Đứng vững đến cùng!

2.
Va-xi-chin đi ra giữa bãi rừng thưa. Các chiến sĩ buồn rầu và mệt mỏi, dõi theo bóng người chỉ huy của mình. Anh bỗng khoát tay ra hiệu cho mọi người yên lặng. Anh nói ngắn gọn tình hình toàn đội đang bị vây hãm và bị chặn lại trước đầm lầy này.
-Bọn Đức cho rằng chúng ta sẽ bị tiêu diệt, sẽ không có lối thoát khỏi đây.-Nhưng chúng đã lầm. Chúng ta sẽ có lối thoát!-Vừa nói chính trị viên vừa chỉ ra phía đầm hồ.-Kia là lối thoát của chúng ta! Chỉ cần làm một đường nổi dài hai cây số qua đoạn đường lầy này…
Giờ đây quả là không có một lời kêu gọi hay mệnh lệnh nào có thể làm rung động những người chiến sĩ đã quá mệt mỏi, thiếu ngủ, thiếu ăn và phải chiến đấu liên tục bao lâu nay bằng những lời nó chân thực ngắn gọn như vậy của người chính trị viên. Các chiến sĩ tựa như có một sức mạnh mới không biết từ đâu tới! Họ đốn hạ những cây thông lớn, cưa những thân cây thẳng tắp và ghép lại với nhau xếp dần qua mặt đầm… và chiếc cầu ghép nổi đã hình thành. Ngay đêm hôm ấy một chiếc xe đầu tiên chở đầy đạn pháo đã đi thử qua con đường ghép này. Những thân cây oằn xuống, xô đẩy và kêu răng rắc dưới sức nặng chiếc xe. Thế nhưng chiếc xe vẫn lầm lũi tiến xa dần. Cuối cùng từ bên kia bờ người ta báo hiệu sang: chuyến xe đã qua hồ an toàn…
-Tốt rồi,-Va-xi-chin thở dài nhẹ nhõm và hạ lệnh cho đoàn xe bắt đầu đi qua.
Suốt đêm hôm ấy trong màn đêm mở ảo năm mười chiếc xe chở dạ pháo cùng các thương binh và đơn vị trực thuộc, qua đoạn đường ghép nổi đó, vượt đoạn đầm lầy chưa hề có ai đặt chân tới an toàn. Các chiến sĩ còn có sức dìu và mang hộ súng đạn cho những người yếu qua đầm. Rồi sau đấy đến lượt Cun-ga cũng lên xe và lái chiếc tăng “ba tư tấn” bò theo đoạn đường ghép. Các chiến sĩ công binh là những người đi sau cùng vừa đi vừa gài mìn trên con đuờng rút lui độc đáo đó.
Khi những tia nắng mặt trời đầu tiên vừa ló lên ở chân trời phía đông thì đội quân mà bọn Đức cho rằng đã bị tiêu diệt ấy bất ngờ đánh tập hậu vào sườn chúng bằng một đòn hết sức táo bạo. Đập tan sự kháng cự của địch, đội quân vận tải này tiến về phía quân ta đang chiến đấu ở khu vực phía tây làng Xốp-ca Lớn…
Thật khó mà tả nổi niềm vui sướng hon hỉ hiện lên như thế nào trên những khuôn mặt mệt mỏi và hốc hác của các chiến sĩ, những ánh mắt rạng rỡ khi biết rằng họ đã đến được vùng lãnh thổ không bị quân thù chiếm đóng.
Ngay ngày hôm ấy, sau khi đến gặp ban tham mưu trung đoàn mà đơn vị này được lệnh sát nhập vào, Va-xi-chin và Mi-cla-sốp được xe ô-tô đưa ngay về Lê-nin-grát-về bộ tham mưu mặt trận…
 
3.
Trung tá Tê-lê-va-rốp lấy tấm bản đồ trong tủ sắt ra. Mới đây tấm bản đồ này còn trong tay viên trung tá I-ô-gan Phơ-ran-xơ Lây-man, phó cục trưởng thứ nhất cục quân báo cụm quân “Noóc-đơ”. Ông trải tấm bản đồ lên bàn.
Ông cầm chiếc bút chì đỏ trong lọ gỗ đặt trên bàn và vân vê trong tay. Sau đó ông mở quyển vở khá dày, lần đọc từng trang cần thiết và tỏ vẻ hài lòng. Ông đánh dấu chữ thập đỏ sẫm lên những ký hiệu riêng của Lây-man. Mỗi dẫu chữ thập tương ứng cho một tiên điệp viên bị loại trừ.
Từ lâu này. Ôi! Chẳng biết là bao nhiêu lâu rồi Tê-lê-va-rốp chưa từng có cái cảm giác sung sướng vì công việc kết quả như vậy. Các tài liệu của “bộ chỉ huy-014” cục quân báo Đức đã chứng minh cho sự đúng đắn, chính xác về các nguồn tin mà cơ quan an ninh Lê-nin-grát đã thu thập được, nó đã mở thêm hướng hoạt động cho họ để giành thắng lợi mới trong cuộc đọ sức bí mật này. Ngay cả trước khi ban tham mưu mặt trận chưa có trong tay chiếc cặp của trung tá Lây-man, với bản danh sách tỉ mỉ thì cơ quan an ninh chũng ta đã nắm chắc được một bộ phận lớn, và làm mất hiệu lực-một bộ phận khác đang bị ban đặc biệt theo dõi, phát hiện. Tuy nhiên chưa thể khẳng định được rằng sẽ không còn những hang ổ nguy hiểm cài cắm sâu hơn mà chúng ta chưa phát hiện kịp, chưa nắm được chúng.
Tê-lê-va-rốp nhìn tấm bản đồ và thầm suy nghĩ:
-Thế là hầu như khắp khu vực này đều có nấm độc… Trong thành phố cũng vậy, ở ngoại ô, ở Lu-ga, ở Cra-xnô-gơ-va-đây-cơ và cả tít tận Kin-xi-péc nữa… Phía bắc thành phố lên tới cả Vư-boóc-ghe cũng có điệp viên của chúng. Chỉ có quân cảng Crôn-xtát là sạch sẽ. Không có một ký hiệu nào! Cơ quan phản gián hạm đội Ban-tích làm ăn khác đấy. Khá lắm, anh em Ban-tích cừ thật.
Trung úy trực ban đột ngột vào phòng trung tá. Anh còn trẻ dáng người cân đối.
-Báo cáo đồng chí trung tá, nhóm dã chiến đã lên xe.
-Được, được, tôi ra ngay đây.
Trung tá Tê-lê-va-rốp cẩn thận gấp tấm bản đồ ghi màng lưới điệp viên Đức, cất vào tủ sắt. Ông rút trong tập phích của Lây-man, một tấm phích nhỏ đã ngả màu vàng có ghi dòng chữ “Điệp viên 015”.
Bên trái tờ phích dán tấm ảnh một phụ nữ trẻ, xinh xắn, nét mặt tươi tỉnh. Một dòng chữ Đức rành rọt: Họ Miu-le, tên Mác-ta Liu-da, năm sinh 1911.
