói “xong ngay” như vậy, mà phải đáp là “rõ”! Thưa đồng chí chỉ huy”. Đã bao nhiêu lần tôi nhắc đồng chí điều này, thế mà vẫn quên!
-Rõ, đồng chí trưởng xe! Ga-li-a đáp lại, đôi mắt vẫn không giấu vẻ tinh nghịch, nhưng miệng đã thôi không cười đùa nữa.
Cun-ga ngồi vào vị trí chỉ huy. Anh kiểm tra hệ thống bộ đàm trong xe và hạ lệnh. Ga-li-a thực hiện các động tác theo lệnh của Cun-ga một cách khá lão luyện. Cả khối thép khổng lồ nặng nề như vậy nhưng rất ngoan ngoãn và thậm chí có vẻ nhẹ nhàng khi tiến, khi lùi, khi ngoặt phải, khi rẽ trái, rú máy đều đều phụt ra sau một vệt khói trắng và vòng hẳn một trăm tám mươi độ làm đất bắn tung toé theo hình rẻ quạt ra chung quanh.
Cun-ga ra một mệnh lệnh cuối cùng và đưa cùi tay lau mồ hôi trán. Chiếc xe quả là tốt! Và người lái cũng thật tuyệt vời. Anh cứ muốn ngồi mãi trong xe, không muốn bước ra nữa.
Nhưng khi anh vừa mở cửa xe ra thì thấy, ngoài phân xưởng trưởng, hai người thợ cả còn có nhiều nữ công nhân đứng quanh xe chờ đợi. Họ không vội vào nhà ăn như thường ngày mà lại tập họp quanh đây.
Cun-ga nhảy xuống sân, chùi chùi hai tay vào ống quần. Phân xưởng trưởng cùng bí thư đoàn Ma-ri-na tiến đến bên anh.
-Thế nào?-Phân xưởng trưởng hỏi giọng thân mật.
-Còn phải nói gì nữa! Rất tốt bác ạ!
-Vậy thì hãy nhận lấy nó, đồng chí thượng sĩ ạ!
-Sao cơ?
-Đồng chí hãy nhận lấy chiếc xe này. Và hãy ký nhận vào đây. Ông nói và đưa tờ phiếu giao xe ra.
Nhìn tờ giấy, Cun-ga biết ngay đó là phiếu giao xe mà đại diện các đơn vị đều dùng khi ký nhận xe. Anh ngạc nhiên tròn mắt nhìn phân xưởng trưởng-chả lẽ anh lại được giao chiếc xe này hay sao?
-Đồng chí thượng sĩ Gri-gô-ri Cun-ga thân mến! Đoàn thanh niên Cộng sản nhà máy quyết định làm thêm giờ, sản xuất ngoài kế hoạch chiếc xe tăng này và quyết định giao nó cho đồng chí điều khiển.-Bí thư đoàn Ma-ri-na bỗng nói, giọng trang trọng và hồi hộp.-Chúng tôi quyết định đặt tên nó là “Kôm-xô-môn”. Ban chỉ huy quân sự nhà máy quyết định chỉ định Ga-li-a Min-ga-se-va làm chiến sĩ lái kiêm thợ máy. Từ bây giờ trở đi các đồng chí là những người bạn chiến đấu bên nhau. Hãy tiêu diệt bọn xâm lược với mức cao nhất!...
Có lẽ chị đã học thuộc những lời phát biểu này từ lâu nhưng giọng vẫn ngắc ngứ, xúc động, mặt đỏ ửng, chị vọi bắt tay Cun-ga và Min-ga-se-va. Ngừng một lúc, chị bỗng nhào tới ôm hôn Ga-li-a thì thào:
-Ga-li-a, tôi ghen với cô đấy!
 
3.
Đêm yên tĩnh, ấm áp và sáng trắng. Một ngọn gió nhẹ mang theo mùi hoa đồng nội quyện với những đám khói than từ các đầu máy nặng nề thở ra, lướt theo các toa trần sừng sững những chiếc tăng mới tinh, ùa vào những cánh cửa mở rộng của các toa hành khách, từ đó, đang vang lên tiếng cười đùa, tiếng hát vui tươi, tiếng đàn gió của những người lính. Đầy trong toa lập loè ánh lửa thuốc lá.
Những đoàn tàu quân sự dài dằng dặc chạy suốt từ U-ran thẳng về hướng tây, về I-gia-ép và về đến Vôn-ga, Ca-dan. Tất nhiên, không ai trong họ biết chính xác được hướng đó chứ đừng nó gì đến ga cuối cùng phải xuống. Duy có một điều ai cũng rõ là họ đang tiến ra mặt trận, tới các đơn vị chiến đấu…
Những chiếc đầu máy có sức kéo mạnh, nặng nề toả khói, cần mẫn kéo từng đoàn tàu khi thì len lỏi theo các đường vòng cung uốn khúc, khi thì lượn theo những triền đồi thoai thoải, lúc lại vươn mình trên những cánh đồng bằng phẳng và để rồi rú còi xông thẳng vào các đường hầm tối om.
Trên toa mui trần, Cun-ga và Ga-li-a đang ngồi bên đống rơm tươi. Mùi rơm mềm thơm dễ chịu. Trời đêm oi bức. Cun-ga cởi áo quân phục ra nằm nghiêng người, tay chống đầu, cời đôi ủng nặng nề và khoan khoái vươn dài đôi chân trên mặt rơm êm dịu. Ngọn gió ngược chiều phả vào mặt, xới tung mái tóc và thổi căng chiếc áo sơ-mi. Hơi nóng của sắt thép và mùi sơn vẫn còn bốc lên từ những chiếc xe tăng, từ sàn tàu bằng sắt suốt ngày phơi mình dưới nắng chói chang. Sàn tàu lắc lư nhè nhẹ như trên chiếc tàu thuỷ đang bập bềnh lướt sóng mang họ đi tới một nơi xa xôi hạnh phúc nào đó.
Ga-li-a ngồi cạnh, ngả đầu vào cánh tay anh ôm quàng qua vai. Tim Cun-ga đập dồn dập. Anh cảm thấy những giây phút này thật hạnh phúc. Trăng thỉnh thoảng lại ló ra khỏi đám mây mỏng, chiếu rọi xuống hai bóng người đang ngồi bên nhau im lặng trên đường ra mặt trận.
Họ cứ ngồi yên bên nhau như vậy vì, trong những giây phút này, không có lời nào có thể diễn đạt được nỗi niềm tâm sự, ý nghĩ và ước mong của họ. Chính sự im lặng đó nói lên rất nhiều, họ cần yên tĩnh để tận hưởng trọn vẹn cái cảm giác ngây ngất được ở bên nhau.
Ga-li-a nghiêng mắt nhìn khuôn mặt xám nắng, hiền từ của anh.
-Em sung sướng quá… Em thật hạnh phúc!-Cô thì thào và hiểu rằng anh đang nghe cô nói,-Đêm thật yên tĩnh, đêm thật đẹp… Trông kìa, trăng cũng đang chạy theo chúng ta đấy.
-Anh cũng vậy… những giây phút này thật hiếm hoi. Lại có em bên cạnh.-Cun-ga định nói nhiều, nhưng rồi không nói được gì cả, những điều dự định cứ như bị chìm sâu vào trái tim đang đập rộn rã và anh chỉ im lặng mỉm cười, đắm đuối nhìn bóng trăng đang in hình trong đôi mắt Ga-li-a.
-Anh có biết giờ đây em đang nghĩ gì không, em đang sung sướng thế nào không…
-Anh cũng vậy…
Trăng lại lẫn vào một đám mây dày, đoàn tàu đang đi vào đoạn đường núi hẹp và bóng tối như che lấp tất cả.
 
Chương mười lăm

1.
Đã ba tháng nay Ma-ri-na sống im lặng trong căn phòng xép dưới tầng hầm, nơi chỉ đủ đặt một chiếc giường, chiếc bàn con, vài chiếc ghế và cái tủ đụng nhỏ. Căn phòng nhô một nửa lên khỏi mặt đất, trần thấp. Chị sống ở đây với tâm họ chiếu mới, mang tên Ma-ri Đê-cua.
Như về sau được biết, hộ chiếu này do người bạn cũ của Van-te chạy cho chị khi ở Gôn-đơ. Trước đây anh cũng đã từng cùng Van-te chiến đấu trong đội quân Cộng hoà ở Tây Ban Nha. Cho đến giờ Ma-ri-na cũng không thể nào tin được rằng Van-te đã chết, trong tai chị như vẫn còn vang vang tiếng nổ kinh hoàng làm rung chuyển cả bức tường xung quanh. Lúc ấy chị đang chạy thục mạng trên tầng gác thượng, luồn qua một dãy dây phơi quần áo… Cũng may cho chị là những người dân sống trong ngôi nhà nhiều tầng này hoảng sợ vì cuộc tấn công đã chạy dồn cả xuống các cầu thang nên chị đã hoà nhập vào đó.
Chạy ra tới đường phố, Ma-ri-na hớt hải vẫy chiếc tắc-xi gặp đầu tiên và nhảy bổ lên trước con mắt ngạc nhiên của người lái xe, vừa khoát tay giục chạy nhanh vừa lắp bắp nói tên một bênh viện sực nhớ ra. Bệnh viện này ở phía bên kia Brúc-xen. Dần dần Ma-ri-na đã bình tĩnh lại. Chị hiểu rằng chẳng còn mấy thời gian,-trong vòng vài ba tiếng nữa, thế nào bọn Hít-le cũng lùng sục được chị. Và có lẽ chúng đã bắt đầu từ phía ấy.
Ma-ri-na tìm được trạm điện thoại tự động gần bệnh viện, nhưng chị không làm sao gọi được số điện thoại mà Van-te đã ghi, vì trong túi không còn một đồng xu nào cả. Cần phải tìm cách nào đó. Thời gian đang phản lại chị. Chị đành phải quyết định một cách hơi mạo hiểm-tới quán cà-phê buổi tối và từ đấy gọi điện thoại tới nơi cần thiết.
Cho đến giờ Ma-ri-na vẫn còn nhớ kỹ những phút chờ đợi căng thẳng. Chị quay số tới hai lần nhưng cả hai lần từ đầu dây bên kia không có ai nhấc ống nghe lên cả. Mãi đến lần thứ ba mới có người đáp lại.
Thế là Ma-ri-na đã đến được với những người Bỉ yêu nước, bạn của Van-te. Họ che giấu chị mấy hôm chờ cho việc truy lùng tạm lắng đi, chạy lo hộ chiếu mang tên Ma-ri Đê-cua, bố trí cho chị rửa bát đĩa tại một hiệu ăn ở ngoại ô thành phố và sống trong căn phòng nhỏ này.
Và từ bấy đến nay là những chuỗi ngày đơn điệu, chán ngán, dồn dập công việc. Những người hầu bàn bê hết chồng bát đĩa này đến chồng khác, chất đống trước mặt và chị cứ việc rửa cho đến mỏi nhừ cả tay. Mãi đến khuya hay đúng hơn là đến quá nửa đêm chị mới được trở về căn phòng nửa tầng hầm này và lấy kem xoa tay cho đỡ xót rồi nằm xoài ra vì quá mệt. Cuộc sống hình như đã chấm dứt đối với chị.
Những tuần đầu tiên, mặc dầu công việc vất vả nhưng Ma-ri-na vẫn cảm thấy vui mừng. Dù sao thì chị đã thoát khỏi bọn giét-ta-pô! Nhưng rồi tháng này qua tháng khác trôi đi lặng lẽ mà vẫn không có ai đến với chị cả. Lúc đầu chị cho rằng, cần phải như vậy vì các đồng chí của chị còn phải suy nghĩ cách hành động thông minh hơn để khỏi lôi theo bọn giét-ta-pô. Nhưng càng về sau, Ma-ri-na càng lo lắng hơn: hình như họ đã quên chị! Có lẽ không ai cần đến chị nữa, hay ít ra trước mắt là như vậy.
Đã thế, tin tức từ mặt trận phía Đông mỗi ngày một đáng lo ngại hơn. Khi nghe tin bọn Đức tiến về phía Vôn-ga chị đã khóc suốt đêm… Thật kinh khủng khi nghĩ đến bọn Đức đã vào Xta-lin-grát. Rồi sẽ ra sao nữa? Từ Xta-lin-grát chỉ một với tay là tới U-ran…
Nhưng cũng may là chúng vẫn chưa chiếm được Xta-lin-grát.
Mùa thu đã đến. Một mùa thu lạnh lẽo, ảm đạm nhưng cũng đầy an ủi. Có ai ở châu Âu này lại không biết rằng, mùa thu và mùa đông… là mùa của những người Nga? Đó là trường hợp cuộc viễn chinh của Na-pô-lê-ông, là trường hợp mùa đông năm ngoái khi hàng trăm trung đoàn “bách chiến” của nước Đức vĩ đại đã bị chặn đứng ở ngoại ô Mát-xcơ-va và sau đó bị đuổi khỏi vùng này… Liệu mùa đông năm nay có thể xảy ra điều này không?
Nhưng nếu không như vậy thì sao? Lúc ấy sẽ thế nào? Ma-ri-na không muốn nghĩ đến điều này, muốn thoát ra khỏi những câu hỏi day dứt đó nhưng nó vẫn cứ bám riết lấy chị, vừa dai dẳng vừa nặng nề.
Hôm thứ bảy vừa qua là ngày lễ kỷ niệm tháng Mười-năm nay là năm chẵn-tròn một phần tư thế kỷ cuộc cách mạng vĩ đại. Suốt ngày hôm ấy Ma-ri-na quần quật trong phòng rửa bát đĩa, quanh quẩn bên chiếc bể lớn đầu nước nóng luôn tay vội vã rửa hàng chồng bát đĩa, thìa nĩa. Trong các phòng ăn chật ních binh lính và sĩ quan Đức, cùng những khách ăn sáng trọng. Từ trên đó vọng tới những tràng cười sằng sặc, những giọng nói lè nhè say rượu, những tiếng cười the thé của các cô gái và tiếng nhạc xập xình điên loạn… Còn Ma-ri-na thì vẫn phải bặm môi lại, hất thức ăn thừa vào chiếc thùng gỗ lớn, nhanh tay rửa bát đĩa.
Mãi tới quá nửa đêm chị mới về tới căn phòng nửa tầng hầm của mình và, không bật đèn, không cởi áo ngoài, nằm vật ra giường, ôm chặt chiếc gối vào lòng rồi nức lên. Chị không còn đủ sức chịu đựng, chờ đợi và hi vọng. Chị gần như đã kiệt sức. Chờ đợi gì nữa? Hi vọng vào điều gì? Chờ điều kỳ diệu nào?... Chị vò nhàu chiếc gối một cách điên dại. Chị muốn hét lên một tiếng cho nhẹ bớt nỗi đè nén, đã cố chịu đựng bấy lâu nay. Nhưng cho ai nghe? Ai sẽ an ủi chị? Chỉ có mình chị, cô đơn trống rỗng. Một sự cô đơn trống rỗng của một người con gái đang phải sống nơi đất khách quê người… Tim chị như thắt lại trước nỗi lo sợ cho ngày mai…
Sáng hôm sau, dù chưa lại sức nhưng vẫn phải dậy, đôi mắt đỏ vì thiếu ngủ và trằn trọc, chị lại thất thểu đi làm.
Ba ngày liền chị nhe kẻ mất hồn, như sống trong tâm trạng u u minh minh. Chị rầy rộc và già đi. Ngày nào cũng vậy, đài phát thang lại đưa những tin tức cuối cùng đầy lo lắng.
“… Hôm nay, hồi mười một giờ ba mươi, thi hành lệnh của quốc trưởng quân đội tuyệt vời của chúng ta đã chọc thủng tuyến phòng thủ của quân Nga, chiếm được những cứ điểm quan trọng trong thành phố và tiến dần đến sông Vôn-ga!... Ngày giải phóng Xta-lin-grát đã đến gần. Quân Nga bị chia nhỏ ra thành từng nhóm. Họ đã bị cắt đứt khỏi những nguồn tiếp tế. Từng tảng băng lớn đã bắt đầu trôi trên con sông vĩ đại này của nước Nga. Trong những ngày quyết định này Bộ tổng tư lệnh lực lượng vũ trang Đức đã ra lệnh hoàn thành việc chiếm đóng Xta-lin-grát sau khi cắt đứt nhiều khu phố còn lại khỏi tay quân Nga”.
 
