Uống rượu ở Hà Nội
Nhìn cái dáng anh đẩy chiếc xe máy vào nhà, tôi biết anh đã có tí men trong dạ. Mời bia, anh lắc đầu. Anh hất hàm vào cái góc dưới cầu thang xấu xí. Ở đó có lỉnh kỉnh chai lọ. Rượu quê ta đi!
Rượu thì ở đâu mà chẳng có. Thử lê la chừng dăm buổi, mới biết, Hà Nội mấy năm nay đâm chuộng rượu lạ lùng. Nói lạ bởi đất Bắc này không hợp với rượu thì còn nơi nào hợp, nhưng giờ nhiều quán rượu mọc ra la liệt theo cái cách chẳng giống thông thường. Thông thường là chén da lươn, chén hoa hồng ở quán cóc cơ. Mà cái "nước trắng" đấy phải uống "sếch". Nó đốt cái gì trong họng thì là chuyện của nó. Mình tự nguyện cơ mà.
Đằng này quán xá ríu ran. Nền xi măng, sàn gỗ với dăm mảnh chiếu coí, vài tấm thảm bện tròn tròn vuông vuông. Có quán ngồi ràn rạt khắp nhà, có nơi thì khách ngả nghiêng dọc bờ tường như sĩ tử xưa vào mùa lều chõng. Tên tuổi cũng vô chừng. Chiều Việt Bắc ở Yết Kiêu, Hoàng Hoa tửu ở Khâm Thiên, Chum 1 ở Châu Long, Tràng An tửu ở Nam Ngư, Mùa Hạ Vàng ở Hai Bà Trưng, 16 Nguyễn Chí Thanh (bạn tôi gọi là Hồng Lâu Mộng), rồi mấy quán quái quỉ gì ở ngõ 7 đường Thái Hà nữa, rồi bao nhiêu qúan không đề mỹ danh, chỉ cụt lủn tên chủ quán... Quán nào cũng đem mác "dân tộc" ra trưng khách. Gọi là dân tộc nhưng chắc chỉ có mặt một ít dân tộc ít người vùng núi phía Bắc, còn tịnh không thấy bóng dáng nếp cẩm, rượu cần ở đâu.
Trang trí quán xá có vẻ u tối một chút, kẻ vẽ loằng ngoàng bầu rượu nắm nem, chua thêm mấy dòng thơ say của kẻ sĩ đời Đường bên Taù... thế là thành khung cảnh dân tộc. Đến đoạn chỗ ngồi thì khác. Cũng dáng dấp dân tộc cơ mà là dân tộc Nhật nhiếc gì đó. Tức là ngồi phệt quanh mấy cái bàn vuông vức thấp chân. Tôi cứ phải chiếm ngay chỗ nào gần tường, nếu không thì mỏi lưng bỏ mẹ. Bầu rượu ngoằn ngoèo màu men Bát Tràng, ống trúc dùi lỗ chỗ bằng dùi sắt nung đỏ, một ít bát đũa thô lậu một tí. Dụng cụ hành nghề cơ bản là xong. Đồ ăn thì miễn bàn. Cái gì cũng có, trên rừng dưới biển, đa số xuất phát từ dân tộc Kinh.
Gọi là tửu quán nên tôi hay chăm chắm vào rượu. Điểm đáng lưu ý là rượu ở các quán này thường không có màu trắng. Thứ nào cũng đen đen đỏ đỏ với một đống nhì nhằng bên trong. Tên tuổi thì kinh khủng khiếp. Nếu không chan chát như Kim Dung nện nhau với Cổ Long cũng hạo hực ngang Minh Mạng đè ái phi mỹ nữ. Ẩm khách cứ là điên đaỏ, chưa nhấp môi mà đã rạo rực, miệng nói oang oang, chén nâng lia lịa bất kể sang hèn.
Lúc đã la đà, bạn thử khẽ dựa lưng vào tường và chậm mắt đưa quanh phòng. Hẳn sẽ phát hiện ra ngoài thơ của những thi nhân đã chết thì còn rất nhiều thơ của những đệ tử Lưu Linh còn đang sống, và say. Thường thì "tửu" đi với "sắc" nhưng lúc mà chưa dùng đến "sắc" thì "tửu" với "thi" cũng hợp cạ tuyệt vời. Thơ được cào trên mặt bàn, nguệch ngoạc trên tường vôi, lôi thôi treo lủng lẳng bên cửa sổ. Đọc lên, không những Nguyễn Bính mà cả Vũ Hoàng Chương cũng phải bật dậy đòi bản quyền.