Ông ghi địa chỉ, ký hiệu loại máy thu phát vô tuyến, độ dài sóng, cột mã, giờ phát sóng rồi nhìn kỹ vào tấm ảnh của “nữ sinh viên Vin-ma” một kẻ tình nghi đã bị bắt giữ trướchiến sĩ ngàu chiến tranh xảy ra một tháng và đã trốn thoát. Có mối liên hệ nào giữa “nàng sinh viên Vin-ma” hồi ấy với Mác-ta Liu-da Miu-le hiện này không?
 
4.
Chiếc xe tải mui trần chở đầy chiến sĩ đang phóng trên đường phố tối tăm vắng lặng. Còi báo động vang lên. Thành phố sôi động hẳn. Từng luồng đèn pha vàng rực xuyên thẳng vào bầu trời đầy sao, chao đi đảo lại lùng quét tìm máy bay địch. Pháo phòng không hối hả điểm từng loạt ở phía ngoại ô. Tiếng đại liên ùng ục từng tràng dài. Các chiến sĩ đèn pha đã bắt được một tốp hai máy bay địch. Chúng bay lượn vòng vèo nghiêng ngả nhưng vẫn không thoát được những luồng ánh sáng đang chĩa thẳng vào.
Chiếc xe vẫn phóng đi tựa như không quan tâm tới những diễn biến xung quanh. Tiếng bom, tiếng súng phòng không, tiếng đại liên vang lên sau nó. Đây đó bùng lên những cột lửa và những đám cháy bập bùng. Bọn Đức ném bom cháy vào các phố đông dan. Bóng người Lây-man động nhấp nhô qua ánh lửa. Tiếng còi xe chữa cháy rú lên. Những chiếc xe “cấp cứu” phóng vun vút kéo theo những ánh đèn xanh biếc, nhấp nháy. Tiếng truyền lệnh lanh lảnh… Các chiến sĩ cứu thương vác cáng chạy hổi hả… Có cả tiếng kêu cứu thất thanh…
-Đồng chí chỉ huy nhìn kia!-Anh lái xe chỉ lên bầu trời. Từ trong màn đêm mờ sao một khối lửa lớn đang đâm thẳng xuống đất.
-Kia nữa… Chiếc thứ hai! Thấy chưa, phía ngoại ô kia kìa!…
Cả bỏ đuốc lớn nở tung tỏa ra xung quanh. Chiếc máy bay tan tác, những mảnh lớn vẫn cháy phừng phực lao xuống đất kẻ thành một vệt lửa dài trên bầu trời.
Chiếc xe vòng vào một phố vắng, mờ tối ở Matxcơva. Những ngôi nhà cổ có một tầng nối nhau chạy dọc hai bên đường phố, lẫn trong các hàng cây xanh.
Chiếc xe dừng lại giữa phố, cách khá xa ngôi nhà mà tên điệp viên đang ở. Các chiến sĩ vũ trang cùng trung úy nhảy xuống xe. Chàng trung úy gầy tập hợp chiến sĩ lại, định báo cáo trung tá, nhưng ông giơ tay ra hiệu không cần và đưa mắt kiểm tra từng người một. Họ chia ra làm hai tổ, tiến về phía ngôi nhà được xác định hình thành một vòng vây bán nguyệt.
Tê-lê-va-rốp và trung úy đi thẳng đến ngồi nhà đã được trinh sát kỹ. Một ngôi nhà bình thường cũ kỹ, hiền lanh, có ba cửa sổ trông ra mặt đường. Theo điều tra ban đầu của trung úy, thì người thuê căn nhà này là một phụ nữ trẻ sơ tán từ Vi-nhi-út tới.
Trung úy gõ từng chập ba tiếng một vào cửa. Lát sau nghe có tiếng đàn bà hỏi vọng ra, giọng ngái ngủ, lo lắng:
-Ai đấy? Ai ngoài ấy đấy?
-Mở cửa hộ, tôi đến gặp cô Liu-da, trung úy lên tiếng.
-Đợi cho chút xíu.
Tiếng then cài lách cách rồi tiếng xích loảng xoảng, tiếp đến tiếng cửa cót két mở ra. Trung úy lách ngay vào phòng ngoài và bấm đèn pin. Trước mặt anh là một bà già, gầy, thấp, vai choàng chiếc khăn vải lanh. Bị chói mắt, bà ta đưa tay lên che mặt.
-Cô Liu-da có ở nhà không?-trung úy hỏi.
-Đang ngủ. Hôm qua toàn đường phố đi đào hào chống tăng. Tôi cũng không được trừ. Cầu cho trời tru đất diệt thằng Hit-le đi.-Anh là gì với Liu-da đấy?
Nhưng khi thấy thêm mấy chiến sĩ cầm tiểu liên đi vào, bà già cụt hứng, im bặt. Trung úy và Tê-lê-va-rốp đề nghị bà già dẫn họ vào phòng Liu-da.
-Phòng cô ấy ở đâu?-Trung úy hỏi.
-Đây thôi,-bà già đáp và chỉ vào cánh cửa ngay trước mặt vẻ sợ hãi nhìn mấy người khách lạ lùng.
-Cô ấy ở một mình à?-Tê-lê-va-rốp hỏi.
-Từ tối đến giờ thì chỉ có một mình…
 
Bà già làm dấu thánh.
Trung úy định gõ cửa nhưng một cô gái đã xuất hiện khá đột ngột. Dáng người cân đối, tầm thước, làn tóc vàng sáng buông xuống đôi vai trần. Cô mặc chiếc áo ngủ xa tanh màu trắng, hai khuy dưới không cài để hở cặp đùi mập mạp. Trông bề ngoài cô ta trạc độ hai lăm tuổi. Từ thân hình toát lên vẻ tươi trẻ, khỏe mạnh.
-Các ông hỏi tôi?
-Vâng.
-Xin mời vào.
Họ vào phòng cô ta. Cửa sổ được dán kín giấy phòng không. Trên bàn một chiếc lọ cắm mấy bông hoa đã nở rộ. Mùi nước hoa thoang thoảng, dễ chịu. Thật sạch sẽ, lịch sự. “Ai có thể tin rằng, đây lại là hang ổ của một con gián điệp”,-trung tá thoáng nghĩ, đưa mắt quan sát nhanh căn phòng.
-Điện đài ở đâu?-Tê-lê-va-rốp hỏi ngay không cần bóng gió rào đón gì cả.
-Ông nói gì thế? Điện đài nào ở đây? Một nét mặt nhiên gượng gạo thoáng hiện trên khuôn mặt xinh đẹp cùng với nụ cười tỏ ra duyên dáng,-ông đùa gì lạ thế.
Tê-lê-va-rốp im lặng, nhìn ả người Đức một lúc. “Một cô ả lõi đời và cao tay,-ông thầm đánh giá.-Biết tự kiềm chế!”. Ông từ từ rút trong túi tấm phiếu điệp viên 015 và chìa ra trước mặt Mác-ta.
-Hình như đây là tấm ảnh của cô, còn đây là vân ngón tay cái của cô… và cả chữ ký nữa. Nào, cô Mác-ta Liu-da Miu-le, chúng ta sẽ nói chuyện cở mở với nhau chứ?
Nụ cười đưa tình biến mất trên đôi môi tươi tắn.
-Không, không, tôi sẽ không chối cãi đâu.
-Điện đài đâu?
-Liu-da kéo lật tấm thảm phủ ở sát chân giường lám lộ ra một ngăn tường.