2.
Một hôm vào lúc sáng sớm có tiếng gõ cửa làm Ma-ri-na tỉnh giấc. Có ai đó kiên trì và gõ cửa đều đều. Khoác vội chiếc áo ngoài, xỏ chân vào đôi dép đi trong nhà, Ma-ri-na hỏi:
-Ai đấy?
-Cô Ma-ri-na, cô có thư!
Giọng nói có vẻ quen thuộc. Vẫn không bỏ sợi xích con chằng cửa ra, Ma-ri-na chỉ hơi hé mở cánh cửa. Một cậu thanh niên lanh lợi trao cho chị chiếc phong bì và đi ngay. Ma-ri-na đã nhận ra cậu ta. Đó chính là người tháng trước đã tới trao cho chị tấm hộ chiếu và tiền của Gôn-đơ chuyển đến. Ma-ri-na mở phong bì, trong đó vẻn vẹn chỉ có một dòng chữ ngắn gọn: “Chờ gặp đúng mười giờ”.
Ma-ri-na băn khoăn nhìn mẩu giấy. Gặp ai, đi đâu? Gặp làm gì? Nét chữ lạ, chưa hề thấy bao giờ. Người này là ai? Sao lại có lời hẹn lạ lùng như vậy? Chị vò nhàu phong bì cùng mẩu giấy. Bật diêm và cũng giống như những lần chuyển xong điện, chị đốt mẩu giấy cho cháy hết mới thôi.
Tuy vậy, đúng mười giờ kém ba phút chị cũng mặc áo khoác ấm, đút khẩu súng lục vào túi và đi ra cửa. Trời hôm ấy có nắng ấm áp hơn. Chị nhìn quanh đường vẫn còn vắng vẻ nếu như không kể hai cô bé đang chơi phía bên hè phố. “Mình chỉ đợi đúng năm phút thôi”-Ma-ri-na thầm nhủ.
Từ góc phố nhô ra một chiếc xe con, thân xe dài sơn màu trắng nâu sáng khá đắt tiền. Từ trước đến nay Ma-ri-na chưa thấy loại xe này, hay đúng hơn là chưa được đi loại xe này. Nhưng sao chị bỗng cảm thấy hồi hộp: chả lẽ nó đến đón mình? Chị chậm bước lại, có ý đợi.
Chiếc xe phanh sát vỉa hè. Tiếng phanh rít lên.
Người đàn ông lạ mặt ngồi sau tay lái, vươn người mở cánh cửa trước, nói mấy tiếng Nga ngắn gọn, nhưng kiên quyết:
-Mời lên xe!
Ma-ri-na hoang mang giây lát. Một vụ khiêu khích chăng? Nhưng ngay lúc đó, như có ai thúc vào vai chị, chị chui nhanh vào xe và ngồi ngay cạnh người đàn ông, tay giữ chặt chiếc túi xách trên đùi.
Chiếc xe chồm lên và phóng nhanh trên đường phố về trung tâm Brúc-xen. Ma-ri-na liếc nhìn người đàn ông lạ mặt. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, khuôn mặt trong, thông minh, cằm hơi lẹm và có vẻ lạnh lùng, bình tĩnh. Hàng ria mép không làm cho ngưiơì trẻ hơn mà lại có vẻ già đì. Tuy vậy cách ăn vận tỏ ra là một con người sang trọng, chiếc sơ-mi trắng mới tinh, tay áo cài măng-sét, cổ thắt chiếc cra-vát nâu nhạt kẻ sọc hài hoà với bộ com-lê cũng màu nâu sáng may bằng loại vải len đắt tiền, cổ tay long lanh chiếc đồng hồ vàng Thuỵ Sĩ và ngón tay giữa cộm lên chiếc nhân vàng. Mọi thứ đó như nói lên rằng đây là con người khá giả, biết ăn diện và lịch thiệp.
Chiếc xe vẫn bon bon trên đường. Trung tâm thành phố hình như ở đya phía bên trái xe. Người lạ mặt lái xe với tốc độ vừa phải. Xem qua cũng biết ông ta không thạo đường phố Brúc-xen. Họ đã ra vùng ngoại ô, đến sát sông đào. Phía xa một chiếc tàu đang nhả khói kéo theo hai chiếc sà-lan chờ nặng hạng. Bóng tàu in hình trên mặt nước bồng bềnh, gợn sóng. Ma-ri-na biết đang đi về phía bắc thành phố, có lẽ về phía An-véc-pen.
Người đàn ông bỗng lái xe sang phía sông đào rồi cho xe dừng lại ngay cạnh bờ sông. Ma-ri-na cảnh giác, tay nắm chặt nòng súng giấu trong túi áo khoác.
-Xin lỗi,-người đàn ông nói và mắt nhìn vào chiếc kính con quan sát phía sau.-Thế nào? Chị không thấy gì ở sau chứ.
-Hình như không… Không thấy gì cả...,-Ma-ri-na khẽ thì thầm trả lời, mặc dầu chẳng hiểu ông ta định nói gì.
-Cô chờ cho một lát, tôi phải thay biển số… Người lạ mặt nói và mở cửa xe.
Người đàn ông thay số xe xong và Ma-ri-na sung sướng hiểu rằng đây là “người mình”. Nếu không phải là người mình thì việc gì phải thay đổi biển số để đánh lừa quân Đức, khi chúng đang làm chủ ở nước Bỉ này?
-Xin chuyển lời chào của “Cô-xchi-a nhảy dù”,-người đàn ông nói khi cho xe tiếp tục chạy. Đó là người đã dạy cô học thuộc các chữ số của bài hát? Còn nhớ chứ, cô còn nhớ tín hiệu số hai-tức là hai chấm và số ba là-ba gạch chứ. Cô còn nhớ caâ hát của Cô-xchi-a “Tôi đi lên bầu trời…” chứ?
Ma-ri-na mỉm cười sung sướng. Người mình thực rồi! Chỉ có ai đã được học ở trường tình báo mới biết bí danh “Cô-xchi-a nhảy dù”.
Ma-ri-na chợt nhớ lại lần đầu tiên chị bước chân vào phòng điện đài và đã từng nghĩ rằng có lẽ chẳng bao giờ chị học thuộc được những ký hiệu chấm gạch chán ngán này. Chị cũng còn nhớ sau nhiều lần thực tập không đạt lắm chị có vẻ chán nản thì phía sóng bên kia lại vang lên trong tai câu nói “xin nhận lời chào của Cô-xchi-a nhảy dù” nhé.
-Thế chữ “F” có nghĩa là gì?-Ma-ri-na chợt nhớ và hỏi lại.
-Thím Ca-chi-a!-Người đàn ông đáp ngay.
-Đúng rồi!
Ma-ri-na ngẩng đầu vui mừng nhìn người chủ chiếc xe sang trọng này. Thế là sau ba tháng cô đơn chờ đợi, thấp thỏm, hôm nay bỗng xảy ra cuộc gặp gỡ thực sự nhưng chị vẫn hồi hộp chưa tin là thật.
-Cứ gọi tôi la An-đrây, hay theo như tiếng Pháp là An-đrê, ông nói vẫn không quay sang nhìn Ma-ri-na. Tên tôi chính là An-đrây. Còn họ, thì xin lỗi, như người ta nói là, bỏ quên mất ở nhà cùng với hộ chiếu rồi.
-Còn tôi là Ma-ri-na, đây là tên chính của tôi,-chị nói và không kìm được, liền thốt lên: Ôi, đã bao lâu nay không được nói mẹ đẻ. Tôi đang được nói tiếng Nga nhưng lại không tin là như vậy… Anh biết không, thật là nặng nề. Đêm đến cứ phải đọc thầm một bài thơ Nga đã học từ thời còn ở trường phổ thông…
-Tôi cũng có tâm trạng như vậy đấy,-An-đrây thú nậhn, và dấn ga vượt chiếc xe tải chờ đàn bò lơ đãng nhìn ra thế giới xung quanh qua tấm lưới thép phía sau xe.-Đặc biệt là những lúc mất liên lạc với Trung tâm. Nhưng rồi dần dà cũng phải quen đi… Thôi chúng ta vào công việc nhé. Hôm kia, Trung tâm thông báo rằng cô được tặng thưởng Huân chương Ngôi Sao đỏ. Tôi xin chúc mừng đồng chí!...
-Anh nói gì vậy?-Ma-ri-na hỏi lại,-Chị rất muốn nghe An-đrây nhắc lại lần nữa câu nói làm chị xao xuyến và tự hào. Chị mà lại được phần thưởng chiến đấu cao quý này hay sao?
-Trung tâm thông báo cho biết, đồng chí được tặng Huân chương Ngôi Sao đỏ và đề nghị tôi chuyển lời chúc mừng nồng nhiệt của các đồng chí ấy tới chị.
-Xin cảm ơn. Tôi chưa bao giờ dám mơ tới điều này!-Ma-ri-na hơi ngượng nghịu, chị im lặng và cảm thấy khuôn mặt đỏ ửng. Thế còn Van-te? Anh ấy chả lẽ không được tặng thưởng gì hay sao?
-Đồng chí Van-te Cu-ra-cốp được tặng Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất.
-Huân chương gì?
-Huân chương Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hạng nhất. Tháng Năm vừa qua Đoàn Chủ tịch Xô-viết tối cao Liên Xô đã ra Sắc lệnh tặng thưởng loại huân chương mới này. Có hai hạng: hạng nhất và hạng hai.
-Thế Van-te còn sống?
-Xin lỗi, không!!! Đồng chí ấy được truy tặng.
Ma-ri-na cắn môi. Chị hiểu rằng nhờ có tinh thần anh dũng của Van-te mà chị còn được sống đến bây giờ… Ôi thật là một con người đáng quý! Chị bỗng nhớ tới những giây phút cuối cùng khi đang tuyền tin về Trung tâm thì ngoài hành lang thang gác vang lên tiếng súng. Mấy viên đạn bắn trúng kính cửa sổ làm vỡ những mảnh tưởng vôi bắn cả vào đầu, vào vai chị. Lúc đó Ma-ri-na vừa kịp kết thúc nội dung chính của bức điện và quyết định truyền thêm trực tiếp bằng lời báo tin Van-te đang chiến đấu bảo vệ chị. Thay cho mật hiệu TB (tạm biệt), Ma-ri-na đã đánh mật hiệu VB (vĩnh biệt).
 
Con đường nhựa trải rộng hun hút chạy về phía họ.
-Toi không thể tin được là…-Ma-ri-na khẽ nói.-lúc nào tôi cũng cứ nghĩ, anh ấy vẫn còn sống đâu đây…
-Chiến tranh là như vậy đấy,-An-đrây nói và thở dài, im lặng.
Anh cũng đã phải chịu đựng nhiều tổn thất riêng của mình. Anh đã vĩnh viễn mất đi những người bạn chiến đấu anh dũng. Anh vẫn mang trên vai mình gắnh nặng của sự mất mát không thể bù đắp được. Trong đầu óc anh không thể xoá nhoà được dòng tin kinh khủng: Ở Li-ông họ đã bị thất bại lớn… Còn anh, An-đrây Xtar-cốp, người hiện mang hộ chiếu công dân Pháp Anđrê Mô-roa thoát được nhờ một sự may rủi hoàn toàn tình cờ.
… Trong những ngày cuối tháng Tám vừa qua, trên báo chí xuất hiện một nguồn tin ngắn về cuộc đấu quyền Anh mà anh chờ đợi từ lâu. Các báo địa phương đưa tin về “Một võ sĩ quyền Anh Nga I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát đã tự nguyện chạy sang hàng ngũ nước Đức vĩ đại, hiện đang phục vụ trong tiểu đoàn lê dương thuộc quân đội Đức, đã được tặng thưởng huy chương theo như nhận xét của viên đại uý chỉ huy anh ta, “người võ sĩ này đã lập công xuất sắc trong trận chiến đấu với quân du kích Nga”.
Từ lâu người ta chờ đợi nguồn tin này. Mát-xcơ-va đã mấy lần hỏi về anh ta. Thế là cần phải đến ngay thành phố biển Bu-lông.
Nhưng các sự kiện cứ quay như chong chóng. Vừa mới bắt liên lạc được với chàng võ sĩ lừng danh thì lại được tin nhóm tình báo của anh vừa bị tan vỡ. Ngay đêm hôm sau anh nhận được tin báo từ Pa-ri. Lướt mắt qua bức điện công khai, anh giật bắn người, tỉnh ngủ hẳn: “Thím La-roa bị chết đột ngột, các con cháu về đưa tang đông đủ. Hãy đến ngay Ma-đơ-len”.
Xtar-cốp gấp bức điện lại và không tin. Anh hi vọng rằng có lẽ nó gửi cho người khách thuê phòng trước anh trong khách sạn này. Anh trả lại và đóng sầm cửa trước con mắt ngạc nhêin của nhân viên bưu điện. Nhưng trong óc lại loé lên ý nghĩ. Nhóm Li-ông là nhóm của anh. Chính anh đã mất bao công sức thành lập nhóm này. Về sau, theo chỉ thị của Trung tâm, anh bàn giao lại cho đồng chí khác và lên Pa-ri sống. Thế mà, bỗng nhiên bị thất bại!... Toàn văn bức điện phải hiểu theo nghĩa sau đây “Thím La-roa”-tức hiệu thính viên, “chết đột ngột”-đã không chịu để bắt sống và đã tự sát… “Các con cháu”-toàn bộ nhóm Li-ông, “đã về đưa tang”-đã bị vây bắt… Chữ ký “Ma-đơ-len” mật hiệu quy ước báo động khẩn cấp có nghĩa là, “hãy trốn đi anh đang bị truy lùng”.
Xtar-cốp đã đến Li-ông hai tuần trước khi nhóm này bị lộ. Anh đã ở đây mấy ngày. Trong những lúc rảnh rỗi anh tranh thủ dạo thăm các đường phố nổi tiếng vẫn còn in lại dấu vết cuộc đấu tranh anh dũng của giai cấp công nhân thành phố. Tám năm trước, ở đây đã diễn ra cuộc đình công lớn và công nhân đã xung đột với bọn cảnh binh. Giai cấp công nhân đã bị đàn áp nhưng tiếng vang và vết tích của cuộc đấu tranh vẫn còn giữ mãi đến ngày nay.
Chính trong khu công nhân này là nơi hoạt động của trung tâm nhóm tình báo Li-ông. Họ đã làm được nhiều việc quan trọng… Đó là những chiến sĩ dũng cảm, dày dạn kinh nghiệm… Thế mà bỗng nhiên…
An-đrray Xtar-cốp còn nhớ như in hai chiếc lều bạt lụp xụp bẩn thỉu tjư nhiên xuất hiện ngay giữa đường phố, trên miệng giếng cống gần ngay ngôi nhà ba tầng, nơi đặt điện đài của nhóm. Đây là loại lều bạt thông thường của công nhân nạo vét các giếng cống hoặc sửa chữa đường điện thoại trong thành phố. Chả có ai trong nhóm chú ý đến chúng cả. Chỉ có hiệu thính viên Pi-e nhún vai khó hiểu, càu nhàu: “Họ sửa chữa gì mà lâu vậy?”. Nhưng thật ra trong hai chiếc lều bẩn thỉu đó bọn giét-ta-pô đã đặt máy định vị tìm sóng vô tuyến, phục kích hiệu thính viên. Nhưng chúng không bắt ngay mà cứ từ từ, sự từ từ thận trọng của người Đức, chờ đợi, theo dõi bám sát và phát hiện được những người hay lui tới để cất một mẻ lưới tóm gọn cả nhóm.
 