Cái thứ nếp quê dẫu không đựng trong vò nút lá chuối thì nó vẫn ngon. Sự độc ác của các cụ ta xưa là đã truyền lại cái bí quyết dã man làm chén nếp quê thơm đã đành, cay đã đành, ngọt vừa đủ giọng đã đành mà lại còn thăng hoa bẽn lẽn trong huyết quản. Cái sự đòng đanh ấy làm người ta cảm thấy mình còn chới với, mà muốn mình không rơi tõm vào cái cõi u minh khó cưỡng nào đấy thì chỉ còn cách làm thêm một chén chết tiệt thứ hai. Anh và tôi cũng không phải anh hùng tửu hận gì, nên cũng thế, và chai rượu nó vơi đi sắp nhìn thấy đaý.
Rượu uống lúc nào chẳng được. Buồn vui chơi tất. Ấy nhưng thằng tôi chỉ khoái nhất lúc được mộng Chí Phèo khi mình bất đắc chí. Chỉ bất đắc chí thôi, chứ để sa cơ rồi thì hỏng bét. Cái sự bất đắc chí ấy nó khó diễn giải lắm. Có lúc thấy tại người, có lúc thấy tại mình, có lúc do số phận, có lúc vì chiếc lá vàng khô đang ngã dúi dụi ngoài kia. Anh không bất đắc chí, tôi cũng thế. Nhưng mình giả vờ như thế đã sao. Chén cuối, anh dốc hết những hạt nếp béo tròn sậm sựt vào cổ. Đám hạt nếp vô tình kia, phải cơn cớ sụt sùi mà mang ra đổ nước sôi để nguội vào rồi lắc cho đến nhuyễn, độc ẩm quên đời cũng kém gì danh tửu nào đâu. Mùi khói thuốc đậm quá, tôi cũng định theo anh đổ chỗ nếp cái vào miệng nhưng rồi lại tặc lưỡi hất nó ra cái gạt tàn. Xem mùi hương nào át vía được nhau.
Đêm còn nhưng rượu cạn. Thật lâu trong quãng đời đã một đống tuổi của mình, tôi mới liếm mép vì vụng thèm hương nếp. Cái sự bất đắc chí kia, nhà người rời ta đi đâu rồi hả? Trốn đi đâu được, để ta mượn ông Lưu Quang Vũ hai sợi dây trói nghiến ngươi về:
...Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu...
Cái đêm tưởng nhớ ông Trịnh Công Sơn đã qua hơn 2 tháng. Bỗng hiện về cái cảnh một tên đàn ông trung tuổi, ngồi trong quán rượu ở ngõ 7 đường Thái Hà hôm ấy, cứ gào lên đòi được hát "Rơi lệ ru người". Rồi mượn rượu ru ta...
6/2004
Nhìn cái dáng anh đẩy chiếc xe máy vào nhà, tôi biết anh đã có tí men trong dạ. Mời bia, anh lắc đầu. Anh hất hàm vào cái góc dưới cầu thang xấu xí. Ở đó có lỉnh kỉnh chai lọ. Rượu quê ta đi!
Rượu thì ở đâu mà chẳng có. Thử lê la chừng dăm buổi, mới biết, Hà Nội mấy năm nay đâm chuộng rượu lạ lùng. Nói lạ bởi đất Bắc này không hợp với rượu thì còn nơi nào hợp, nhưng giờ nhiều quán rượu mọc ra la liệt theo cái cách chẳng giống thông thường. Thông thường là chén da lươn, chén hoa hồng ở quán cóc cơ. Mà cái "nước trắng" đấy phải uống "sếch". Nó đốt cái gì trong họng thì là chuyện của nó. Mình tự nguyện cơ mà.
Đằng này quán xá ríu ran. Nền xi măng, sàn gỗ với dăm mảnh chiếu coí, vài tấm thảm bện tròn tròn vuông vuông. Có quán ngồi ràn rạt khắp nhà, có nơi thì khách ngả nghiêng dọc bờ tường như sĩ tử xưa vào mùa lều chõng. Tên tuổi cũng vô chừng. Chiều Việt Bắc ở Yết Kiêu, Hoàng Hoa tửu ở Khâm Thiên, Chum 1 ở Châu Long, Tràng An tửu ở Nam Ngư, Mùa Hạ Vàng ở Hai Bà Trưng, 16 Nguyễn Chí Thanh (bạn tôi gọi là Hồng Lâu Mộng), rồi mấy quán quái quỉ gì ở ngõ 7 đường Thái Hà nữa, rồi bao nhiêu qúan không đề mỹ danh, chỉ cụt lủn tên chủ quán... Quán nào cũng đem mác "dân tộc" ra trưng khách. Gọi là dân tộc nhưng chắc chỉ có mặt một ít dân tộc ít người vùng núi phía Bắc, còn tịnh không thấy bóng dáng nếp cẩm, rượu cần ở đâu.