-Lấy máy ra!-Tê-lê-va-rốp bình thản hạ lệnh tựa như đang nói một điều hết sức bình thuờng.
-Vâng, có ngay.
Liu-da với tay qua giường và lôi từ ngăn tường ra một rương gỗ nhỏ. Trong đó để một chiếc va-li con xách tay bằng da. Trung úy I-va-nốp cầm lấy và đặt lên bàn.
-Hết rồi?-Tê-lê-va-rốp hỏi.
-Vâng.
-Hãy mở ra xem.
Liu-da đến bên bàn. Cô mở va-li và trong đó lấp lánh chiếc máy thu phát xách tay rất xinh xắn.
-Chiếc máy không đến nỗi tồi,-Trung tá Tê-lê-va-rốp nhận xét.-Hãng “Tê-lê-phun-ken”. Cô còn nhớ thượng úy Xô-lô-man-kin không?
-Ồ, thưa ông, cái loại bồ bịch đó thì tôi có quá nhiều nên không nhớ hết được,-Liu-da nói, nét mặt cô tỏ ra khinh khỉnh.
-Cô đóng vai nữ sinh viên Vin-ma từ bao giờ?
-Từ, từ… Liu-da cố lảng tránh.
-Sửa soạn đồ đạc đi.
Tại cuộc hỏi cung đầu tiên, Liu-da đã thú nhận tất cả tội lỗi của mình, duy có buổi phát tin cuối cúng vừa đây là ả ta im lặng. Một giờ trước khi các chiến sĩ phản gián xuất hiện ả đã kịp phát đi một bức điện báo địa điểm kho lương thực chính của thành phố-khu kho lớn Ba-da-ép-xki.
 
[size=18:fa0c301b65]Phần hai-Đến miền đất lạ[/size]

Chương một

1.
Ma-ri-na Rúp-xô-va, hay như tên ghi trong hộ chiếu là An-na Run-ke, xuống bến tàu điện cuối cúng. Đi qua ba dãy phố, chị rẽ vào một ngõ nhỏ ở gần ngoại ô Brúc-xen. Những dãy nhà cũ xây bằng đá hộc, xám xịt cổ kính chen chúc nhau với các mái nhọn hình tháp nhô cao, dáng dấp giống như bàn tay những con chiên ngoan đạo đang thành kính cầu nguyện giữa bầu trời tháng Mười hai âm u. Ngõ phố vắng vẻ, chỉ còn thấy lờ mờ, mặt đường lát đá vuông vắn nhãn bóng. Chiếc xe hòm màu cỏ úa, to lớn nặng nề phủ bạt kín đang đỗ ở góc hiệu bánh mỳ che khuất gần hết nửa ngõ phố.
Liếc mắt nhìn chiếc xe lạ, Ma-ri-na nhẩm tính như vậy là ba ngày nay nó thường xuyên xuất hiện đúng vào lúc chập choạn tối này. Chẳng có gì đáng nghi ngờ cả-xe nào chả là xe.
Ma-ri-na rảo bước trở về căn phòng nhỏ của chị mà nửa tháng trước đây, sau khi hoàn toàn tình cờ và thần kỳ thoát khỏi cuộc bủa vây của bọn Giét-ta-pô. Chị đã phải chuyển đến Brúc-xen và đã được bố trí ở tại căn phòng thuê với giá phải chăng trong khu nhà lớn này. Đúng là những ngày thật nặng nề. Tất cả cơ quan báo chí, đài phát thanh địch đều làm rùm beng về thắng lợi dứt khoát sắp đạt được của sức mạnh quân sự Đức. Những chiếc loa tâm lý chiến không ngừng đưa tin về bước tiến như vũ bão của quân đội quốc trưởng đang tiến gần đến chân tường điện Crem-li và buổi lễ duyệt binh của những người chiến thắng sẽ được tổ chức ngay tại Hồng trường, đúng bào ngày lễ truyền thống của Cộng sản Bôn-sê-vích, mồng Bảy tháng Mười một năm một ngàn chín trăm bốn mươi mốt. Và cũng chính hôm mồng Bảy tháng Mười một mưa phùn lạnh lão ấy, Ma-ri-na đã chuyển được va-li đựng điện đài tới căn phòng nhỏ ở tầng bốn này một cách an toàn. Nhưng trong lòng chị lại ngổn ngang trăm mối vừa buồn rầu day dứt, vừa lo lắng đau xót. Ngay hôm ấy, sau khi thu xếp xong, bất chấp cả nguyên tắc bảo mật, chị đã khóa chặt cửa lại không kịp cởi áo khoác ngoài, liền bật máy thu. Ngón tau chị run run hồi hộp vặn chiếc núm tìm làn sóng đài phát thanh Mát-xcơ-va thân thuộc. Ở đấy đang có gì lạ? Liệu có gì bất hạnh xảy ra? Ai đang làm chủ ở đấy? Và chị đã không kìm được dòng nước mắt tự nhiên ứa ra khi từ trong máy khe khẽ vang lên giọng nói xiết bao thân thương quen thuộc của nữ phát thanh viên đang đọc bản tin cuối cùng trong ngày. Ma-ri-na còn nghe được phần cuối bản tin, qua đó chị cũng biết được cuộc diễu binh đã diễn ra trên Hồng trường, nhưng không phải là của chúng nó mà là cuộc diễu binh của Hồng quân. Hơn nữa lại còn nghe được một đoạn cuối bài diễn văn của Sta-lin… lòng nhẹ nhõm và thanh thản, chị cảm thấy dường như mình đang được ở nhà, đang đứng trên ngã tư phố A-rơ-bát, đang gặp những người thân yêu… Mát-xcơ-va vẫn còn đó, Mát-xcơ-va vẫn nguyên vẹn, vẫn đứng vững.
Ma-ri-na bất giác mỉm cười nhớ lại buổi phát thanh tường thuật ngày lễ tháng Mười một hôm ấy và bên tai chị vẫn còn vang vọng giọng nói hào hùng phấn khởi và trang trọng của người phát thanh viên Mát-xcơ-va. Còn gì vui bằng suốt một năm ròng rã sống ở đây chị không được nghe lấy một câu tiếng Nga nào cả. Đâu đâu cũng chỉ là tiếng Pháp thánh thót và cái thứ tiếng Đức đáng ghét. Nếu muốn nghe trộm đài Mát-xcơ-va thì chỉ được phép các bản tin bằng tiếng Pháp và Đức. Tuyệt đối không được nghe bằng tiếng Nga. Nguyên tắc nghiêm ngặt này là điều bắt buộc đối với tất cả các nhân viên tình báo khi sống ở xa Tổ quốc. Cuộc sống đã rèn cho Ma-ri-na quen suy nghĩ qua tiếng Đức hoặc tiếng Pháp và để khỏi quên tiếng mẹ đẻ thân yêu, đêm đêm chị thường tự cho phép mình trùm kín chăn khe khẽ đọc một vài bài thơ của Pu-skin mà chị đã học từ thời phổ thông.
Van-te Lan-gren đến An-véc-pen đột ngột và đúng vào lúc gay cấn nhất. Trước đây Ma-ri-na chưa được gặp cũng như chưa hề biết anh nhưng mới đây chỉ được báo tin là sẽ có “một đồng chí” của ta đến gặp chị. Van-te với chiếc va-li đựng điện đài và pin dự trữ, đưa vé tàu cho chị và hướng dẫn ga phải chuyển để đi đường vòng đến Brúc-xen, thủ đô Bỉ.