Ngay ngày hôm sau, An-đrây đi Pa-ri. Anh được đón ngay ở sân ga, nhận tiền và giấy hộ chiếu khác, rồi tiếp tục đáp tàu lên biên giới và hai ngày sau đã ở trong khu vực an toàn. Anh đã sang Thuỵ Sĩ. Xtar-cốp sống ở đây gần hai tháng, lúc đầu ở Lô-dan về sau chuyển tới Giơ-ne-vơ. Từ Giơ-ne-vơ anh được lệnh sang Béc-lin để gặp nhóm Béc-lin và tiếp đấy sang Tiệp Khắc. Tại đây anh sống ở Pra-ha, nơi anh đã từng ở lâu trước chiến tranh và có mối liên hệ chặt chẽ với những nhóm kháng chiến Tiệp, hoạt động bí mật trong lòng địch. Anh nhận một nhiệm vụ khẩn cấp nhưng cũng khá mạo hiểm. Mang điện đài xách tay của các đồng chí Tiệp để sang Bỉ giao cho Ma-ri-na.
Bề ngoài Pra-ha hầu như không thay đổi. Nhà ga trung tâm thấp và khang trang ẩn mình trong những vòm cây xanh. Nó hoàn toàn không giống các nhà ga khác ở các nước châu Âu, là những khu nhà lớn lợp mái kính nhưng lại rất nhốn nháo và lúc nào cũng như bị phủ trong làn khói các đầu tàu. Còn ga Pra-ha đập vào mắt mọi người với vẻ đẹp riêng và sạch sẽ của nó. Tất cả như đều được lau chùi, không tìm thấy một mẩu rác, thậm chí một que diêm cháy dở… Chỉ có những lá cờ nhỏ của phát xít Đức và ảnh Hít-le dán trong các tủ kính là cái khó chịu duy nhất đập vào mắt mọi người.
Sân ga có nhiều người Đức, đặc biệt là lính. Vừa bước ra khỏi toa, Xtar-cốp nhận ra ngay trong số những người ra đón có người bạn cũ là Ia-rô-xláp Đốp-gích. Đã năm năm nay họ chưa gặp nhau và đấy cũng là những năm nặng nề đối với đất nước Tiệp. Năm 1938, sau sự kiện Muy-ních, chính phủ tư sản Tiệp Khắc đã tự nguyện nhường cho nước Đức vùng Xu-đét giàu có. Và đến tháng Ba năm 1939 quân đội Hít-le đã tràn vào Tiệp Khắc, chiếm đóng nước này. Vùng Séc và Mô-ra-vi-a được tuyên bố là vùng bảo hộ của nước Đức, còn Xlô-va-ki thì thành lập chính phủ bù nhìn… Dấu vết nặng nề của những năm qua còn in rõ trên khuôn mặt vốn lúc nào cung vui tươi của Ia-rô-xláp. Hai bên thái dương tóc đã điểm bạc, những vết nhăn hằn sâu trên má. Chỉ có đôi mắt là vẫn như trước đây.
Hai người bạn không hề tỏ thái độ vồ vập, không chào hỏi nhau một lời nào. Họ chỉ lặng lẽ đưa mắt cho nhau, tỏ niềm vui được gặp lại. Trong thời đại đầy sóng gió và giông tố này, không dễ gì sống nguyên vẹn được. Đốp-gích đi ngay ra cửa ga. Anh bước đi đường hoàng và mọi thái độ của anh như chỉ cho Xtar-cốp biết rằng “Pra-ha vẫn an toàn”, rằng từ Béc-lin có lệnh “ra đón một đồng chí" và anh, Ia-rô-xláp sẵn lòng làm việc này. Cứ như vậy, họ ra quảng trưởng nhà ga. Tại đây Ia-rô-xláp kín đáo ra hiệu và Xtar-cốp hiểu rằng: “Tôi đi trước, anh cứ theo tôi đúng cự ly như thế này”. Đi một lúc hai người lại cùng lên một toa tàu điện nhưng khác cửa, đến bến đỗ ở quảng trường Xta-rô-mét-nôi. Hôm nay trời không đẹp, có mưa nhỏ. Đến quảng trường nhà thờ Tun-xki, Xtar-cốp chậm bước lại, đưa mắt nhìn bức tượng đồng của Jan-gút đang phơi mình trong mưa. Người anh hùng nước Tiệp này đứng đầu trần dưới trời mưa sụt sùi, những dòng nước mưa lả tả, lăn trên mắt ông, tựa như những giọt nước mắt. Họ cứ tiếp tục đi cách quãng xa như vậy đến một ngôi nhà cũ kỹ ẩn mình trong hàng cây xanh. Và mãi tới khi vào đến trong nhà, khi cánh cửa đã khép lại, hai người bạn mới biểu lộ tình cảm vui mừng của mình trước cuộc gặp gỡ này. Họ ôm chầm lấy nhau, vỗ vai nhau đôm đốp.
Trên bàn ăn đã bày sẵn một chai rượu vang ướp lạnh, bánh rán nhân thịt tựa như bánh rán Ga-lu-ca ở U-crai-na, thường ăn với nước sốt cà chua, thịt rán, rau quả… Vừa tiếp bạn, chủ nhân vừa báo cáo tình hình, về những con người cụ thể, về thành công, tổn thất và những công việc tương lai.
-Thế còn kỹ sư vô tuyến điện của chúng ta ra sao?-Xtar-cốp hỏi.
-Anh định hỏi về kỹ sư Đô-tan-trích?
-Đúng đấy, anh Ia-rô-xláp ạ.
-Anh ấy không còn nữa, hi sinh rồi… Anh còn nhớ lần gặp gỡ đầu tiên với anh ấy, chính anh đã nhận xét rằng, con người này có thể tin cậy được. Và anh ấy đã xứng đáng với lời nhận xét đó của anh.
Xtar-cốp đặt cốc vang xuống. Kỹ sư Đô-ta-trích đã hi sinh! Xtar-cốp nhớ lại buổi tối hôm anh được gặp người kỹ sư trẻ, dáng đâm đà, cao như con sếu. Hôm ấy Xtar-cốp quyết định gặp riêng anh ta để nói chuyện vì, anh được biết kỹ sư vô tuyến điện I-a Đô-tan-trích là người có tài năng và là một trong những “chuyên gia điện tử tương lai”. Mới ba chục tuổi nhưng anh đã tỏ rõ khả năng lớn của mình trong lĩnh vực này. Đô-tan-trích đã cải tiến loại máy thu phát cũ và thiết kế ra loại máy thu phát mới cỡ nhỏ. Đây là thế hệ máy hoàn toàn mới. Anh luôn luôn nghĩ đến nền quốc phòng của Tổ quốc. Thế nhưng chẳng bao lâu sau anh lai phải sửng sốt và căm giận chứng kiến sản phẩm của mình bị bọn chủ xưởng lợi dụng làm món hàng thương mại. Họ đã bán cho người Anh, người Mỹ và người Pháp với giá cao gấp mấy lần các loại máy thu phát thường. I-an Đô-tan-trích thất vọng và tức giận. Anh định thủ tiêu bản vẽ, phá huỷ loại máy sản xuất thử đầu tiên nhưng các bạn bè anh khuyên can và sau đó, giới thiệu anh với những người lãnh đạo phong trào kháng chiến bí mật của Tiệp.
Đó là câu chuyện trước đây. Hôm ấy I-an đến rất đúng giờ, mặc hợp thời trang. Khuôn mặt thông minh kiên nghị, chỉ ánh mắt mệt mỏi đã nói lên những ngày chịu đựng và cuộc đấu tranh thầm lặng của anh. Khi chia tay ra về, Đốp-gích hỏi: “Thế nào?” thì Xtar-cốp đã trả lời giọng khẳng định: “Con người này có thể tin được”.
Từ ngày ấy, anh ta thường lén mang linh kiện ở phòng thí nghiệm về lắp ráp được năm chiếc điện đài. Và cũng chính anh đã điều chỉnh, viết vắn tắt bản hướng dẫn sử dụng. Ia-rô-xláp kể lại.-Nhưng có một tên phản bội nào đó trong xưởng thí nghiệm đã báo với bọn Đức.-Bị bắt, anh vẫn im lặng trước các đòn tra tấn của bọn giét-ta-pô, không hề khai cho ai hoặc để lộ một địa điểm liên lạc nào. Lúc đầu chúng còn thuyết phục, dỗ dành, hứa thưởng tiền nhưng về sau chúng đã tra tấn anh rất dã Ma-ri-na. Nhưng anh vẫn trung thành với lí tưởng. Bọn chúng đành phải xử bắn anh vì tôi “phản bội” nước Đức.
Im lặng một lát, Đốp-gích nói tiếp:
-Máy của anh ấy vẫn hoạt động tốt. Đúng ra là hai cái trong số này đã bị loại ra ngoài vòng chiến đấu. Bọn Đức dò ra sóng và bố trí bao vây. Đồng chí hiệu thính viên bị thương đã kịp thời tự huỷ một chiếc. Còn chiếc khác bị bọn Đức bắt được tại chỗ trong cuộc bao vây bất ngờ ngôi nhà gỗ nhỏ ở Ta-trác-ha. Hai chiếc khác vẫn đang làm việc để trả thù cho người kỹ sư đã hy sinh. Còn một cái dự trữ ở chỗ chúng tôi, đã được lệnh giao cho anh. Chúng ta cùng chung kẻ thù và chúng tôi, những người Tiệp, coi đây là nghĩa vụ đối với các đồng chí…
Ngày hôm sau Xtar-cốp lại lên đường trở về Brúc-xen cùng với chiếc máy thu phát xách tay.
Tại thành phố cảng của nước Bỉ này, ông đã tìm được căn phòng hai buồng nhỏ trong ngồi nhà năm tầng cách Sen-đơ không xa lắm. Căn phòng ở góc nhà. Cửa sổ buồng thứ nhất có một ban công đã đặt sẵn chiếc thùng gỗ dài trồng cây vạn niên thanh khá rậm, tạo cho ban công một bức mành mành xanh tự nhiên. Chẳng khó khăn gì lắm, Xtar-cốp đã lắp được dây ăng-ten bí mật mà không sợ bị nghi ngờ vì được nguỵ trạng rất tốt.
Chỉ có một việc cuối cùng nữa là chuyển hiệu thính viên tới đây. Béc-lin đã thông báo địa chỉ Ma-ri-na Rúp-xô-va đang mang hộ chiếu Ma-ri Đê-cua và cho biết rằng, chị cũng suýt bị rơi vào móng vuốt bọn giét-ta-pô… Phải hết sức cẩn thận và cảnh giác: Béc-lin nhắc là không được khinh suất, phải hết sức cảnh giác… Bọn giét-ta-pô và cơ quan an ninh đang lùng sục theo vết của họ. Cuộc vây bắt ở Béc-lin hầu như đã làm tan vỡ hoàn toàn tổ chiến đấu của anh. Công việc, dầu sao cũng không thể ngừng được, chiến tranh đã mang một tính chất khác, nó đòi hỏi phải phát hiện cho được ý đồ các kế hoạch chiến lược của kẻ thù, khả năng và tiềm lực kinh tế, công nghiệp cũng như quân sự của chúng…
Ngay trước hôm đi Brúc-xen, tình cờ Xtar-cốp chú ý tới tấm áp-phích lớn cổ động cho trận đấu quyền Anh sắp tới. Qua đó ông được biết, tối thứ bảy 21 tháng Một, có cuộc đấu quyền Anh giữa Ca-min Đi-um-ba, võ sĩ nghiệp dư vô địch nước Pháp và I-go Mi-cla-sốp, vô địch Lê-nin-grát võ sĩ quyền Anh nghiệp dư Nga.
Xtar-cốp rất vui khi đọc tên họ người võ sĩ Nga. Chỉ vừa mới bắt liên lạc được với anh ta hồi tháng Tám, thế mà giờ đây đã được nhóm Béc-lin đưa vào “đội ngũ”… Anh hiểu rằng, sự xuất hiện của Mi-cla-sốp tại đây không phải là ngẫu nhiên. Có lẽ anh ta sẽ bắt liên lạc với Ma-ri-na. Ít ngày sau, ông đã lo cho Ma-ri-na tấm hộ chiếu mới mang tên một phụ nữ đức Ma-ri Lui-da Tô-ten-béc-gờ.
 