Trang trí quán xá có vẻ u tối một chút, kẻ vẽ loằng ngoàng bầu rượu nắm nem, chua thêm mấy dòng thơ say của kẻ sĩ đời Đường bên Taù... thế là thành khung cảnh dân tộc. Đến đoạn chỗ ngồi thì khác. Cũng dáng dấp dân tộc cơ mà là dân tộc Nhật nhiếc gì đó. Tức là ngồi phệt quanh mấy cái bàn vuông vức thấp chân. Tôi cứ phải chiếm ngay chỗ nào gần tường, nếu không thì mỏi lưng bỏ mẹ. Bầu rượu ngoằn ngoèo màu men Bát Tràng, ống trúc dùi lỗ chỗ bằng dùi sắt nung đỏ, một ít bát đũa thô lậu một tí. Dụng cụ hành nghề cơ bản là xong. Đồ ăn thì miễn bàn. Cái gì cũng có, trên rừng dưới biển, đa số xuất phát từ dân tộc Kinh.
Gọi là tửu quán nên tôi hay chăm chắm vào rượu. Điểm đáng lưu ý là rượu ở các quán này thường không có màu trắng. Thứ nào cũng đen đen đỏ đỏ với một đống nhì nhằng bên trong. Tên tuổi thì kinh khủng khiếp. Nếu không chan chát như Kim Dung nện nhau với Cổ Long cũng hạo hực ngang Minh Mạng đè ái phi mỹ nữ. Ẩm khách cứ là điên đaỏ, chưa nhấp môi mà đã rạo rực, miệng nói oang oang, chén nâng lia lịa bất kể sang hèn.
Lúc đã la đà, bạn thử khẽ dựa lưng vào tường và chậm mắt đưa quanh phòng. Hẳn sẽ phát hiện ra ngoài thơ của những thi nhân đã chết thì còn rất nhiều thơ của những đệ tử Lưu Linh còn đang sống, và say. Thường thì "tửu" đi với "sắc" nhưng lúc mà chưa dùng đến "sắc" thì "tửu" với "thi" cũng hợp cạ tuyệt vời. Thơ được cào trên mặt bàn, nguệch ngoạc trên tường vôi, lôi thôi treo lủng lẳng bên cửa sổ. Đọc lên, không những Nguyễn Bính mà cả Vũ Hoàng Chương cũng phải bật dậy đòi bản quyền.
Cái thứ nếp quê dẫu không đựng trong vò nút lá chuối thì nó vẫn ngon. Sự độc ác của các cụ ta xưa là đã truyền lại cái bí quyết dã man làm chén nếp quê thơm đã đành, cay đã đành, ngọt vừa đủ giọng đã đành mà lại còn thăng hoa bẽn lẽn trong huyết quản. Cái sự đòng đanh ấy làm người ta cảm thấy mình còn chới với, mà muốn mình không rơi tõm vào cái cõi u minh khó cưỡng nào đấy thì chỉ còn cách làm thêm một chén chết tiệt thứ hai. Anh và tôi cũng không phải anh hùng tửu hận gì, nên cũng thế, và chai rượu nó vơi đi sắp nhìn thấy đaý.
Rượu uống lúc nào chẳng được. Buồn vui chơi tất. Ấy nhưng thằng tôi chỉ khoái nhất lúc được mộng Chí Phèo khi mình bất đắc chí. Chỉ bất đắc chí thôi, chứ để sa cơ rồi thì hỏng bét. Cái sự bất đắc chí ấy nó khó diễn giải lắm. Có lúc thấy tại người, có lúc thấy tại mình, có lúc do số phận, có lúc vì chiếc lá vàng khô đang ngã dúi dụi ngoài kia. Anh không bất đắc chí, tôi cũng thế. Nhưng mình giả vờ như thế đã sao. Chén cuối, anh dốc hết những hạt nếp béo tròn sậm sựt vào cổ. Đám hạt nếp vô tình kia, phải cơn cớ sụt sùi mà mang ra đổ nước sôi để nguội vào rồi lắc cho đến nhuyễn, độc ẩm quên đời cũng kém gì danh tửu nào đâu. Mùi khói thuốc đậm quá, tôi cũng định theo anh đổ chỗ nếp cái vào miệng nhưng rồi lại tặc lưỡi hất nó ra cái gạt tàn. Xem mùi hương nào át vía được nhau.
Đêm còn nhưng rượu cạn. Thật lâu trong quãng đời đã một đống tuổi của mình, tôi mới liếm mép vì vụng thèm hương nếp. Cái sự bất đắc chí kia, nhà người rời ta đi đâu rồi hả? Trốn đi đâu được, để ta mượn ông Lưu Quang Vũ hai sợi dây trói nghiến ngươi về:
...Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu...
Cái đêm tưởng nhớ ông Trịnh Công Sơn đã qua hơn 2 tháng. Bỗng hiện về cái cảnh một tên đàn ông trung tuổi, ngồi trong quán rượu ở ngõ 7 đường Thái Hà hôm ấy, cứ gào lên đòi được hát "Rơi lệ ru người". Rồi mượn rượu ru ta...
6/2004