Xuống ga Brúc-xen, Ma-ri-na đến ngay trung tâm thành phố tìm quán cà phê nhỏ gần nhà băng quôc gia như họ hẹn gặp nhau, Van-te trao hộ chiếu mới cho Ma-ri-na mang tên An-na Run-ca, một ít tiền và địa chỉ thuê phòng.
-Bây giờ chị đi thẳng, qua ngã tư thì rẽ trái,-Van-te nói khẽ khi hai người rời quán giải khát.-Ở đó có hiệu uốn tóc nữ khá lắm. Chị phải làm lại tóc, phải cải dạng mái tóc đi. Nên nhuộc lại màu khác.
-Vâng, tôi sẽ làm ngay.-Ma-ri-na đáp.
-Chưa hết đâu. Chị nên nghĩ cách nào đó thay đổi đặc điểm trên mặt nữa.-Van-te vừa nói vừa ngắm khuôn mặt chị làm Ma-ri-na hơi ngượng.-Nên tạo một nốt ruồi hay hạt cơm nhỏ ở đâu đấy. Tóm lại chị phải có gì đổi khác so với lúc ở đấy.
 
Anh không nói rõ là như lúc ở An-véc-pen nhưng thế cũng đủ hiểu. Ma-ri-na muốn đi cạnh người chỉ huy mới của mình một lúc nữa, nhưng anh đã chào tạm biệt và quay đi ngay.
Tên họ thật của Van-te là gì, dĩ nhiên Ma-ri-na không biết được. Nhưng không hiểu sao chị có cảm giác là, ở bên ấy, ở nước Nga quê hương, anh có tên gọi thật giản dị và đáng yêu-Va-nhia và anh sinh ra, lớn lên nơi nào đó ở vùng U-ran. Song hỏi Van-te thì không muốn vì chị biết công việc của họ phải hết sức thận trọng, họ không được phép tò mò tới những việc không liên quan và thật ra nếu có cố hỏi thì anh ta cũng chỉ cười xòa lảng tránh bằng một câu đùa vui khác thôi.
Những cuộc tiếp xúc của họ thường nhanh gọn, ngắn ngủi đến mức những người xung quanh không hề nghĩ rằng họ quen biết nhau. Trong những buổi gặp như vậy, Van-te chỉ kín đáo trao cho chị bao diêm hoặc một vài thứ gì đó bên trong có cuộn tổ sâu một vài tờ giấy mỏng dính chưa đựng nội dung một bức điện, một báo cáo khẩn cấp nào đấy. Ma-ri-na phải mã hóa nó và chuyển ngay về Trung tâm. Nếu có mệnh lệnh hoặc các yêu cầu của Trung tâm thì Ma-ri-na lại chuyển cho Van-te.
Buổi gặp thường lệ hôm nay chị lại nhận được chiếc bao diêm. Cất cẩn thận bao diêm vào túi xách tay đựng vài thứ lặt vặt khác như mẩu sáp môi, lọ nước hoa Pa-ri và ví tiền. Tất cả chỉ có thế vì biết làm sao hơn được trong hoàn cảnh chị phải tiết kiệm tiêu dùng mọi thứ, trừ những thứ thật cần thiết.
Ma-ri-na trở về ngôi nhà cũ kỹ, thong thả bước theo cầu thang lên lầu bốn, vào phòng xong liền đóng chặt ngay cửa lại. Cởi áo khoác, việc đầu tiên của chị là nhóm lò đun nước. Quàng chiếc khăn ấm lên đầu, chị đến giá sách lấy cuốn “Ba người lính ngự lâm” của Đuy-ma và bước lại bàn vừa lần giở trang cần thiêt. Rút mẩu giấy cuộn thuốc lá trong bao diêm ra, chị chăm chú đọc những hàng chữ thẳng tắp, nét chữ cứng cáp rõ ràng và ngồi xuống dịch mã. Từng dãy cột số dần dần hiện ra trên tờ giấy học sinh bình thường.
Soát lại lần nữa bản dịch mã, Ma-ri-na đến bên bếp lửa, dí mẩu giấy thuốc lá vào ngọn lửa đang reo. Trong nháy mắt, mẩu giấy đã biến thành đám tro tàn. Giờ đây, ngoài Ma-ri-na ra, có thể nói trên châu Âu này không còn ai có thể đọc được những dõng chữ số bí hiểm này nữa.
Ma-ri-na vừa nhìn bếp lửa, vừa thầm nghĩ đến người đồng chí bí mật chưa hề quen biết nào đó đã phải mạo hiểm ra sao để lấy những tin quan trọng và giá trị này. Người đó là ai? Chẳng hiểu vì sao bỗng dưng Ma-ri-na lại hình dung rằng nhất định đấy là một con người to lớn, đẹp trai.
Ở Brúc-xen này, khi nhận từ tay Van-te bản tin Ma-ri-na đã để ý ngay đến nét chữ cứng cáp, rõ ràng giống như nét chữ trong các bản tin khi còn ở An-véc-pen. Ở đấy người chuyển tin cho chị là Han-xơ, một người Đức tuổi trung niên dáng chắc nịch và thái độ rất lịch thiệp. Có thể cũng chính là nét chữ của Han-xơ, nhưng Ma-ri-na gạt bỏ ngay giả thiết này vì chính chị đã chứng kiến bọn phát-xít giết anh như thế nào. Có thể nói anh ấy đã hy sinh ngay trước mắt chị và nhờ đó chị đã thoát khỏi cuộc bủa vây của chúng.
Hôm ấy chị đến chỗ hẹn muộn nên phải đi tắc-xi. Gần đến chỗ hẹn ở đài phun nước, Ma-ri-na từ xa đã trông thấy Han-xơ. Anh đứng quay lưng về phía chị, tay cầm tờ báo. Qua cửa kính tắc-xi, Ma-ri-na bỗng thấy hai người đàn ông mặc thường phục và một tên Giét-ta-pô tiến đến sau lưng anh.
Ma-ri-na không nhớ rõ mình đã hét lên như thế nào với lái xe mà chỉ nhớ là chị đã run lên kinh hoàng, líu lưỡi bảo anh ta quay ngay xe lại hướng cũ, chạy thật nhanh thoát khỏi chỗ Han-xơ đang đứng. Người lái xe đứng tuổi sợ hãi, không muốn dính vào chuyện nguy hiểm, thốt lên một lời chửi thề rồi vòng ngay xe lại, rú ga phóng như bay về đường cũ. Khi Ma-ri-na bình thâm lại thì họ đã ở xa trung tâm, đã ra đến ngoại ô An-véc-pen.
-Khóc đủ rồi đấy, người lái xe nói giọng cau có khi thấy Ma-ri-na vẫn thổn thức.-Hãy bình tĩnh lại đi.
Ma-ri-na vừa gật đầu vừa lau nhanh nước mắt. Đợi cho người khách lạ bình tâm hẳn, ông ta mới cho xe đỗ gần bến xe buýt.