Chương mười sáu

1.
Trước khi ngừng tập hẳn, Mi-cla-sốp đấm mạnh mấy quả vào túi bạt đựng đầy cát và mùn cưa. Đấm xong, khi chiếc túi nặng nề còn chao đảo, anh lùi lại và nhảy sang trái, giơ tay đấm thẳng một quả mạnh vào chiếc túi đang đà lao tới. Quả đấm rất đúng động tác và chính xác đến nõi chiếc túi dừng hẳn lại thật đột ngột và bất ngờ.
-Gút! Kơ-ra-sô! (Tiếng Đức và Nga trong nguyên bản)-gã huấn luyện viên người Đức Các Bu-xông thốt lên khen bằng tiếng Đức lẫn tiếng Nga-Nhưng còn ít lắm, làm lại lần nữa!
Mi-cla-sốp im lặng tập lại. Đẩy cho chiếc túi đung đưa mạnh, anh lùi lại đúng động tác nhưng khi lao lên đấm thì không dùng tay phải mà là tay trái. Quả đấm cũng mạnh và chính xác như tay phải. Túi cát nặng nề đó dừng hẳn lại.
-Ô, de-rơ gút!-Ô-trin kơ-ra-sô (Rất tốt, rất tuyệt).
Các Bu-xông hiểu giá trị của động tác chiến thuật này sẽ có hiệu quả thế nào nếu nó được áp dụng khi thi đấu. Trong đôi mắt lạnh lùng của ông ta ẩn sâu dưới cặp lông mày rậm, ánh lên vẻ ấm áp hiếm thấy. Huấn luyện viên có mái đầu bạc này, người đã hàng chục năm làm cái nghề dạy dỗ đấm đá này hiểu rất rõ giá trị của tài năng mới.
-Rất tốt,-ông lặp lại tiếng Nga ngọng và quay ngược chiều đồng hồ cát-Một phút nữa!
… Mi-cla-sốp được Bu-xông chú ý khi anh về Béc-lin, cách đây mấy tháng.
Mi-cla-sốp ở Béc-lin,-“thủ đô của Đức quốc trưởng”-có ba tuần. Đầu tháng Mười từ Béc-lin có một lệnh ngắn gửi tới ban tham mưu tiểu đoàn: “Cử binh nhì Mi-cla-sốp về Béc-lin”. Các cán bộ ban tham mưu đưa mắt nhìn nhau khó hiểu. Những lệnh gọi kiểu này thường rất hiếm hoi và chỉ gọi các sĩ quan cấp cao đến cái phòng “Nước Nga” vừa mới thành lập, nhưng lần này lại gọi một tay lính quèn mà chiến công của nó chỉ là ở chỗ được thưởng huy chương và có một người thân thích làm việc ở cơ quan trung ương; có lẽ bàn tay ông ta đã với tới đây để kéo tay lính Nga này về Béc-lin. Dù hắn là ai thì mệnh lệnh vẫn là mệnh lệnh-phải thi hành nó. Lợi dụng dịp hiếm có này, đại uý Béc-ke tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn lê dương đã tranh thủ đi phép đột xuất về thủ đô với lí do lính của tiểu đoàn lê dương không được đi một mình nếu không có sĩ quan đi kèm.
Đại uý Béc-ke đã thân chính dẫn Mi-cla-sốp đi các phòng để làm thủ tục giấy tờ và người cuối cùng bắt tay từ biệt với lời chúc thượng lộ bình an về Béc-lin là một viên hạ sĩ già trong bộ quân phục đen có bàn tay gầy và khô đét.
Đoàn tàu bị dừng lại ngay trước cửa ngõ Béc-lin. Phải chờ mất hai tiếng. Sốt ruột, Béc-ke đã định xuống tàu đi ô-tô buýt vào thành phố nhưng ngay lúc ấy, đoàn tàu kéo còi và lại lên đường. Họ đến ga Béc-lin vào lúc nửa đêm. Sân ga chính với mái vòm và đường ke trần làm Mi-cla-sốp nhớ tới ga Ki-ép ở Mát-xcơ-va. Tuy nhiên nếu ngắm kỹ thì nó không hề giống nhau tí nào. Ở đây chế độ phòng thủ ban đêm rất nghiêm ngặt. Các ngọn đèn hầu như không hề có tác dụng gì với chung quanh.
-Đi thôi, đừng dừng lại,-Béc-lin nhắc.
Mi-cla-sốp đành xách chiếc va-li to nặng của viên đại uý và rảo bước theo gã. Hành khách vội vã đi ra cửa ga, cuốn theo cả Béc-lin và Mi-cla-sốp. Chỉ nghe những giọng nói đùng đục và tiếng gót ủng nện trên đường xi măng. Rất nhiều quân nhân. Bọn lính SS đứng kiểm tra giấy tờ ở cổng ga, súng tiểu liên đeo ngang trước ngực.
Viên tiểu đoàn trưởng lê dương của Mi-cla-sốp nhiều bạn bè và người thân ở Béc-lin. Hèn nào hắn ta được bố trí ở một nơi béo bở, xa mặt trận phía Đông. Béc-ke vừa ra khỏi ga liền đến ngay trạm điện thoại tự động. Một chiếc xe chữa cháy chạy vút qua sân ga, đèn tín hiệu lập loè. Bên phải trạm điện thoại tự động thấy nhô lên một khối nhà đồ sợ, không hiểu là nhà dân hay là nhà máy. Gã gọi điện báo cho nhà biết là đang ở Béc-lin và hẹn chờ đón gã cho dù đã quá nửa đêm. Gã muốn khoe với Mi-cla-sốp đường tàu điện ngầm Béc-lin để so sánh với các đường ở Mát-xcơ-va. Nhưng làm sao so sánh được, ở đây, chỉ là những nhà ga đơn điệu, cái nào cũng như cái nào.
Lên khỏi tàu điện ngầm họ lại đi ô-tô buýt ra gần vùng ngoại vi thành phố. Tối hôm đó, Mi-cla-sốp được gã mời về nhà giới thiệu với mọi người nhưng anh cũng chỉ được đón tiếp bằng những cái nhìn nhạt nhẽo và trịnh thượng.
Sáng hôm sau anh được chuyển đến khách sạn nhỏ và tồi tàn. Rồi anh lại được đưa đến phố Vích-ti-ri-a-sơ, nơi đóng trụ sở của “Uỷ ban nước Nga” do cựu trung tướng Nga Vla-xốp làm chủ tịch. Mi-cla-sốp vẫn còn nhớ rõ, ở đây họ đón tiếp anh không được vồn vã cho lắm. Ồ! Làm gì một tay võ sĩ ấy! Chỉ có trưởng ban bảo vệ của Vla-xốp, một gã sĩ quan Nga béo phệ, mắt gườm gườm mặc bộ quân phục sĩ quan SS là mới anh đến phòng riêng của gã, nói chuyện với anh khá lâu, đặc biệt là hỏi dò về những thành tích thể thao, rồi tuyên bố:
-Tôi sẽ lấy anh vào đại đội bảo vệ trung tướng Vla-xốp. Một vinh dự lớn dành cho anh đấy, hãy vui lên và nhận lời đi! Sẽ được sống ở Béc-lin và lương khá hậu!
Mi-cla-sốp không biết là nên trả lời thế nào-đồng ý hay khước từ. Nhưng ngay sau đấy hình như có sự can thiệp nào đó của bên tham mưu và người ta thông báo cho anh biết hãy đến ngay Đại lộ Phơ-rin-đrích Mới. Khi nghe nhắc đến tên đại lộ này, mặt viên sĩ quan chỉ huy đội bảo vệ Vla-xốp dài ra lộ vẻ hết sức ngạc nhiên.
 
Ngay sau đấy, Vla-xốp được biết, trên đại lộ này, tại nhà số hai mươi hai là trụ sở phòng nước Nga của Cục phản gián Đức. Tại đây, Mi-cla-sốp được hai viên trung tá tiếp, nói chuyện khá lâu và quả thật khi nói chuyện với chúng, Mi-cla-sốp không thể phân biệt được chúng là người Đức thật sự đã từng sống lâu ở Nga hay là người Nga chạy sang Đức. Sau cuộc nói chuyện chẳng khác gì một cuộc hỏi cung, cả hai viên trung tá này đề nghị Mi-cla-sốp là “để phục vụ cho công tác tuyên truyền và, dĩ nhiên vì lợi ích an ninh của nước đại Đức, Mi-cla-sốp nên dùng tài năng quyền Anh của minh phục vụ trong quân đội Đức”.
-Anh phải biết rằng, dân tộc Đức là dân tộc phát triển cao nhất, một dân tộc thượng đẳng và thông minh nhất, một dân tộc biết đánh giá đúng tài năng của mọi con người, nhất là những người hoạt động thể thao. Có lẽ anh cũng biết rằng, chính ở Béc-lin đã diễn ra đại hội thế vận Ô-lem-pích cuối cùng trước chiến tranh, trong đó đích thân quốc trưởng đã đến dự.
Người Đức biết đánh giá đúng và kính trọng những nhà hoạt động thể thao hạng nặng, nhất là những nhà quyền Anh. Có lẽ anh cũng biết rằng chính nhà võ sĩ Đức vĩ đại Mác Sơ-men-lin-gơ đã đánh thắng võ sĩ Mỹ Giô Lu-i-xơn và bản thân quốc trưởng đã bắt tay chào mừng người chiến thắng. Có thể nói ở Đức không ai là không biết Sơ-men-lin-gơ.-Người ta còn nói nhiều về sự vĩ đại của quyền Anh Đức, về vinh dự dành cho Mi-cla-sốp.
Sau những lời huênh hoang đó, Mi-cla-sốp xin phép được suy nghĩ một thời gian để quyết định. Nhưng người ta nói thẳng với anh rằng, không có thời gian để suy nghĩ gì cả và bảo anh phải ký ngay biên bản đã làm sẵn từ trước, nhằm biến Mi-cla-sốp thành một kẻ đánh thuê mua vui cho người Đức.-Anh phải hiểu rằng, những trận đấu của anh không chỉ có nghĩa là những trận đọ găng thông thường, nó là một sự kiện chứng minh sự gần gũi, tình hữu nghị giữa hai dân tộc chúng ta,-một gã còn cố tâng bốc thêm sau khi đã bắt anh ký kết.
Mi-cla-sốp được thay đổi quân phục khác và phát phiếu ăn. Ngay từ những ngày đầu chiến tranh, ở Béc-lin đã thi hành nghiêm ngặt chế độ tem phiếu. Có nhiều loại phiếu ăn khác nhau đối với từng loại thực phẩm riêng biệt, mỗi thứ một mà sắc kể cả phiếu thuốc lá, giải khát. Không có phiếu này thì không thể bước vào bất cứ cửa hàng ăn nào cả. Vào hiệu ăn cũng vậy, không có phiếu ăn thì chỉ có thể gọi được hai thứ duy nhất là xúp bắp cải với bia.
Mi-cla-sốp được bố trí ở tại một căn phòng vừa phải, sát ngay với phòng tập thể thao. Phòng có hai giường. Cùng sống với anh ở đây thỉnh thoảng còn có Các Bu-xông, vừa là huấn luyện viên, vừa là chỉ huy và cũng có thể nói, vừa là ông chủ thật sự của anh. Không có con người Đức này bên cạnh thì Mi-cla-sốp không thể đi đâu một bước ra khỏi khu vực nhà ở của anh. Tật xấu của ông ta là chưa nằm xuống đã kéo gỗ, vang phòng, làm cho Mi-cla-sốp lúc đầu không thể nào ngủ được, nhưng về sau cũng quen dần.
Những ngày ở Béc-lin Mi-cla-sốp rất sốt ruột mong được bắt liên lạc với nhóm tình báo của ta. Lúc đầu anh tưởng rằng, việc anh được gọi đến Béc-lin là do bà dì vợ của tên phản bội bảo đảm, đỡ đầu, nhưng sau khi gặp hai viên trung tá ở Cục VI Tổng cục an ninh đế chế thì anh đã mang máng thấy rằng, do những người khác, có thế lực và ảnh hưởng hơn đỡ đầu cho anh thì phải. Anh hi vọng và tin chắc là sẽ sớm được đưa vào công việc quan trọng nhưng đầy nguy hiểm đang chờ đợi trước mắt.
Nhưng công việc không như anh nghĩ. Vẫn im lặng. Mọi việc xem ra có vẻ không lạc quan thuận chiều.
 
2.
Ma-ri-na không thích quyền Anh, hơn thế nữa, cô không coi đây là một môn thể thao. Thể thao gì mà lại có thể để cho hai con người khoẻ mạnh dư thừa sức lực đấm nhau đến chết ngất trước sự cổ vũ, la ó như điên loạn của bao người khác? Chả lẽ đây cũng là một thứ văn hoá hay sao? Văn hoá gì mà để người ta đánh vỡ hàm nhau vậy? Chị cho rằng chỉ có thể gọi là thể thao với những môn thi đua như điền kinh nặng, thể dục nghệ thuật, nhảy, ném tạ, ném đĩa, ném lao, bóng rổ, bơi và thậm chí cả cái môn bóng đá điên rồ nữa, nhưng những người chơi môn này vẫn còn có thái độ văn hoá một chút là không đấm vào mõm nhau. Nhưng còn quyền Anh thì, xin lỗi!
Do vậy, Ma-ri-na không bao giờ đi xem đấu quyền Anh cả. Và mỗi khi chị biết, ai trong số bạn bè của mình, dù không chơi quyền Anh nhưng chỉ cần đến xem một cuộc đấu thôi cũng bị Ma-ri-na loại ra khỏi quan hệ bạn bè rồi. Chị khư khư giữ quan niệm rằng, một con người được coi là văn minh, lịch thiệp thì không thể đam mê cái trò đánh nhau vỡ hàm như vậy được.
Nhưng như người ta thường nói, ghét của nào trời trao của ấy. Đó là quan niệm trước đây của Ma-ri-na. Bây giờ thời thế buộc chị phải có suy nghĩ khác. Chiến tranh cũng đã ghi được dấu ấn lên con người của chị, hay ít ra đã làm thay đổi được quan niệm này của chị. Chị không thật đam mê quyền Anh lắm nhưng dầu sao cũng nhận ra được cái giá trị của nó. Một sự nhận thức mới đầy tự giác.
Và dù muốn hay không thì hôm nay, trước trận đấu mọi người đang mong đợi này, chị cũng phải có mặt ở hàng ghế thứ năm trong gian phòng thi đấu để chứng kiến nó. Từ trên vũ đài có thể nhìn thấy chị và ngược lại, chỗ này cũng có thể nhìn rõ toàn vũ đài. Chỉ còn ít phút nữa là bắt đầu trận đấu giữa võ sĩ Ca-min Đi-um-bác có biệt danh là Hổ Xám với võ sĩ Nga I-go Mi-cla-sốp người chị chưa hề gặp mặt nhưng đã rất thân thiết. Anh đã được những bức tranh cổ động ở đây tặng danh hiệu “đôi găng mạnh nhất của nước Nga, vô địch Lê-nin-grát”. Chính chị được lệnh phải tìm cách tiếp xúc với Mi-cla-sốp vì anh ta là… người mình. Anh sẽ là người liên lạc. Anh sẽ thay thế Van-te Lan-gren đã hi sinh.
Nhưng liệu anh ta có thể thay được Lan-gren không? Van-te mãi mãi sống trong ký sức chị, như một người không bao giờ chết và không ai có thể sánh được.
Ma-ri-na cúi nhìn bó hoa cẩm chướng trong tay. Một bó hoa cẩm chướng đỏ nổi bật lên trong bông trắng. Tất cả chỉ có thế, một bó hoa bình thường như mọi bó hoa khác. Khiêm tốn và lịch sự. Nhưng đó lại là một mật hiệu, một bó hoa biết nói lên những điều bí mật nhất.
-Thưa cô, cô có những bông hoa thật đẹp-một người đàn ông, đứng tuổi, ngồi bên phải lên tiếng làm quen. Cô định tặng cho người chiến thắng?
-Vâng,-Ma-ri-na đáp và hiểu rằng chị cần phải tỏ ra lịch sự vì hôm nay phụ nữ đi xem thi đấu khá nhiều.
-Cô sẽ tặng cho người chiến thắng chứ?
-Không.
-Vậy có lẽ cô sẽ tặng cho “Hổ Xám” của chúng ta chăng?
-Ông lại lầm rồi! Vậy cô sẽ tặng cho ai? Nếu đấy không phải là điều bí mật của cô?
-Cho người nào tôi thích,-Ma-ri-na đáp, vẻ bướng bỉnh.
-Ồ, cô làm cho tôi ngạc nhiên đấy! Vậy người cô thích đó có lẽ là tôi thì sao?
-Ông có phải là võ sĩ đâu?
-Ôi, hi vọng vừa loé lên lại bị tắt ngấm như một que diêm ấy,-người đàn ông thở dài, than thở vẻ lả lơi.
-Ông cứ việc đánh diêm lên, xem cho kỹ mình… Kìa, hình như bắt đầu rồi đấy…
Các võ sĩ đang bước ra vũ đài, cùng với người chăm sóc. Vang lên tiếng vỗ tay chào mừng. Ma-ri-na nhìn lên và bỗng thấy thương hại: giờ đây họ sẽ lao vào cuộc đấm đá…
Hổ Xám khẽ nhún chân đáp lại lời chào mừng của khán giả quen biết. Trông anh ta độ hai mươi lăm tuổi, thân hình cao, nở nang và từng trải, có lẽ không phải là hàng chục trận…
Hổ Xám rất tự tin. Nhưng người võ sĩ Nga cũng không đến nỗi lép vế lắm. Trông anh ta cũng được đấy chứ,-Ma-ri-na thốt lên bình phẩm,-Trông không đến nỗi thộn đâu.
-Được rồi, để xem anh ta sẽ xoay sở ra sao sau tiếng cồng vào cuộc,-một khán giả ngồi ở hàng ghế sau lên tiếng hưởng ứng lời Ma-ri-na.
-Vũ đài không phải của người Nga. Và cũng chẳng còn chỗ cho anh ta rút lui nữa.-Một người béo phị ngồi trước lên tiếng và cười hi hi.
 