-Thưa bà, mong bà hiểu cho, tôi cũng là người yêu nước Bỉ thân yêu của tôi. Tôi cũng căm thù bọn phát-xít! Nhưng mong bà thông cảm và tha lỗi cho vì trên vai tôi còn sáu đứa con nhỏ.-ông vừa nói vừa vỗ vỗ bàn tay lên chiếc cổ cháy nắng.-Tôi còn sáu đứa con, bà hiểu chưa?
-Để tôi trả tiền… Ma-ri-na nhìn vào đồng hồ báo số ki-lô-mét và biết ngay rằng mình không đủ tiền trả.
-Thôi, không cần đâu,-người lái xe lầu bầu.-Tốt nhất xin bà hãy quên chiếc xe tôi đi. Bà cứ coi như chưa bao giờ đi tắc-xi cả.
-Xin cảm ơn ông, cảm ơn ông rất nhiều…
Chờ Ma-ri-na xuống khỏi xe, ông ta liền vòng gấp đưa chiếc “Rơ-nô” về hướng cũ.
Ma-ri-na đứng lại bên vệ đường một lúc, đôi mắt vẫn trân trần nhìn thẳng những chị chẳng nhìn thấy gì cả. Trong đầu óc vẫn còn đọng lại rõ ràng hình ảnh kinh hoàng trước đài phun nước. Chị như vẫn nhìn thấy rõ ràng, hai tên mật vụ đã bất ngờ xô Han-xơ ngã ngay vào chiếc xe ô-tô đang phóng tới và chồm lên anh, chạy thẳng. Đây là lần đầu tiên chị chứng kiến vụ giết người Ma-ri-na rợ do bọn phát-xít gây ra trước mắt mình. Thật dã man không thể hiểu nổi.
Trời cuối thu nên ngày chóng tối. Từ phía kênh đào trải dài một dải sáng xanh mờ ảo dọc theo đường lớn, gió biển ấm áp thổi nhẹ vào thành phố. Phía chân trời mặt trăng lấp ló sau đám mây đang cố nhô cao chậm chạp như bóng ma mờ ảo buồn tẻ của một ngày thu tàn.
Ma-ri-na lặng lẽ chậm rãi cất bước dọc theo bờ kênh, nhớ lại một câu đã đọc trong tờ báo cách đây không lâu: “Chiến tranh-là sự điên loạn cao nhất của con người”. Hôm nay chị đã biết thế nào là chiến tranh.
Chị uể oải bước dọc theo bờ kênh, lòng ngổn ngang suy nghĩ. Cuộc sống xếp đặt thật kỳ lạ. Chỉ là một trường hợp ngẫu nhiên đã cứu chị. Nếu như bà chủ nhà không tự dưng giữ chị lại ở chân cầu thang để huyên thuyên ca cẩm về tư cách bọn thanh niên ngày nay toàn là một bọn hư hỏng. Và nếu không có mấy phút dừng chân bất đắc dĩ đó thì có lẽ Ma-ri-na đã xa vào móng vuốt bọn Giét-ta-pô cùng với Han-xơ rồi.
Chị đi ô-tô buýt về thành phố. Sau đó chị biết rằng một tên khiêu khích đã khai ra Han-xơ ngay cái đêm chị chuyển chiếc va-li đựng điện đài đến căn phòng dự bị.
… Tất cả những hồi ức này cứ dồn dập đến ngay khi chị đang điều khiển điện đài phóng lên không trung những tín hiệu quy ước. Một lát sau, chị đã chuyển tiếp những con số lần lượt từ cột này đến cột khác. Trong những phút giây ngắn ngủi ấy chưa bao giờ chị cảm thấy mình gần gũi Tổ quốc thân yêu như vậy, chưa bao giờ cảm thấy sự đóng góp nhỏ bé của mình vào cuộc chiến tranh vĩ đại lại cụ thể và quan trọng như vậy. Làm xong buổi liên lạc thường kỳ mà Ma-ri-na vẫn thường ví như những “loạt liên thanh”, chị đốt ngay tờ giấy sao điện và cất giấu điện đài.
Chị vui sướng vì buổi liên lạc diễn ra tốt đẹp, người ta tiếp nhận tín hiệu của chị ngay từ “loạt đạn đầu”.
 
2.
Gió thổi mạnh, phả những hạt tuyết nhỏ lạnh buốt vào mặt, vào mắt. Mi-cla-sốp kéo chiếc cổ áo da lông cừu dày trùm kín mặt thong thả dạo quanh trận địa đèn pha. Tuyết lạo xạo dưới chân. “Băng đã cứng rồi?!-Tốt quá!-Anh thầm nghĩ khi nhìn về xa xa, nơi đoàn xe tải đang chậm chạp bò trên mặt hồ La-đô-ga đóng băng cứng ngắt và từ đấy đang vọng lại tiếng động cơ ì ầm nặng nề. Băng cứng thật có lợi cho chúng ta, đường đi sẽ chắc hơn”.
Bước tới hầm đặt đèn pha giữa các tảng băng lớn, nước hai bên thành hầm chảy ri rỉ, anh chui vào chiếc lều bạt đang trĩu xuống vì tuyết phủ dầy. Gió đang dồn tuyết lại trên mái lều. “Cần phải quét sạch nó đi,-anh quyết định,-nếu không thì toàn đội sẽ bị chìm trong tuyết và không xoay xở gì được khi có báo động”. Hồ La-đô-ga đông băng hun hút gió mang theo từng đợt tuyết dồn thành đống to lù lù trên mặt đường băng, án ngữ cả đoàn xe tải đang nối đuôi nhau theo khoảng cách đều đặn kéo dài từ bờ bên này sang bờ bên kia. Tuy vậy, đoàn xe vẫn lầm lũi bò đi. Các đoàn xe từ hướng đông tới xe nào cũng chất đầy hàng phủ kín vải bạt. Nó chở đến Lê-nin-grát đang bị phong tỏa nào thực phẩm, chất đốt, đạn dược, thuốc men. Còn các đoàn xe từ hướng tây sang thì chở nặng máy móc, thiết bị quý giá của các nhà máy và xí nghiệp lớn ra khỏi Lê-nin-grát.
Việc vận chuyển trên con đường băng liên tục suốt ngày đêm, đã nhiều làn bọn Đức cố tình cắt đứt sợi chỉ mỏng manh nhưng vô cùng quan trọng này. Không quân của chúng đã tấn công hầu như từng ki-lô-mét đường nhưng những trận bom đó cũng không mang lại kết quả gì đáng kể. Mạng lưới phòng không dày đặc đã bảo vệ vững chắc tuyến đường băng thiên tạo này. Các ụ súng đặt ngay trên mặt băng. Thời kỳ đầu, lúc băng chưa thật cứng, một vài khẩu pháo đã bị lăn xuống hồ… Người dân Lê-nin-grát đã nhanh chóng dùng đệm mềm lót cho pháo để khi bắn chúng không bị trơn tuột mỗi khi giật lùi lại sau. Bọn giặc lái Đức đã quyết định chuyển sang đánh đêm. Khi bay đến mục tiêu chúng ném pháo sáng xuống trước và từng đoàn xe hiện rõ ngay trong tầm mắt chúng. Để đánh trả bọn cướp đêm này, suốt dọc tuyến đường đã được bố trí gần trăm ngọn đèn pha mạnh đủ độ sáng bắt mục tiêu cho pháo và các loại súng phòng không bắn được chính xác.
Mi-cla-sốp chỉ huy một trong những đội đèn pha đó. Anh trở về đơn vị mình từ đầu tháng Tám sau khi tạm thời nhập vào đội đột kích của thiếu tá Va-xi-chin chọc thủng vòng vây quân Đức tìm đường về phía quân ta. Đầu tiên họ được phân công bảo vệ sân bay gần thị trấn Can-mu-lốp và về sau được điều về hồ La-đô-ga vào đầu tháng Chạp. Sau vài ngày ra sức xây dựng trận địa họ đã dựng lên trên mặt băng lạnh giá này đầy đủ công sự cho đèn, hầm chỉ huy, ngụy trang xe kéo đèn và mọi lều trại khác.
Do thành tích chiến đấu dũng cảm từ những ngày đầu chiến tranh, nhất là thành tích bắt được tài liệu quan trọng trong chiếc xe tham mưu Đức, Mi-cla-sốp được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ đúng vào ngày lễ tháng Mười năm bốn mốt. Anh được mời đến điện Xmôn-nưi. Chuyến đi này để lại trong anh nhiều kỷ niệm khó quên. Sau lễ trao tặng huân chương những người nhận phần thưởng cao quý được mời dự chiêu đãi của bộ tư lệnh mặt trận. Từ ngày đầu chiến tranh đến hôm ấy, lần đầu tiên họ được thưởng thức một bữa ăn ngon lành như vậy. Mỗi người được mời một đĩa cháo kiều mạch thơm phức và béo ngậy. Rồi đến món lợn quay béo ròn, bí tết vàng rộm cùng những cốc vốt-ca đầy tràn. Sau cùng là những chiếc ca nhôm nước trà đường nóng bỏng. Món cháo giản dị hôm ấy hóa ra lại là món ăn ngon nhất, Từ cái ngày đáng ghi nhớ đó đã trong một tháng và cũng từ đấy thỉnh thoảng trước mặt những người lính đèn pha, lính phòng không ở đây cũng có được những ca cháo kiều mạch béo ngậy như vậy.
“Hôm nay bao nhiêu độ nhỉ”-Xốc lại khẩu tiểu liên trước ngực, Mi-cla-sốp thầm hỏi khi gần đến đống tuyết lớn. Giờ đây hầm của họ đã vững chãi hơn. Nó dựng thành một túp lều được bao bọc bởi một lớp tường tuyết dày. Nhờ vậy bên trong “nhà” ấm hơn. Gió không thể thổi vào được nữa. Từ ngoài hoặc trên cao nhìn vào thì nó chỉ là một đống tuyết lớn, không hơn không kém, rất khó phát hiện.
Cửa hầm được đóng một tấm phớt và do bị không khí lạnh làm đông cứng lại nên càng chắc chắn hơn. Trên cánh cửa đó người ta đã khoét một lỗ vuông nhỏ lắp kính và treo chiếc hàn thử biểu vào đấy. Họ tình cờ nhặt được cái đo nhiệt độ này ở trong làng nơi mà các chiến sĩ thường gọi là “miền đất lớn”, gần sân bay.
Mi-cla-sốp lấy tay chùi những hạt tuyết xù xì bám trên bảng chia độ. Cột thủy ngân hạ xuống con số âm 30 và đang có cơ tụt dần xuống con số âm 40 độ.
Ráng chiều lờ mờ của buổi hoàng hôn giống như ánh phản chiếu yết ớt của một đám cháy đang tắt dần báo hiệu một đêm đông giá lạnh đang đổ xuống hồ La-đô-ga.
 
Chương hai

1.
Mệnh lệnh của bộ chỉ huy mặt trận Lê-nin-grát chỉ vẻn vẹn một cậu vắn tắt: “Tìm mọi cách chuyển ngay lữ đoàn tăng qua hồ La-đô-ga để yểm hộ cho quân đoàn 54”. Quân đoàn chiến đấu ở mạn bắc hồ, đã tiến tới sát ga Vôi-bô-can-lơ và đang tiến xuống phía nam đường sắt. Sau khi giải phóng thị trấn Chi-khơ-vi-na thì mọi điều đã rõ ràng: chỉ cần cố gắng thêm chút nữa là sẽ cắt đứt được vòng vây hướng bắc…
Các cán bộ kỹ thuật Cục công binh mặt trận đang nát óc tập trung tính toán. Làm thế nào để chuyển được những chiếc tăng nặng nề này? Băng tuy đã phủ kín mặt hồ nhưng chưa đủ độ cứng cho xe tăng đi qua. Con đường băng mới chỉ bắt đầu hoạt động. Ô-tô phải đi cách xa nhau theo một cự ly nghiêm ngặt. Nhưng đây lại là những chiếc xe tăng.
Thời gian dành cho các kỹ sư quân sự rất eo hẹp. Họ phải tìm ra biện pháp để sáng hôm sau trình lên Hội đồng quân sự mặt trận. Theo đề nghị người ta đã cho mời đến điện Xmôn-nưi một kỹ sư nổi tiếng về lý luận tính toán chính xác làm cố vấn. Ông la người đã từng nổi tiếng về những tính toán và những giải pháp độc đáo khác thường.
Vị kỹ sư già ngồi lâu trên đệm ghế bọc da xanh, loay hoay tính toán, mặt đăm đăm trước những hàng số dài trên tờ giấy trắng. Đôi mắt trũng sâu có vẻ sắc sảo. Những ngón tay vàng nhạt thiếu máu vẫn loay hoay với chiếc bút chì vót nhọn.
-Đây là tất cả những gì tôi có thể tính ra được.-Một lát sau, ông vừa ngẩng lên nói vừa đưa tờ giấy chi chít số liệu cho cục trưởng công binh xem.-Phải làm gấp những tấm phà trượt do máy kéo chạy xích kéo. Còn với độ dày của băng như hiện nay mà dùng những biện pháp kỹ thuật khác thì, xin lỗi, tôi chưa nghĩ ra được.
Thời gian còn rất ít. Bản thiết kế “phà trượt tuyết” đã được tính toán xong ngay trong sáng hôm sau. Trưa hôm đó, công nhân nhà máy cơ khí Ban-tích được giao nhiệm vụ khẩn cấp thực hiện đơn đặt hàng đột xuất của Hội đồng quân sự mặt trận. Các đơn vị công binh và lính cầu phao cũng bắt tay chuẩn bị con đường băng trên hồ La-đô-ga.
 
2.
Lữ đoàn tăng tập kết bên bờ hồ La-đô-ga lúc gần tối. Gượng gạo ấn sâu chiếc mũ lông lên đầu, Gri-gô-ri Cun-ga bước ra khỏi xe. Trước mắt anh trải dài một biển băng trắng xóa, trên phủ một lớp tuyết mỏng. Một tia nắng mỏng manh bị lấp sau đám mây đen xám dày đặc cố chiếu một vệt sáng lên mặt tuyết trắng. Những đám cây trần trụi cố ngoi lên khỏi mặt tuyết. Những hàng thông non cong chĩu dưới sức nặng của những chùm tuyết phủ. Xung quanh lặng lẽ vắng vẻ. Mọi sinh vật hình như cố trốn khỏi cái lạnh băng giá.