Ma-ri-na ngồi im, cố giấu niềm vui có thể nói là hạnh phúc của mình do những nguồn tin hôm qua chị vừa nghe được. Những tin tức đáng phấn khởi từ mặt trận phía Đông. Tình hình đã thay đổi. Còn gì đáng vui hơn-Đêm qua chị vừa lắng nghe đài phát thanh Mát-xcơ-va và đã khóc thầm vì vui sướng. Cuối cùng rồi điều đó đã đến! Bản thông báo thật rõ ràng: “Mấy ngày gần đây, bộ đội chúng ta ở vùng ngoại ô Xta-lin-grát đã chuyển sang tấn công đánh lùi quân phát xít Đức… cuộc tấn công bắt đầu ở hai hướng: từ tây bắc và hướng nam Xta-lin-grát… Vòng đai phòng thủ của quân địch đã bị chọc thủng dài ba mươi kilômét phía tây bắc thành phố (ở phía thành phố Xê-ra-phi-nô-vích), còn ở phía nam thành phố bị chọc thủng 20 kilômét ban đầu, sau ba ngày chiến đấu anh dũng đã mở rộng tới 60-70 kilômét… Quân ta đã chiếm thành phố phụ cận Ca-lát…”.
Cả đêm chị trằn trọc không ngủ được. Chị chuyển sang sóng đài phát thanh Béc-lin. Thủ đô đế chế im lặng về thất bại này. Giọng lạnh lùng của phát thanh viên đài này chỉ nhắc lại một cách sơ lược những tin tức cuối cùng ở mặt trận phía Đông, nêu lên sự kháng cự “ngoan cố” của quân Nga và một vài trận giao chiến lẻ tẻ ở các khu vực khác nhau. Không hề nhắc đến thành phố Xta-lin-grát lần nào.
Ma-ri-na có cảm giác là trong gian phòng rộng lớn chật ních khán giả hôm nay chả có ai biết những tin tức về cuộc phản công của người Nga. Chị nhìn chằm chằm vào mặt Mi-cla-sốp như muốn báo cho anh hay vì chị nghĩ rằng, có lẽ anh cũng chưa được biết tin này. Chung quanh anh toàn là những kẻ xa lạ. Chẳng ai ủng hộ anh, chẳng ai thàm nói với anh một lời ấm áp… Báo chí thì chúc mừng anh chàng võ sĩ người Bỉ chiến thắng. Nhưng tiếng cồng sắp nổi lên rồi.
-Này, tôi cuộc một ăn năm là gã người Nga này sẽ không chịu nổi ba hiệp đâu!-Ma-ri-na nghe tiếng nói sau lưng.
-Ông cứ đi tìm những thằng ngốc mà cuộc!-Ai lại bỏ tiền ra cuộc cho kẻ thua!...
Khán giả tung hoa về phía võ sĩ Bỉ, có người chạy lên trao tận tay anh ta tựa như đã nắm chắc phần thắng rồi. Ma-ri-na cũng không kìm được nữa. Chị đứng bật dậy, chạy đến vũ đài.
-Hãy trao tận tay Hổ Xám ấy!-Chị nghe có tiếng hét với theo sau lưng.
Chị bước lên vũ đài đúng vào lúc người trọng tài tóc hoa râm bước lên, mời hai người chăm sóc của hai võ sĩ ra và đề nghị họ bốc thăm dành quyền được chọn găng.
Ma-ri-na bước đến sau Mi-cla-sốp lúc ấy đang thờ ơ tỳ lưng vào hàng dây chão to mập, và chị khẽ chạm vào vai anh, hấp tấp nói:
-Xin anh cầm họ. Tôi xin tặng anh…
Mi-cla-sốp quay người lại, sửng sốt nhìn thấy bó hoa đúng tín hiệu. Anh hơi lặng người đi trong giây lát nhưng rồi anh kịp mỉm cười ngay, cảm ơn người phụ nữ Bỉ và giơ cao bó hoa trên đầu:
-Tôi xin chào nước Bỉ!
Gian phòng bỗng rộ lên tiếng hoan hô và vỗ tay.
-Quân ta đang tấn công ở ngoại vi Xta-lin-grát! Lợi dụng giây phút đó, Ma-ri-na thì thào. Đã chọc thủng được hai nơi tại mặt trận, dài 100 kilômét. Đã chiếm lại Ca-lát!... Quân Đức ở Xta-lin-grát có thể bị bao vây.
-Cảm ơn!-Mi-cla-sốp mỉm cười và hỏi luôn bằng tiếng Đức. Bao giờ gặp nhau?
-Đúng giữa trưa mai, tại vòi phun ở trung tâm thành phố.
Ma-ri-na quay trở về chỗ ngồi. Chân chị lướt nhanh và có cảm giác như không chạm tới nền nhà nữa. Mọi người đang dồn mắt dõi theo chị. Có những cái nhìn ác cảm, nhưng cũng có những cái nhìn thiện cảm. Có tiếng đay nghiến sau lưng chị:
-Chán người Bỉ rồi hả?
Người đàn ông ngồi cạnh Ma-ri-na vừa dịch ghế cho chị vừa khẽ nói thầm:
-Cô có cảm ơn người Nga là họ đã giữ vứng đến năm thứ hai không?
Ma-ri-na chưa kịp nói với ông ta thì tiếng ồn ào lại vang lên. Chị nhìn lên vũ đài, trận đấu đã bắt đầu. Hai võ sĩ đang di chuyển giữa vũ đài, vừa nhảy vừa dứ những cú đấm thăm dò. Nếu không có những cú đấm ấy thì có thể nghĩ rằng, hai người đang nhảy với nhau điệu vũ châu Phi. Hổ Xám đấm nhiều hơn, và sau mỗi cú đấm của anh ta, khán giả lại ồ lên vỗ tay la hét:
-Mạnh vào, mạnh vào!...
-Đánh vào bụng ấy!...
 
Ma-ri-na dán mắt vào hai người và mỗi cú đấm của Hổ Xám vung lên chị có cảm giác như đánh vào chính mình. Mặt chị hơi tái đi, hai tay giữ chặt chiếc ví cỏn con. Mi-cla-sốp khéo léo và nhẹ nhàng lùi tránh những cú đòn nóng vội của người bạn Bỉ. Ma-ri-na không hiểu được rằng Mi-cla-sốp lùi tránh là những động tác chiến thuật mà thôi. Về mặt đó, đây cũng là động tác tự vệ, thăm dò. Những động tác của anh đã làm cho đối thủ đấm vào không khí. Và cũng chính những động tác này đã tạo cho anh tìm được thế lợi để đánh trả lại.
Hổ Xám vẫn hăng hăng say tấn công. Anh ta luôn tiến lên và muốn dồn Mi-cla-sốp vào góc vũ đài. Chỉ cần dồn được đối thủ vào góc hẹp là có thể làm hăn ta mất khả năng hành động. Và lý tưởng hơn nữa là đưa được vào hàng dây rồi cứ thế đấm liên tục.
Tim Ma-ri-na thắt lại. Mi-cla-sốp đang bị dồn vào góc hẹp. Anh chỉ còn cách hàng dây chắn ở góc có một bước chân! Chị dồn mắt vào anh. Nhưng chị ngạc nhiên hơn, suýt kêu lên vì vui sướng. Người võ sĩ Nga, làm một động tác giả lùi nhanh lại sau, sát hàng dây. Đối thủ của anh lao lên để chuẩn bị giáng những đòn mạnh trong thế đánh gần. Nhưng sự việc diễn ra không như ý muốn! Mi-cla-sốp hơi khom người xuống và nhẹ nhàng tránh sang phải. Hổ Xám đang lao vào bị mất đà, không kịp dừng lại suýt ngã chúi vào góc hẹp, nơi Mi-cla-sốp vừa bị dồn vào trước đây một giây.
Trong phòng rộ lên tiếng cười, tiếng vỗ tay tán thưởng. Ma-ri-na cũng vỗ tay hoan hô Mi-cla-sốp. Anh đã tỏ ra không phải là chiến sĩ tồi, như vậy anh có thể tự làm chủ được mình.
Hai đấu thủ lại quần nhau giữa vũ đài. Hổ Xám vẫn tỏ ra nôn nóng muốn làm chủ tình hình, và trong một phút tấn công gần, anh đã để hở mặt.
“I-go, đánh đi, đánh đi anh!”-Ma-ri-na muốn hét lên. Chị như chồm hẳn người lên trước. Mi-cla-sốp như cảm thấy được ý chị, anh lanh lẹn dấn một bước và đấm thẳng một quả rất mạnh. Nhưng-không trúng. Võ sĩ Bỉ không tránh lùi lại sau mà hơi né sang phải một bước dài, cúi người trước cú đấm mạnh của Mi-cla-sốp rồi tiện tay đang ở tư thế trụ chân phải anh ta đánh trả một cú đấm mạnh. Gian phòng rộ lên tiếng la hét.
I-go hơi cúi, hai tay ôm lấy bụng, gập người xuống gần sát sàn đấu phủ bạt. Ma-ri-na trông rất rõ mặt anh tái đi và những giọt mồ hôi vã ra trên trán rơi lả tả xuống sàn.
-Một!-Trọng bắt đầu đếm.
Hổ Xám không vội vàng đi về góc của mình. Anh ta tin ở cú đấm này. Ít võ sĩ nào có thể tránh được cú đấm điêu luyện, sắc sảo và nặng cân này.
-Hai!... Bốn!... Sáu!-trọng tài vẫn đếm, giọng đều đều, bình thản.
Khi đếm được đến bảy thì Mi-cla-sốp đứng dậy và giơ tay ở tư thế sẵn sàng đánh tiếp.
-Đánh!
Sau tiếng hô của trọng tài, Hổ Xám quay vụt lại và sán đến gần đối thủ.
Cả phòng đấu vang lên tiếng hò la cổ vũ người võ sĩ Bỉ. Tim Ma-ri-na như thắt lại, mắt vẫn không rời khỏi vũ đài. Nhưng cũng ngay lúc ấy tiếng cồng đồng khô gọn vang lên báo tin hết hiệp một.
-Ngừng đấu! Trọng tài hô lớn và giơ tay chém vào không khí đồng thời đứng len vào giữa hai người.
Mi-cla-sốp ngồi bệt xuống chiếc ghế con mà người chăm sóc anh vừa đặt lên. Ngả lưng vào đệm gối da buộc sát vào cột góc vũ đài, anh há miệng thở dốc những hơi dài theo chỉ dẫn của huấn luyện viên. Vừa thở vừa khẽ gật đầu tiếp thu những lời căn dặn của ông ta.
Mấy phút trôi qua, tiếng cồng lại thúc giục hai võ sĩ đấu tiếp. Cả hai cũng lao ngay vào trận đấu. Ma-ri-na lại một lần nữa hồi hộp lo âu. Không khí trong phòng sôi động, tiếng hò la, tiếng huýt sáo cổ vũ như những người mất trí. Tiếng chân dận thình thình trên sàn nhà.
-Đánh mạnh vào! Đừng cho thằng Nga lại sức!
Mi-cla-sốp cố tránh những cú đấm mạnh và thỉnh thoảng mới đánh trả lại bằng những quả đấm thẳng. Anh vẫn chưa muốn dốc sức nhiều trong hiệp này. Ma-ri-na cắn môi. Chị không muốn nhìn lên vũ đài nữa nhưng thật trái ngược với ý muốn của mình, vũ đài như một viên nam châm, cứ cuốn hút đôi mắt chị dõi theo hai người không dừng được.
 
3.
Những phút thi đấu ngắn ngủi vẫn trôi qua nhưng Ma-ri-na cảm thấy sao nó có vẻ dài vô tận. Càng xem chị càng hiểu hơn Mi-cla-sốp. Anh đã trở thành con người thân thiết nhất của chị ở đây, hay nói đúng hơn là trong những phút này. Anh đã tỏ ra một con người có bản lĩnh và anh dũng biết bao trong một trận chiến đấu căng thẳng như hôm nay. Ma-ri-na bỗng nghĩ tới Mát-xcơ-va và thầm oán trách Trung tâm, đặc biệt là những người đã cố tình cử Mi-cla-sốp đến đây với cái huyền thoại vô địch này. Chị cứ nghĩ rằng, Mi-cla-sốp chỉ là một cán bộ tình báo bình thường nhưng do có thể lực tốt, được rèn luyện nên người ta đã cố tình tạo cho anh cái danh hiệu vô địch và giờ đây đang bắt anh phải thực hiện vai trò kẻ “đánh thuê” chuyên nghiệp. Còn anh thì, có lẽ do không thoái thác được nên cũng phải cố nhận lấy cái nhiệm vụ bất đắc dĩ này. Chả lẽ họ không bố trí để anh ta nhập vai khác và chuẩn bị cho anh những giấy tờ hợp lệ khác được hay sao?
Cứ nhìn vẻ mặt thông minh trí thức của anh thì có thể bố trí cho Mi-cla-sốp đóng vai một nhà hoạt động nghệ thuật, một nghệ sĩ có hơn không. Việc gì bắt anh ta phải giơ đầu hứng chịu những quả đấm trời giáng đáng nguyền rủa này.
Hiệp sau bắt đầu với ưu thế nghiêng về võ sĩ Bỉ. Anh ta rõ ràng là đang làm chủ trận đấu và có vẻ không chú ý gì lắm đến thái độ quá mệt mỏi của người võ sĩ Nga. Mi-cla-sốp di chuyển bắt đầu nặng nề hơn.
-Đánh mạnh vào! Đừng để nó tránh thoát!
-Bám sát vào!
Hiệp bảy bắt đầu. Ma-ri-na không thể chịu đựng được hơn nữa. Chị gượng đứng dậy, chen lách qua đám đông dày đặc, nóng nực để ra ngoài. Sau lưng chị có người nào đó nói với theo:
-Về làm gì vội. Sao không ở lại để xem anh chàng võ sĩ Nga đã nhận hoa của cô gục trên sàn chứ!...
Khó khăn lắm, chị mới chen được ra đến gần cửa. Mấy người cảnh sát đang nghiếng chân đứng xem. Họ hơi nghiêng mình tránh đường cho chị bước ra. Ma-ri-na đang định bước qua cửa bỗng nghe mọi người rộ lên một tiếng rồi hàng ngàn người trong đấu trường bỗng lặng hẳn đi. Một sự im lặng nặng nề. Chỉ còn nghe tiếng giày ken két và tiếng đếm thong thả đều đều của trọng tài trên vũ đài vọng lại.
-Ba… Bốn… Năm!...
Ma-ri-na đứng sững tại chỗ “Anh ấy lại ngã rồi”. Một viên cảnh sát đứng sau chị quay sang nói với bạn:
-Chà, anh chàng Nga kia thế mà cừ thật!-Cú đấm đáng tiền đấy chứ. Tay nó cứng như đá…
Ma-ri-na quay ngoắt lại và nhón chân nhìn lên vũ đài qua đầu mọi người. Chị thấy người trọng tài thong thả đếm từng nhịp tay. Còn Mi-cla-sốp đang đứng ở góc vũ đài, mặt cúi xuống như người có lỗi, miệng hơi tủm tỉm cười tựa như muốn xin lỗi đối thủ của mình. Dưới chân anh, Hổ Xám đang nằm ngửa, tay dang rộng.
-Chín… Mư… ờ… i, Mười… trọng tài gắng kéo thật dài nhịp đếm cuối cùng và bổ tay xuống.-Nố-ao, nốc-…ao!
 
4.
Một tuần trôi qua kể từ trận đấu đáng ghi nhớ đó. Như đã hẹn với Mi-cla-sốp, Ma-ri-na đến hộp thư mật. Chị được biết là Mi-cla-sốp còn ở lại đây đến trước Tết và còn thi đấu vài trận nữa.
Một ngày nắng ấm hiếm hoi, lá vàng chưa rụng hết khỏi các cành cây và dưới nắng thu trông càng vàng hơn. Những người quét đường nhịp nhàng vung chổi, quét lá trên các vỉa hè. Ma-ri-na đi vào cửa số hai của một toà nhà sang trọng. Đến bậc thềm thứ hai, vờ đánh rơi chìa khoá chị cúi xuống kín đáo nhặt chiếc bao diêm giấu dưới bậc gỗ. Về nhà, chị khoá trái cửa lại, vội vã mở hộp diêm và rút ra một mẩu giấy nhỏ xếp ở trong. Từ lâu lắm rồi, chị không nhận được những tin tức, chưa dịch mã số, chưa được đánh đi những tín hiệu quen thuộc. Nói tóm lại đã lâu nay chị chưa được chuyển tin đi Mát-xcơ-va. Rúp-xô-va chưa được liên lạc với Trung tâm. Chị học điều khiển chiếc máy phát mới khá nhanh chóng. Trung tâm báo cho chị biết từ nay sẽ áp dụng khoá mã số ba. Điều đó có nghĩa là chị phải chuyển cốt mã. Chị đã thuộc lòng “phương án ba”.
Chị cảm thấy thật sung sướng. Tim đập rộn ràng, vui mừng xen lẫn hồi hộp, máu như dồn lên má, chị biết má mình đang ửng đỏ và luôn luôn đưa tay ôm lấy đầu. Thế là, cuối cùng rồi, chị lại được chiến đấu. Chị vui sướng vì lại được nói chuyện, được liên lạc, được phục vụ Tổ quốc thân yêu. Chị đang được góp sức vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù không đội trời chung. Ma-ri-na tự hứa với mình sẽ làm tất cả vì Tổ quốc, vì đất nước thân yêu để giờ chiến thắng vĩ đại đến nhanh hơn, sẽ làm tất cả những gì có thể làm được cho dù phải trả giá bằng cả cuộc đời mình cũng xin sẵn sàng.
Để trấn tĩnh thêm, chị đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, tập trung suy nghĩ thật kỹ những gì mình sắp truyền lên không trung. Những suy nghĩ của chị lại hướng về Mát-xcơ-va xa xôi, về bạn bè, về những người thân thích, về Mi-cla-sốp mà giờ đây đối với chị là người thân thiếy, gần gũi nhất, là người đại diện của Tổ quốc bên cạnh chị.
Ma-ri-na ngồi xuống bàn, không phải mở cuốn “Ba chàng pháo thủ ngự lâm” quen thuộc của Đuy-ma mà là chuyện “Nhớ lại và suy nghĩ” của Ô-bít-xmắc bắt đầu dịch mã những dòng tin quý giá.
Đêm hôm ấy, đúng giờ quy định, trên không trung nước Bỉ vang lên mật hiệu quy ước và những âm thanh chuyển đi những dòng chữ số khó hiểu…
Ở Mát-xcơ-va đang là nửa đêm. Một đêm tháng chạp rét buốt. Tại văn phòng Cục trưởng cục tình báo quân sự, sĩ quan trực ban phấn khởi bước vào phòng báo cáo:
-Báo cáo đồng chí thiếu tướng, vừa nhận xong…
Vị tướng mở cặp giấy đựng bức điện, lướt mắt đọc nhanh những dòng chữ vừa được đánh máy sau khi dịch mã:
“Hiện nay ở Đức không còn lực lượng dự bị nào nữa. Chỉ có một số đơn vị tân binh vừa được gọi nhập ngũ theo lệnh khẩn cấp, gồm phần lớn là vị thành niên và trung niên: tổng số khoảng hai mươi sư đoàn. Chúng sẽ được huấn luyện cấp tốc khoảng ba bốn tháng. I-kar”.
Bức điện thứ hai viết:
“Tại các viện thí nghiệm bí mật của Đức đang tiến hành thử nghiệm tách hạt U-ra-ni-um. I-kar”.
Thiếu tướng mệt mỏi mỉm cười, đưa mu bàn tay quệt má. “Bọn phát xít không thể thoát ra được khỏi cái lòng chảo Xta-lin-grát”.-Ông thầm nghĩ và cầm ống điện thoại quay số máy của tướng I-lin-cốp:
-Anh Xê-men Va-xi-li-ê-vích phải không? Anh chưa đi à? Tôi hiểu… Tôi có tin vui cho anh đây. Vừa nhận được tin mới… chàng võ sĩ của anh thật tuyệt vời đấy. Tôi cảm ơn anh đấy! Cảm ơn cả cậu ấy nữa!
“Em thân yêu, anh vẫn khoẻ”.
 
[size=18:c0f298e96e]Phần ba-Những đôi găng chiến sĩ
Thời gian trừng phạt
[/size]

Chương một
1.
Thời tiết cũng thay đổi đột ngột như tình hình mặt trận vậy. Mới hôm qua, bầu trời còn trong xanh, lác đác những lớp mây trắng nhởn nhơ kéo về phương nam và thả cho mặt đất mặc sức uống no ánh nắng hiếm hoi của tháng Hai giá lạnh. Ai cũng cảm thấy hơi thở mùa xuân đang đến gần và đều cho rằng chỉ một tuần nữa thời tiết sẽ chuyển sang ấm áp. Nhưng chiều đến, tuyết đột ngột tràn về. Từng bông tuyết lớn đua nhau bay phủ kín đồi và mặt hồ rộng lớn, bám trên các ngọn cây lấp lánh trong khu rừng thông bao la. Tuyết rơi liên hồi, giống như tấm vải màn lớn phủ kín những vết thương rách nát mà con người đã gây nên cho thiên nhiên tươi đẹp, lấp đi nhưng vệt bánh xe nham nhở, những hố đạn bom sâu hoắm, những vết xích xe tăng nhàu nát cùng những dấu chân dày đặc kéo dài về hướng tây.
Đến gần sáng thời tiết còn tồi tệ hơn. Từng đợt tuyết lớn kèm theo giá lạnh, xua tan những đám mây xám xịt, tuyết bị dồn thành từng đống lớn và mùa đông đã thực sự ngự trị trên mảnh đất khô quạnh bị chiến tranh tàn phá. Nhưng trong gió lạnh có một con chim xanh đậu trên cành thông cao vút bên hồ như đã nhìn thấy mùa xuân tới gần thỉnh thoảng vẫn cất tiếng kêu thảng thốt: “Dindive, Dindive. Mùa đông hết rồi!”.
Trên ngọn đồi trọc bên kia hồ mới mọc lên một xóm nhà ít ỏi. Ngôi làng cũ đã bị triệt phá từ những ngày đầu chiến tranh khi quân Hit-le tràn tới và những người dân phải kéo nhau vào rừng bỏ lại làng quê bé nhỏ nhưng vô cùng thân yêu thắm thiết. Trong giá lạnh tháng Hai, một con sếu từ đâu bay tới vươn đôi chân dài, dang đôi cánh rộng lượn vòng trên bầu trời băng giá xám xịt màu chì.
Chiến tranh đã trở lại làng này một lần nữa, gây thêm nhưng vết thương mới. Bọn phát xít đã không giữ nổi vị trí chiếm đóng mặc dầu chúng đã đào hào đắp luỹ, chăng dây kẽm gai dày đặc. Nhưng không một sức mạnh phòng thủ nào có thể cứu vãn được chúng. Nhiều tên đã vùi xác lại trên mảnh đất vô cùng xa lạ này. Những tên sống sót, trước khi tháo chạy đã giận giữ đốt luôn hai căn nhà hòng xoá sạch khu làng.
Nhưng chiến sự vừa lắng thì những người dân từ bao năm tháng nay lẩn trốn trong các dải rừng thưa nằm gọn giữa các đầm lầy bí hiểm, liền quay về làng. Họ gồm phần lớn là ông già, bà lão, phụ nữ và trẻ con, nhưng họ quyết định trở về ngôi làng thân yêu nơi đã bị quân Đức chiếm đóng tàn phá mấy năm nay. Họ tin rằng đây là lần giải phóng cuối cùng nên đã mang những gì còn sót lại, cố chất lên những chiếc xe bò cũ kỹ và dỗ dành những con bò gầy guộc nhưng lại vô cùng quý giá để chúng đưa chút tài sản đó về tới ngôi nhà cũ. Đàn chó cũng tung tăng rối rít chạy ngược chạy xuôi cất tiếng sủa lanh lảnh như vừa vui mừng nhận ra khu làng cũ lại như vừa ngỡ ngàng trước cảnh hoang tàn khác lạ.
Cơn lốc tuyết chiều tối qua đã phủ một lớp tuyết dày trắng xoá trên ngôi làng điêu tàn nhưng vẫn chưa xoá hết được những vết tích khủng khiếp của chiến tranh. Đây đó, cạnh những ống khói bếp lò đen xạm lù lù nằm im những xác xe tăng, xe bọc thép đủ kiểu đủ loại nghiêng ngả cháy sém, chìm ngập trong tuyết. Chiếc mất bánh trước, chiếc bị thủng méo, chiếc lật ngửa nằm phơi bụng hấng tuyết, có chiếc như còn cố vươn nòng súng dài lên bầu trời xám ngắt. Có chiếc bị thủng bình chứa, xăng dầu chảy thành vũng đặc sệt đen xạm trên mặt tuyết trắng phau trông như máu từ bụng con quái vật rỉ ra. Khắp nơi nham nhở hố bom sâu hoắm phủ ngập tuyết, những đống đất bị cày xới lổn nhổm. Những hàng rào bị đạn cày nghiêng ngả nằm thành dãy quanh khu vườn. Những khu vườn rộng thoai thoải chạy xuống tận bờ đầm còn nổi rõ những luống đất cũ trồng rau hoặc khoai tây. Những hàng hướng dương gãy gục nằm dạt dưới tuyết nhưng trên mặt tuyết đã thấy lác đác những vệt khói xanh lam ấm áp như từ trong lòng đất thoát lên. Sau gần hai năm ngừng cuộc sống, khu làng giờ đây đang tỉnh dậy, đang hồi sinh. Những con quạ béo tròn miễn cưỡng cất cánh bay lên kêu quang quác vừa xông lại phía chúng. Cứ như vậy chúng vừa kêu, vừa lượn vòng trên khu làng bị chiến tranh tàn phá. Từng nhà, từng nhà bếp lò toả khói, lửa reo tí tách. Chủ nhân vừa trở về, ngồi quanh bếp sưởi ấm, nấu thức ăn, đun nước nóng hoặc giúp các chiến sĩ vừa ghé lại giặt giũ quần áo. Quân dân râm ran chuyện trò hoà chung niềm vui giải phóng. Họ trao đổi với nhau tình hình và những công việc dự định cho ngày mai.
Từng dãy tăng “T-34” sơn màu trắng tuyết nguỵ trang dàn thành hàng dọc trên con đường lớn chạy xuyên qua làng. Các chiến sĩ xe tăng nghỉ tạm chia thành từng tốp kiểm tra từng bụi cây, từng hố đạn pháo, từng hầm kho. Cuộc sống của họ gắn liền với sự sống của từng chiếc xe. Chỉ một chút lơ là cẩu thả để vướng mìn là có thể dẫn tới cái chết của toàn đội. Họ tranh thủ xem xét từng bộ phận, gõ búa lanh canh vào gầm, vào nhíp, người kiểm tra máy, người xem lại bình dầu. Các chàng thợ máy kiêm lái xe thì nghiêng đầu chăm chú lắng nghe tiếng động cơ máy nổ.
Phía cuối làng, sau dãy chiến hào của quân Đức, mấy bà chị đã chuẩn bị xong nhà tắm hơi cho các chiến sĩ, những con “đại bàng hùng dũng của họ”. Họ vừa làm vừa vui vẻ chuyện trò với các chiến sĩ, nhất là với Min-ga-se-va, nữ chiến sĩ lái xe tăng đầu tiên mà họ được gặp. Họ coi cô như là niềm tự hào của các bà, các chị ở vùng mới giải phóng này…
 
… Các chiến sĩ vừa trải qua những trận đánh nặng nề. Những trận đánh kéo dài đến nỗi hầu như họ chẳng còn lúc nào nghỉ ngơi dù chỉ là để lau rửa qua loa thân mình. Quần áo cứng cong sặc mùi thuốc súng, nên giờ đây họ đều tranh thủ tắm giặt thoả thuê.
Đầm mình trong nước nóng, Ga-li-a như quên hết cả những ngày chiến đấu căng thẳng vừa qua. Chị vui sướng tận hưởng những giờ phút nghỉ ngơi hiếm hoi của người lính chiến. Gri-gô-ri Cun-ga coi đây chỉ là những phút giải lao ngắn ngủi giữa những trận đánh căng thẳng và rất cần thiết cho bộ phận máy nổ của xe tăng. Mấy hôm nay nó đã chạy vượt cả quy định vận hành, những con người sử dụng nó suốt ba tuần nay cũng lao vào cuộc chiến đấu liên miên. Nó đã cùng với đội chiến đấu của anh đi qua bao chặng đường chọc thủng bao ổ đề kháng của quân thù trên đất Lê-nin-grát.
Chiếc xe và nhất là bộ phận máy của nó cần phải được tạm nghỉ tý chút. Con người cũng vậy phải nghỉ ngơi cho thân mình đỡ ê ẩm, cho giãn gân giãn cốt, cho thần kinh bớt căng thẳng. Nhưng thật ra, mọi ý nghĩ của anh lại hướng ra phía trước tiếp tục tiến lên, không được dừng lại, không được chậm trễ. Hãy để cho bánh xích nghiền nát công sự của quân thù. Hãy để cho những loạt pháo của xe tăng vùi dập mọi hoả lực của những tên ngạo mạn, đang vênh váo vì những chiến thắng quá dễ dàng và vẫn tiếp tục gieo chết chóc đau khổ lên đầu những người dân vô tội. Ôi, ai hiểu nổi Gri-gô-ri đã sốt ruột chờ đón giây phút được thanh toán mối thù này như thế nào. Đó là giây phút được lái chiếc xe tăng xông lên phá tan vòng vây và đuổi quân chiếm đóng ra khỏi mảnh đất Lê-nin-grát thiêng liêng! Giờ phút chờ đợi đó đã đến. Nó đến trong cảnh căng thẳng kinh hoàng của những trận chiến đấu liên miên nhưng cũng đầy phấn hứng. Gri-gô-ri có cảm giác như dây sẽ là hiệp đấu cuối cùng trong một trận sống mái vĩ đại. Mặc dầu quân thù vẫn còn ngoan cố kháng cự mãnh liệt và tàn bạo nhưng chúng không còn hung hăng như năm bốn mốt và phải rút lui từng chặng. Cun-ga thấy rõ ánh bình minh của những ngày chiến thắng đang rộ lên nơi chân trời. Con đường tới đó còn xa nhưng dầu sao cũng đang hiện ra trước mắt, quân ta đang tiến lên.
Gri-gô-ri Cun-ga còn có món nợ máu với quân thù. Anh bặm môi, vung rìu bổ những hòm đạn Đức ra làm nhiều mảnh vất vào bếp lửa, lim dim mắt nhìn làn khói bốc lên toả mùi nhựa thông thơm thơm. Anh mỉm cười. Hôm kia họ vừa giải phóng thành phố Lu-ga. Từ đây chỉ với tay là tới Xtru-ghi Đỏ. Thành phố thân yêu gần gũi anh biết bao. Anh không ngờ lại có niềm hạnh phúc lớn lao đã được chiến đấu hướng này. Được chiến đấu để giải phóng mảnh đất quê hương yêu dấu đầy những kỷ niệm khó quên. Nơi anh bắt đầu cuộc đời quân ngũ của mình, nơi anh đã được đào tạo rèn luyện để điều khiển những chiếc xe khổng lồ, nơi anh đã tham gia câu lạc bộ thể thao quyền Anh. Những ngày đó tuy đã thuộc về quá khứ nhưng anh cảm thấy như mới xảy ra hôm qua! Chả biết các bạn chiến đấu, những bạn đồng nghiệp trong đội tuyển quyền Anh hiện đang ở đâu, ai còn ai mất. Số phận dành cho Cun-ga cũng không ngọt ngào gì. Anh đã trải qua bao thử thách, chịu đựng bao gian lao vất vả. Đã thoát chết trong chiếc xe tăng bị bắn cháy, đã vật lộn với những chiếc xe hạng nặng trên hồ La-đô-ga đóng băng, đã thoát khỏi vòng vây rồi bị thương, được tặng thưởng phần thưởng cao quý, được phong hàm thiếu uý. Tất cả đều đã trải qua. Nhưng điều chính là anh vẫn sống, vẫn nguyên vẹn tuy không còn thật lành lặn. Và hôm nay anh đang ở đây, ở trên mảnh đất thân thuộc. Trước mắt anh là Xtru-ghi Đỏ… Chà, những ngày đầu chiến tranh sao mà chiến đấu xoàng đến thế! Giờ đây đã đánh chác khá hơn, luôn giành được thắng lợi. Giá như trong những ngày tháng đáng buồn đó họ có được những vũ khí trang bị kỹ thuật như ngày nay thì chẳng có gì phải bàn nữa. Nghĩ lại mà kinh hoàng. Hay là lúc ấy bọn Đức mạnh hơn, khác hơn bây giờ? Không hoàn toàn như vậy. Ngày nay bọn chúng cũng chưa phải đã yếu đi, không phải là chúng đã nhụt chí, mà trái lại chúng vẫn mạnh, vũ khí vẫn được trang bị đến tận răng. Mùa đông năm nay đã trở thành mùa đông nóng bỏng đối với chúng, một mùa đông nóng như trong hoả ngục. Đối với các chiến sĩ Xô-viết thì đây lại là mùa xuân. Trước mắt họ là Xtru-ghi Đỏ, sau nó là Pơ-xcốp rồi tiếp đến là vùng Pri-ban-tích và xa hơn nữa là nước Đức… Đến đó còn xa, xa lắm, nhưng chúng ta sẽ vượt dần từng kilômét, và nhất định sẽ tới được cái đất nước ấy. Đã bắt đầu rồi, nhất định sẽ tới. Chính người Nga chặn chúng lại thì giờ đây cũng chính chúng ta sẽ đến tận đất nước đó. Chặng đường này không một dân tộc nào có thể vượt được…
Và như để chấm dứt dòng suy nghĩ của mình, Gri-gô-ri Cun-ga liền bặm môi, bổ mạnh nhát rìu vào chiếc hòm gỗ… chiếc hòm vỡ đôi, anh vui vẻ ngắm nhìn nhát rìu chính xác của mình.Tốt lắm! Chỉ cần mấy nhát nữa là có thẻ bổ nhỏ nó ra từng mảnh…
 