Các chiến sĩ xe tăng xúm lại quanh Cun-ga. Họ cũng cứ đứng như vậy với đội trưởng, im lặng rít từng hơi thuốc dài và ngắn nhìn hồ băng La-đô-ga bao la. Quanh họ từng tảng băng nhấp nhô trông như những nấm mồ. Những đống tuyết màu xanh nhạt bị gió cuốn lại cũng đang biến thành băng va chen chúc chồng chất lên nhau trông thật cầu kỳ.
-Chà, thú vị thật. Công binh định đưa chúng mình sang hồ bằng cách nào nhỉ?-Nốp-gô-rốt-kin, giậm chân trên tuyết, hỏi bâng quơ.
-Họ chở chúng ta qua sẽ dễ dàng thôi, nhưng còn xe thì sao nhỉ?-Một giọng khác cũng cất lên.
Sau lưng họ, phía xa xa vọng lại tiếng máy kéo dồn dập. Một lát sau lù lù hiện ra những chiếc máy kéo chạy bánh xích nặng nề và chậm chạp bò trên mặt băng. Một chiếc xe xích đang kéo theo một cái bệ sắt to tựa chiếc phà kỳ dị trên đòn trượt.
Có thể nhìn thấy rõ lớp băng rạn rung rung dưới sức nặng của máy kéo.
-A hà, ra vậy đấy!-Cun-ga kéo dài giọng vẻ ngỡ ngàng. Như một bài hát đã viết,-Nốp-gô-rốt-kin phụ họa theo,-“Và không ai biết, ngôi mộ nhỏ của tôi ở đâu”.
Máy kéo kêu phành phạch nặng nề lôi theo chiếc phà trượt tuyết tiến tới gần các xe tăng. Một chiếc xe con phóng đến cạnh nó theo đám bụi tuyết mù mịt. Lữ đoàn trưởng bước ra khỏi xe. Gió thổi tà áo ca-pốt ông bay phần phật. Tay chống gậy, ông bước khập khiễng. Mới tuần trước, khi chỉ huy trận đánh trả ở Li-gô-vo ông đã bị thương nhẹ ở chân.
-Băng thế nào? Chịu được chứ?
-Báo cáo thủ trưởng, mới chỉ kéo thử thôi ạ,-thiếu tá trung đoàn trưởng công binh, người chắc đậm đưa tay lên vành mũ báo cáo.
-Liệu băng có chịu được sức nặng của xe tăng không?
-Phải có người thí nghiệm trước đã, thưa đồng chí trung tá. Lữ đoàn trưởng quay nghìn các chiến sĩ xe tăng đang túm tụm lại xem và nghe ngóng với vẻ thất vọng.
-Đồng chí trung tá, xin cho phép tôi đi thử,-Không đợi trung tá trả lời, Cun-ga chạy tới bên anh lính công binh,-khắc đi khắc biết? Cứ chỉ cho tôi biết phải lên ở chỗ nào nào.
Clim Ti-mô-phê-ép nhìn đội trưởng Cun-ga như muốn hỏi:-Việc gì phải liều mạng với chiếc tăng quý giá này? Cun-ga như đọc thấy ý nghĩ của người chiến sĩ lái qua cái nhìn của anh ta, anh có vẻ không hài lòng, lầu bầu ra lệnh:
-Cho xe lên!
-Sao?-Ti-mô-phê-ép hỏi lại, làm như không nghe rõ lệnh của Cun-ga.
-Tôi nói là cho xe lên. Tôi sẽ lái vậy.
Chiếc xe nặng hàng chục tấn rú ga từ từ bò lên chiếc phà khổng lồ kỳ lạ ghép bằng những tấm thép lớn và gỗ dày. Cun-ga thò đầu lên tháp xe, khuôn mặt sạm nắng gió lọ vẻ căng thẳng. Anh vẫy tay ra hiệu cho chiến sĩ lái máy kéo:
-Đi đi!
Người lái gạt cần lái, máy kéo rú ga nhích lên kéo căng những sợ cáp thép lôi theo chiếc phà trườn đi trên băng. Băng dưới bánh xích rung lên, kêu răng rắc vỡ vụn ra. Trong tiếng máy nổ ầm ì nghe rõ tiếng băng nứt tanh tách nguy hiểm. Anh cứ nhấp nhổm dướn người ra quan sát. Toàn thân anh nhô hẳn lên, sẵn sàng nhảy ra khỏi xe trong nháy mắt nếu có sự cố. Nhưng ngay lúc ấy sau lưng anh vẳng lên những tiếng kêu vui mừng:
-Đi, đi được… Được rồi!…
Chàng khổng lồ “ba tư tấn” bệ vệ trên chiếc phà kéo đồ sộ từ từ tiến sâu vào cánh đồng băng. Chiếc máy kéo như rắn hết hơi sức, rú lên sằng sặc cố lôi chiếc phà trượt đi theo. Băng bị nghiền nát tung lên dưới vành bánh xích.
-Thôi, dừng lại. Phải nối thêm chiếc thứ hai vào. Cả hai cùng kéo một lúc.
-Chiếc máy kéo thứ hai được điều đến. Anh công nhân lái máy trong bộ quần áo bạt lấm đầy dầu mỡ ngồi sau tay lái, mắt đảo nhìn dưới vành mũ. Máy kéo dừng lại chờ nối tời, một vệt dầu loang trên mặt băng tạo nên vết sẫm.
-Nào, kéo đều vào.-Thiếu ta ra lệnh.
Hai cỗ máy nổ giòn giã. Băng vỡ tan kêu răng rắc dưới vành bánh xích. Cun-ga vẫn ngồi im cố hút xong điếu thuốc cuộn, bỗng khẽ kêu lên:
-Đồng chí thiếu tá, xin đề nghị một điều. Đồng chí cho tôi thử qua một mình, được không ạ?
-Sao, không thể ngồi yên được à?
-Với cái kiểu đi như du lịch này thì sốt ruột lắm. Xin thủ trưởng để tôi đi thử bằng cách của tôi… Băng vẫn cứng, đồng chí cứ cho tôi thử xem…
-Thôi được, cứ thử xem sao…-Thiếu tá đồng ý, nhưng rồi vội nói thêm,-nhưng cứ yên tâm thượng sĩ ạ, có kềnh xuống đáy hồ thì chúng tôi sẽ vớt lên!
 
Theo lệnh thiếu tá, một nhóm bộ đội công binh khẩn trương kê những cây gỗ tròn xuống đầu chiếc phà kéo. Cun-ga cắn môi rú ga, nhích chiếc tăng trườn lên, rời khỏi phà, nhả từng cuộn khói trắng. Cứnhư vậy nó bò một cách thận trọng đầy tự tin dường như cảm thấy băng dưới bụng nó vẫn vững.
-Không được dừng lại! Cứ đi tiếp đi!
Chính Cun-ga cũng biết dừng lại bây giờ là rất nguy hiểm.