Chương hai

1.
Ma-ri-na Rup-xô-va không thể từ chối mãi người bạn gái mới quen biết cứ năn nỉ mời tới thăm ngôi nhà nhỏ và uống câ-phê. Chị đã hai lần viện cớ bận việc để khước từ lời mời rất lịch sự của bà ta. Đối với người Bỉ, khi mời bạn đến chơi mà bí từ chối là coi như bị xúc phạm. Do đó trong bất cứ hoàn cảnh nâo cũng không được khước từ ngay mà trước hết phải nói: “Ồ, tôi rất vinh dự, rất hân hạnh. Hoặc xin cám ơn, tôi sẵn sàng thôi”. Rồi sau đấy phải tim cách tư chối cho khéo, cho hợp lý nếu không có thề bị mất bạn bè. Lần này cũng vậy, sau lời cám ơn chị lại cố từ chối với những lời lẽ lịch thiệp qua máy nói:
-Tối xin cám ơn bà Van-déc Gráp, xin cám ơn. Nhưng bà hiểu cho, tôi không tiện...
Chị quen Van-đéc Gráp một tháng trước đây tại vườn bách thú thành phố An-véc-pen. Vườn bách thú này thuộc loại lớn nhất nước Bi và dân thành phố rất tự hào về nó. Mùa nào cũng vậy, ở đây rất đông người. Có những gia đinh năm bảy người đến đây để xem các loại chim và thú quý, nhất là thú châu Phi.
Ma-ri-na thường đến chuồng con gấu Mi-sa, một con gấu nâu hiền lành, dễ thương mặc dầu trên tấm biển lại giới thiệu “chủ nhân ranh mãnh và hung dữ của rừng tai-ga”. Ma-ri-na hay mang kẹo đến cho chú gấu và nó thường cúi đầu thò chân trước ra ngoài chấn song như muốn bắt tay chị. Nhận kẹo xong, hắn hất gọn vào miệng, vừa khoái chí nhai nhai vừa gật gù chiếc đầu ra dáng cảm ơn. Đôi mắt nó có vẻ buồn buồn làm Ma-ri-na cảm thấy tim mình thót lại. Chị có cảm giác như chính nó cũng biết chị là người đồng hương và đang khát khao chờ đợi những lời an ủi dịu dàng bằng tiếng Nga.
Ma-ri-na kín đáo đưa tay vuốt vuốt mõm con gấu. Chị đến với nó hầu như hàng tuần. Đối với chị, nó là một tâm hồn sống của Tổ quốc xa xôi. Chị cảm thấy nó là người bạn thân thuộc của mình. Nhìn con gấu Mi-sơ-ca chị liên tưởng đến Mát-xcơ-va, đến đại lộ Xvét-nôi, nơi có rạp xiếc lớn của thú đô, ở đó cũng có những chú gấu nâu hiền lành thường biểu diễn một cách vô tư và hỏm hình, hay dùng hai chân trước nhận kẹo và cúi đầu cho khán giả...
Chuồng gấu này ít người dừng lại lâu vì nó chẳng có gì đặc sắc. Nó chỉ là con vật nhỏ bé bình thường và, dĩ nhiên không thể sánh với những chàng hổ vằn hùng dũng, những chị sư tử âm thâm lặng lẽ và những loài thú khác đưa từ rừng núi châu Phi, từ Ấn Độ về.
Mải mê đùa vui với con gấu Ma-ri-na không đề ý tới một phụ nữ tóc vàng thường chú ý tới chị và cũng hay xuất hiện bên chuồng gấu. Lúc đầu hai người chỉ đưa mật nhìn nhau cười cười, như thầm trao đổi với nhau về chú gấu đáng yêu. Thỉnh thoảng người phụ nữ tóc vàng đó lại đưa một bé trai khoảng sáu tuổi tới xem gấu. Cậu bé có vẻ hiếu động và mạnh dạn. Cậu không biết sợ lạ gì nên đã nhiều lần tự đưa kẹo vào tận tay gấu và mỗi khi chú gấu gật đầu cảm ơn thì cậu ta cười thích thú. Bé trai tên lâ Sac-lơ, Ma-ri-na rất thích chú bé, thường xoa đầu nó và mỗi lần như vậy chị cảm thấy khoan khoái chi bàn tay đặt lên mớ tóc vàng dìu diu. Thế là hai người phụ nữ quen nhau.
Tại thành phố đông dân và sầm uất này Ma-ri-na chẳng quen biết gần gũi ai cả. Chị tuân theo nguyên tấc khắt khe của những người hoạt động bí mật. Chị đối xứ với mọi người chung quanh một cách bình thường và luôn giữ một khoảng cách nhất định trong quan hệ giao tiếp, thậm chí có vẻ lạnh lùng, cô đơn như con ốc sên, tự giam mình trong căn phòng nhỏ hẹp, không làm điều gì thái quá và cũng không giao thiệp với ai. Nói tóm lại chị không vi phạm bất cứ một quy định nhỏ nhoi nào. Như vậy mới có thể tự bảo vệ được mình trong cuộc sổng đầy nguy hiềm ở nơi đất khách quê người và đó cũng là những kinh nghiệm chị đã tích lũy được trong những năm sống và hoạt động xa Tô quốc. Càng ít bạn càng ít khả năng bị lộ, có thế thôi. Từ sự quen biết bình thường có thề dẫn đến sự thân mật, cởi mở và như vậy thật nguy hiềm. Vì có thề có một lúc nào đó sẽ quên mất vai trò mình đang đóng, quên mất sự đề phòng và rất tình cờ có thể thốt ra một điều gì đó, dù chỉ là một câu nói vô tình, sơ ý nhưng lại đầy ý nghĩa. Ma-ri-na quyết tâm giữ mình trong cái vỏ bọc kín đáo vì chị nhớ rõ lờl dặn dò khi tiễn đưa: “Hãy cố giữ mình”.
 
Thế nhưng khi đứng cạnh chuồng gấu, có lúc chị lại quên nguyên tắc này, quên điều tự răn mình, chị đã bắt chuyện với một người chưa quen biết. Về nhà, nhớ lại chi tự trách mình đã cẩu thả trong giao tiếp. Đáng lẽ không nên bắt chuyện làm quen mặc dầu đó là bà Y-vôn-na Van-đéc Gráp, mặc dầu trong thực tế chưa có gì nguy hiểm đối với chị. Bà ta sống cùng với đứa con trai nhỏ, chồng đang làm việc tận châu Phí xa xôi.
Khuôn mặt bà Y-vôn-na thật phúc hậu, như người ta nói “hợp với lòng mình”. Thế là tự nhiên hai người phụ nữ ấy gần nhau. Họ tìm thấy những vấn đề chung để trao đồi, chuyện trò. Thật ra, có chuyện để mâ nói đối với họ không quan trọng, cái quan trọng là ở chỗ, họ cần có người để thông cảm, để trao đổi cho đỡ cô đơn.
Từ lâu Ma-ri-na đã cảm thấy sợ cảnh cô đơn. Chị cố dối mình về nỗi lo sợ cho tương lai. Bao đêm ròng chị trằn trọc lo âu, hai mắt nhìn lên trần nhà, tai cố lọc trong cái tĩnh mịch của đêm khuya những tiếng động lạ, tiếng bước chân rón rén nhẹ nhàng trên cầu thang của bọn mật vụ rồi tiếp đó là những tiếng gõ của hối hả, gay gât. Tay chị đột nhiên luôn xuống dưới gồi sờ xem khấu súng lục xinh xắn còn đấy không, và đưa lòng bàn tay úp lên báng súng âm ấm. Khẩu súng xinh xắn này do An-đrây, người đã đến đón và đưa chị từ Brúc-xen về đây tặng. Chính ông là người chuyển điện đài cho chị. Ông là người đã trả lại cuộc sống cho chị. Trong suốt những ngày ở đây chị luôn luôn cảm thấy sức mạnh và niềm tin thực sự vào người chỉ huy. Ông đang điều khiển cuộc chơi đầy khó khăn nguy hiểm này và đang giúp chị quen dần với hoàn cảnh mới, với cuộc sống và vai trò mới. An-đrầy đã đưa chị đến với người võ sĩ của chúng ta và đã bao lần tim Ma-ri-na thót lại vì không hiểu nồi tại sao lại có thể chịu đựng được cái trò đấm nhau của môn quyền Anh ấy. Một cái trò mà từ lâu chị đã loại ra khỏi suy nghĩ của mình. Chị không coi đấy là một thôn thề thao mà chỉ là trò tiêu khiển đáng xấu hổ cho những kẻ vô công rồi nghề bày ra. Giờ đây Ma-ri-na đã chịu đựng nồi mỗi trận đánh của Mi-cla-sốp và thật may là anh đã giành được thắng lợi trong những trận đánh đó. Chị vui mừng chờ đón những chiến thắng của anh, như chở đón những tin chiến thắng từ mặt trận phía đông, nơi quân ta đang đánh đuổi bọn phát xít và đang tiến tới gần niên giới phía tây Tồ quốc, đang tiến tới Béc-lin, đang đưa ngọn lửa trừng phạt tới sào huyệt của chúng. Ngày chiến thắng cuối cùng đang đến gần. Ma-ri-na Rup-xô-va đến với ngày chiến thắng vĩ đại đó bằng những tín hiệu điện đài báo về Trung tâm những dòng tin ngắn ngủi của An-đrây do Mi-cla-sốp cung cấp.
Thế nhưng đến mua thu tất cả bỗng dột ngột chấm dứt, tựa như có một kẻ vô hình nào đó giật đứt sợi dây liên lạc nối liền Ma-ri-na với: các đồng chí của chị. Các nguồn tin đều ngừng lại. Thời gian thôi quá nhanh nhưng hòm thư mật vẫn trống không. Nguồn tiền cung cấp cũng ngừng. Rồi người đồng chí võ sĩ cũng biến mất. Biến bất ngờ, không đề lại một dấu vết, một lời cho từ biệt. Biến mất tựa như chưa bao giờ anh ta có mặt ở nước Bỉ này. Trên các áp phích quảng cáo quyền Anh chỉ thấy xuất hiện những tên họ xa lạ. Và tất nhiên, Ma-ri-na không bao giờ đến xem nữa. Chị không những sợ mà còn căm thù môn thể thao này, vì nó đã cuốn hút I-go của chị mất tăm. Hơi thở của cuộc chiến tranh đã lan tới đây; tới cuộc sống no đủ và khá thờ ơ của người Bỉ. Han-xơ bị giết ngay trước mắt chị và chị thoát được nhờ một sự tình cờ hết sức may mắn. Còn Van-te thì hy sinh để bảo vệ chị, để chị có thề truyền đi dòng tin quan trọng tạo cho chị có thì giờ phá máy và tiêu hủy tài liệu. Chị không biết rõ anh hy sinh thế nào và chưa thật tin vào lời thông báo của An-đrây là Van-te được truy tặng huân chương. Còn có một người bạn chiến đấu ở lại với chị thì giờ đây cũng đã biến nốt. Đây là người bạn chiến đáu thứ ba. Thế là chị lại cô đơn. Không có liên lạc, không có ai chỉ đạo và hầu như chị đã cạn tiền tiêu. Trước các yêu cầu của chị. Trung tâm chỉ trả lời vắn tắt “Hãy chờ”. Chờ đến bao giờ. Một tuần, một tháng chăng? Không ai có thể trả lời cho chị. Trong những ngày đầy lo âu và buồn chán như vậy chị đã làm quen với người phụ nữ tóc vàng Y-vôn-na Van-déc Gráp, một phụ nữ lịch sự, cô đơn. Những buổi gặp gỡ vô tình và chuyện trò ở vườn bách thú đã làm dịu bớt nỗi lo âu và căng thẳng của chị. Và thật dễ hiểu Y-vôn-na đã trở thành người bạn của chị.
Tuy vậy, chị đã từ chối lời mời đến uống cà phê và cố tránh việc tới thăm nhà riêng bà ta. Những phải từ chối sao cho lịch sự để mối quan hệ của hai người không trở nên lạnh nhạt. Thật lòng mà nói thì Ma-ri-na cũng muốn đi vào tìm hiểu cái xã hội, cuộc sống cửa những người như Y-vôn-na trò chuyện cùng bà ta, một người mà theo chị nhận xét là thông minh và có học thức. Nhất là được vui đùa cùng đứa con trai xinh xắn, bụ bẫm sạch sẽ của bà ta, chú bé Sác-lơ vì chị vẫn hằng ước ao một đứa con trai khi chiến tranh kết thúc.
-Này, cháu Sác-lơ nhắc tới chị vâ rất mong chị đến đấy, giọng Y-vôn-na thánh thót van lơn như trách móc trong ống nghe, bà ta nhấn mạnh thêm rằng, tối hôm nay sẽ có cà phê nguyên chất và xúc xích ướp khói từ nông thôn gửi ra.
Ma-ri-na chẳng biết chối từ sao cho tiện nên đành phái cảm ơn, nhận lời mời:
-Nhưng chị cho phép, tôi chỉ đến chốc lát thôi đấy. Chị đừng bày vẽ tiếp đón, ăn uống gì đấy nhé!
 
2
Ngôi nhà hay đúng hơn là biệt thự của bà Van-đéc Gráp ở ngay ngoại ô phía nam thành phố trong một khu vực nhiều cây xanh giống như một mảnh rừng tự nhiên thường thấy ở những vùng chung quanh. Khu cây xanh này được ngăn cách bởi các dãy hàng rào và những đoạn đường nhựa chạy xuyên qua, nổi bật lên những biệt thự cao hai, ba tầng với nét kiến trúc gọn giống nhau nhưng chỉ khác ở bố cục mặt tiền, màu sắc cửa kính và mái ngói đỏ, vàng, trắng hoặc nâu nhạt...
Nơi chiến trưởng xa xôi phía đông đang đổ máu hàng ngày nhưng ở đây không ai cảm thấy không khí chiến tranh. Mùa hè hoa vẫn nở trên các bồn cửa sổ, mắt vẫn quen với những thảm cỏ xén tỉa gọn gàng dịu mát, chim vẫn líu lo ca hót. Còn mùa đông tuyết vẫn rơi đều, hoa vẫn nở bên trong các cửa sò ấm áp, cây cối vẫn được xén tỉa. Chiến tranh không ảnh hưởng gì đến cuộc sống ở đâu.
Biệt thự bà Van-đéc Gráp xây theo lối cổ đã trở thành mốt của thời này. Chạy dọc theo hàng rào là những ngọn đèn điện nhỏ lắp chụp cầu kỳ. Ngay cạnh cũng vào hai bánh xe ngựa gắn vào chiếc cột bê tông. Lối vào rải sỏi với hai dãy rão nhỏ dẫn thẳng vào biệt thự lợp ngói đỏ tươi, mái nhọn. Con đường rải sỏi chạy sâu vào khu vườn rộng phía sau biệt thự, có đặt ghế ngồi và những cây bạch dương bạc trong.
Ma-ri-na đến hơi muộn. Bà Y-vôn-na thanh lịch trong chiếc váy màu sáng có thêu trang nhã bước ra đón khách với nụ cười cởi mở vui mừng:
-Ôi, thật vui sướng được tlếp chị ở nơi thôn giã này!
-Còn tôi thì suýt nữa vượt qua tòa lâu đài này nếu như không nhìn lại một lần nữa số nhà và tên đường.
-Chị có thích không?
-Rất thích...!-Ma-ri-na thú nhận một cách nhiệt thành-Ở đây thật tuyệt vời! Không gian yên tĩnh, không khí trong lành chứ không như trong thành phố đầy khói bụi và ồn ào. Đặc biệt vào những ngày đầu đông khi lò sưởi cuốn lên trông như đám mây mỏng trên mái nhà thật là huyền ảo. Ở đây không phải là hít thở nữa mà là được uống no không khí trong lành, mát dịu.
-Chị thân mến, như như chị không vội và cho phép thì xin mới chị đi dạo quanh vườn trước khi vào phông khách. Được chứ? Y-vôn-na đề nghị, vẻ sung sướng và tự hào hiện rõ trên nét mặt. Nhưng xin chị đừng chú ý nhiều đến cảnh bừa bộn, vụng về vì đã ba năm nay tôi sống một mình. Khi anh ấy còn ở nhã thì chỗ này gọn gàng, đẹp đẽ hơn nhiều.
Hai người sánh vai nhau đi dạo trong khu vườn rộng và Ma-ri-na luôn xuýt xoa khen ngợi. Bà chủ nhà cũng không giấu vẻ kiêu hãnh, giới thiệu rành rọt tiểu sử từng loại cây, quả trồng trong khu vườn. Cây ăn quả, cây hoa cảnh trông rất hài hòa, mặt cỏ phẳng xén tỉa cẩn thận phủ một lớp tuyết mỏng trông thật tươi mát. Nhìn khu nhà sang trọng nhưng xa lạ, Ma-ri-na bồi hồi nhớ tới ngôi nhà nghỉ nhỏ xinh bằng gỗ của gia đình tại ngoại ô Mát-xcơ-va gần Gô-li-xun. Gọi là nhà nghỉ, chứ đấy là căn nhà của ông bà nội gồm toàn gõ tấm dựng nên, có ba cửa sổ trông ra đường lởn. Vườn không rộng nhưng có các loại cây ăn quả và mấy bồn hoa quen thuộc. Chẳng hiểu sao, Ma-ri-na xốn xang nhớ lại mùa xuân trước chiến tranh-mùa xuân cuối cùng Ma-ri-na đến nghỉ ở nhà ông, ngẩn ngơ đứng ngắm vườn táo đang nở hoa và chị có cảm giác đang đi trong bức màn hoa trắng lung lính, màu sữa. Chị còn nhớ,
ông vừa mở thùng mật vừa giảng giải và rót cho chị một ly mật ong trong suốt vào cốc nước quả thơm lừng mát lạnh. “Không có đàn ong này thì không có mật mà cũng không có quả đâu”-ông giảỉ thích-Nhớ lấy điều đó, cháu yêu quý ạ. Không có ong thì cháu không có mật ăn đâu. Liệu ông còn sống không? Vườn cây còn nguyên vẹn không?... Nhưng Y-vôn-na đã cắt đứt dòng suy nghĩ:
-Nào, bây giờ xin mời chị vào nhà. Chúng ta đi theo cửa chính.
Ma-ri-na nhin Y-vôn-na như để nhận ký bà ta. Nhưng hồi ức của chị vụt biến mất. Chị vội mỉm cười trở lại vai tròn của mình.
-Chà, nhà chị thật tuyệt vời!
-Xin mời chị vào.
 
Không hiệu tại sao Ma-ri-na bỗng thấy miễn cưỡng ngập ngừng không muốn bước văn phòng. Một linh cảm khác thường nào đó vẫn day dứt trong chị. Hình như trong phòng khách sang trọng và hấp dẫn kia còn ẩn dấu một cái gì đó nguy hiềm, đáng ngờ. Chị bỗng thấy tiếc là đã nhận lời mời đến đây. Mối linh cảm ẩn náu sâu lắng day dứt trong suy nghĩ của chị, làm chỉ cảm thấy lành lạnh và tự báo mình phải thận trọng hớn. Hay chỉ là cảm giác thế thôi? Thường xuyên sống trong lo sợ và thận trọng, luốn chạm trán với bao mối hiểm họa bất ngờ. Đó là tâm trạng của chị. “Mình nhát quá, thần hồn nát thần tính,-chị thầm nhắc để tự an ủi mình-việc gì mà sợ. Mình chỉ ngồi một lúc thôi, chóng thôi”. Không khí trong sân mát lạnh. Chị muốn đứng một lúc ngoài trời. Nnưng chủ nhà đã mở cửa lớn:
-Xin mời chị vào. Tôi hi vọng chị sẽ hài lòng.
Quả thật Ma-ri-na cảm thấy hài lòng nếu như không nói là thích thú. Đây không phải là năm đầu tiên sống ở nước ngoài, nên chị phải thích ứng với mọi điều. Đã từng sống trong những khách sạn sang trọng ở thủ đô, cũng đã từng sống trong những căn phòng xoàng xĩnh, có lúc phải nhịn đói và nói chung đã phải trải qua tất cả. Nhưng đây là lần đầu tiên chị đặt chân đến một biệt thự riêng tuy không hoàn toàn lộng lẫy và giàu sang nhưng nó có một cát gì đó cầu kỳ trong từng chi tiết trang trí đồ đạc và kiểu cách khác nhau trong từng căn phòng, nó làm cho bất cứ ai bước vào cũng cảm thấy dễ chịu. Cảm giác đó cứ bám lấy chị trong suốt buổi hôm nay. Chị như vừa phát hiện cho riêng mình một thế giới mới, một thế giới nhỏ bé và xiết bao mong ước đối với một phụ nữ luôn ước mong có một tổ ấm riêng, một gia đình hạnh phúc.
Chị xem xét, nhìn ngó tất cả phòng khách sang trọng, khiêm tốn ngắm một bức họa có khung mạ vàng, với những chiếc ghế giản dị nhưng có vẻ đrường bệ bọc da và chiếc bàn khảm gỗ nhiều màu. Phòng ăn rộng và thoáng đãng. Ba buồng ngủ với ba kiểu trang trí khác nhau. Tường dán giấy màu hòa hợp với bàn ghế. Hai chiếc giường ngủ rộng, dưới trải thảm len mỏng. Mỗi phòng ngủ đều có một cửa phụ thông sang phòng khác. Cửa phụ này để làm gì? Sau chị mới hiểu ra mỗi phòng ngủ đều có phòng tắm riêng với đá lát màu hồng, trần màu xanh nhạt, với bể tắm màu xanh lam. Chiếc gương lớn đủ soi cả thân hình. Gương
điểm trang đứng sau chiếc bàn trên bầy đủ các loại mĩ phẩm dành cho phụ nữ, lòng Ma-ri-na rộn lên. Không, chị không có ý ghen tỵ. Chị tự an ủi là tất cả những thứ sang trọng lúc này không cần thiết cho mình. Chị thấy bình thản hơn. Nhưng trong thâm tâm vẫn thầm ước nếu được mời ở lại trong căn buồng này dù chỉ một tuần lễ thôi, có lẽ chị sẽ không từ chối.
Sau khi xem phòng ngủ của chú bé Sác-lơ, họ vòng sang phòng bếp và phòng ăn. Thật là sạch sẽ, hấp dẫn và hiện đại...
Trở lại phòng khách, Y-vôn-na bật đàn bàn. Một lượng ánh sáng mát dịu tỏa trong chiếc chao đèn mầu hồng cánh sen chiếu xuống mặt bàn gây một cảm giác thoải mái.
Hai cốc rượu vang nhẹ lóng lánh dưới ánh đèn. Đĩa xúc xích nướng tỏa mùi thơm hấp dấn, có lẽ sẽ hợp khẩu vị với bất cứ người sành ăn nào.
-Chị không từ chối một ly nữa chứ, chị thân mến?
-Cám ơn chị, rượu vang ngon và hợp với tôi quá.
Nhưng chị cho phép tôi còn phải về cho kịp chuyến xe buýt chín giờ tối.-Ma-rì-na nói.
Chị cảm thấy hơi choáng váng. Chả lẽ lại say nhanh vậy. Suýt nữa thì Ma-ri-na chạm cốc theo phong tục người Nga. Chị cũng không hiểu là đã kịp dừng tay lại ra sao nữa. Ở đây khi chúc rượu người ta chi nâng cốc lên chứ không bao giờ chạm cốc vào nhau như ở Nga. Sao chị lại có thể lầm lẫn như thế được? “Thôi phải về thôi, phải rút nhanh”-Ma-ri-na thầm quyết định.
Nhưng Y-vôn-na đã đứng dậy đi pha cà phê. Chiếc cối xay điện xay cà phê reo réo. Những hạt cà phê tròn trĩnh màu nâu sẫm xoay chuyến, quay tròn và chốc lát biến thành những hạt bột mịn màng rơi xuống chíếc tách bên dưới.
Hai người phụ nữ lại vui vẻ trao đổi hản huyên với nhau đủ chuyện và cùng nhấm nháp li rượu cam Pháp. Ma-ri-na kiên quyết đứng dậy làm Y-vôn-na kình ngạc thốt lên một cách thành thật:
-Chị định bỏ tôi ngồi một minh đêm nay hay sao? Còn sớm mà!
-Còn mười lăm phút nữa đúng chuyến xe tuyến tối-Ma-ri-na bình thản nói.
-Chị đừng lo. Xe buýt chạy đến nửa đêm kia mà. Cứ nửa giờ lại có một chuyến vào thành phố. Y-vô-na vội lấy một chai cao trong tủ ra. Chị hãy thử ngụm rượu thuốc xem sao. Nhà tôi rất thích toại này nên anh ấy vừa gửi về cho tời đấy.
-Nếu ít thì được. Một vài “giọt” thôi. Chỉ nếm mùi vị là đủ. Ma-ri-na đành miễn cưỡng đồng ý.
Nhưng sau li rượu và cà phê, Y-vôn-na còn cố kéo dài thời gian bằng cách giời thiệu bộ phim cuộc sống gia đình quay hồi trước chiến tranh, khi bà ta cùng chồng đi du lịch ở Ý và Ma-ri-na lại không ngớt lời khen về hạnh phác của họ, khen những công trinh kiến trúc cổ cũng như phong cảnh tuyệt vời của nước Ý.
 
3.
Quàng chiếc áo khoác lông lên vai, Y-vôn-na đì tìễn Ma-ri-na tới tận bến xe. Mặc dầu Ma-ri-na hết sức khẩn khoản từ chối nhưng bà ta vẫn chờ cho tới khi Ma-ri-na bước lên xe mới hôn từ biệt và nói:
-Tôi chân thành và rất vui sướng cám ơn chị đã đến thăm cái tổ ấm của tôi. Chị đã làm tôi khuây khỏa cảnh đơn chiếc đấy.
-Chính tôi mới phải cảm ơn chị về buổi nghỉ ngơi tuyệt vời này. Hôm nay là một ngày vui thực sự với tôi, Ma-ri-na hôn lại, nói chân thành.
Chiếc xe buýt chuyển bánh, Ma-ri-na úp mặt vào tấm kính cửa nhìn theo Y-vôn-na đang vẫy tay từ biệt, lòng thầm nghĩ “Chị ta tốt thật đấy chứ, Ma-ri-na nhận xét-Nhưng dầu sao thì cũng không nên quá gần gũi như hôm nay. Phải luôn luôn giữ một khoảng cách nhất định“. Trở về nhà, chưa cởi áo vội Y-vôn-na Van-đéc Gráp đi vào phòng khách, cầm máy điện thoại, quay số.
-Mác, anh phải không?
-Vâng, tôi đây-Một giọng nam trầm vang lên trong ống nghe. Đến rồi chứ?
-Đến rồi.
-Thế nào?
-Nói chung, chẳng sao cả.
-Không phát hiện gì đặc biệt hay sao?
-Không. Một phụ nữ bình thường, có vẻ nghèo. Tính tình khiêm tốn và chân thật. Tôi có cảm giác, chúng ta sẽ uổng công vô ích nếu cứ bám lấy đối tượng này.
-Chúng tôi không cần biết cái cảm giác của cô người đàn ông có tên là Mác-càu nhàu-chúng tôi cần theo dõi cô ả này. Và gã lên giọng vẻ mệnh lệnh-Cứ tiếp tục củng cố mối quan hệ đã có và hãy chú ý đến mọi cử chỉ, mọi chi tiết của cô ta.
Y-vôn-na Van-đéc Gráp, điệp viên của cơ quan an ninh Đức tại Bỉ, được tuyển dụng từ những tháng đầu chiếm đóng, buông ổng nghe, nhún vai tỏ vẻ khó hiểu.
 
Back
Top