Băng kêu ken két dưới hai vành xích nhưng không thấy kẽ nứt. Đó mới là điều đáng mừng. Cắn chặt môi, Cun-ga vẫn lạnh lùng dẫn khối thép khổng lồ ấy chậm chạp tiến lên, hướng sang phía bờ trước mặt. Anh tiến như dò từng mét một trên mặt hồ băng sáng bóng. Cun-ga bẻ cổ áo xuống, hít một hơi dài nhưng anh không cảm thấy làn gió tuyết đang phả vào mặt cái không khí lạnh buốt. Anh chỉ cảm thấy nóng bừng và phấn khởi trước thành công táo bạo của mình. Và biện pháp mới đã được quyết định: cần phải làm nhẹ bớt trọng lượng của tăng bằng cách tháo vỏ xe, dỡ tháp pháo. Mệnh lệnh đưa ra, các loại ô-tô trục, dây tời thép được cấp tốc điều đến cùng với các đội bốc dỡ, lắp ráp. Cun-ga cùng các chiến sĩ tăng đăm đăm nhìn họ làm việc. Các xe tăng còn lại đều được tháo dỡ bớt các phần nặng.
-Nào thượng sĩ, bắt đầu đi!…
Cun-ga thoải mái ngồi vào chiếc tăng vừa được tháo dỡ xong. Ghế trống hoác rộng rãi. Anh nổ máy, chiếc xe rùng mình xông lên làm ta có cảm giác như có một sức mạnh điên cuồng trong tiếng máy nổ hối hả của nó.
-Tiến lên!-Thiếu tá vẫy chiếc găng tay da.-Tiến lên từ từ thôi.
Chiếc tăng trần trụi tự tin nghiên vành xích lên những tay đòn gỗ tròn, trườn đi thận trọng. Băng kêu răng rắc và có chỗ võng xuống.
-Chú ý đừng giật ga mạnh.-Thiếu tá vẫn bám theo, hét lên nhắc Cun-ga.-Đừng rồ máy như vậy!
Bỗng một chiếc xe tải đang chạy cách bên trái xe tăng mười mét bị lao sập xuống một hố băng. Những chiếc xuồng cao su trên thùng xe bị đổ dồn vào nhau. Đội cấp cứu liền phóng đến. Cùng với xe cấp cứu là chiếc xe chạy bằng cáng trượt tuyết của Cục trưởng công bing mặt trận, thiếu tá tiểu đoàn trưởng công binh và ba sĩ quan khác. Xe họ đi song song với xe Cun-ga. Họ thường dừng lại, bước xuống mặt băng, xem xét, gõ gõ và ghé sát tai xuống mặt băng lắng nghe. Đi theo xe tăng khoảng nửa ki-lô-mét, họ vẫy tay tạm biệt Cun-ga. Cun-ga đưa tay lên vành mũi chào đáp lễ xong liền giơ một ngón tay cái lên cao, dứ dứ trong không trung,-một lời hứa thầm lặng đầy ý nghĩa.
Khoảng ba giờ sau, chuông điện thoại réo vang trong chỉ huy sở mặt trận. Từ bờ hồ La-đô-ga người ta báo cáo: “Lọ mật ong đã tới”. Mọi người thở phào nhẹ nhõm: Tăng đã qua sông an toàn. Cuộc thử nghiệm đã thành công tốt đẹp,-Mặt bằng đã chịu được sức nặng của xe tăng!…
Ngày hôm ấy trên bờ tây hồ La-đô-ga nhanh chóng mọc lên những xưởng lắp ráp dã chiến. Công nhân các nhà máy xe tăng được điều đến tháo vỏ xe và các tháp pháo. Chúng được đặt lên các xe trượt ghép bằng những thanh gỗ tròn, chằng buộc cẩn thận nối vào sau xe tăng. Chiến sĩ lái chỉ việc cho xe đi trên băng và kéo theo các bộ phận này khi vượt qua hồ. Bên bờ đông các đội lắp ráp cũng đã chờ sẵn và lại khẩn trương khoác áo cho tăng rồi gắn tháp pháo lại.
Mệnh lệnh của bộ tư lệnh mặt trận đã được thi hành nghiêm chỉnh.
 
3.
Ma-ri-na thức dậy khá sớm. Chị bất máy thu thanh và đeo ống nghe vào tai. Chị rất khát khao chờ đón tiếng nói Mát-xcơ-va và say sưa như nuốt từng lời bản thông báo của Cục thông tin Liên Xô. Do không thể kiềm chế được, chị đã phạm những quy định khi hoạt động bí mật ở nước ngoài là cấm nghe đài bằng tiếng Nga. Suốt mấy ngày liền chị như sống trong mộng. Khó khăn lắm chị mới giữ được vẻ bình thản, không để lộ nỗi xúc động trước mọi người.
Mọi việc có lẽ bắt đầu từ hôm thứ ba, mồng hai tháng Mười hai. Các báo trung ương và báo Béc-lin đều để những khoảng trống không in. Đây là những chỗ dành để in bản thông báo cuối cùng: “Quân Đức đã chiếm được thủ đô Nga” theo lệnh của Gơ-ben. Các đài phát thanh và báo hàng ngày của chúng đã la lối ầm ĩ về những trận đánh cuối cùng quyết định, những tuần lễ cuối cùng của cuộc chiến tranh và là sự thất bại không gì cứu vãn nổi của “Nhà nước Sta-lin”!
Mấy hôm nay Ma-ri-na luôn sống trong tâm trạng lo lắng thật sự. Đây không phải là “nỗi lo lắng riêng tư. Và mỗi lần bỏ chiếc ống nghe lạnh lẽo khỏi tai chị lại thở dài nhẹ nhõm: “Vẫn còn!-Mát-xcơ-va thiêng liêng vẫn đứng vững!”.
Hôm nay thứ bảy, ngày hẹn gặp Van-te theo quy định. Mưa phùn lất phất, lạnh lẽo bao phủ không gian. Trên mặt đường đã xám xịt vẫn còn hằn rõ vết bánh xe đạp mờ mờ của cậu bé đưa thư. Chiếc xe hòm cáu bẩn lại hiện ra ở góc phố, và xé màn mưa, nó vượt Ma-ri-na rồi đỗ lại trước cửa hiệu bánh mì.
Ma-ri-na vẫn bước đều trên hè phố, lãnh đạm đưa mắt nhìn theo chiếc xe hòm. Những ngày gần đây chị đã quen với sự xuất hiện ấy đến nỗi nhìn nó như một bộ phận không thể thiếu của bức tranh toàn cảnh. Chỉ có điều những lần trước chị không chú ý xem nó chở gì và ai lái nó. Cửa xe mở, lái xe nhảy xuống đường, Ma-ri-na nhìn theo anh ta và hơi ngạc nhiên. Đó là một thanh niên với đôi vai rộng, chân đi bốt da khá sang, mặc chiếc blu-dông da đắt tiền. Anh ta không đi đâu cả và thậm chí cũng chẳng để ý gì đến hiệu bánh mì ở ngay trước mặt vài ba bước chân.
Ma-ri-na bất giác cảm thấy sống lưng ớn lạnh. Đến ngã tư đầu tiên chị rẽ luôn và rảo bước nhanh hơn. Chị linh cảm thấy hình như có điều gì đó chẳng lành. Chị chưa hề thấy những tài xế trẻ khỏe như thế lái xe dân sự. Họ đã phải gọi vào lính từ lâu rồi.
“Phải báo cáo ngay với Van-te về hiện tượng chiếc xe hòm này avạy.-Ma-ri-na vừa đi vừa suy nghĩ khi đến bến tàu điện. Sao mấy hôm nay mình không nói cho anh ấy biết nhỉ?”.
Chj chuyển tàu hai lần rồi lại chuyển hướng đi để quan sát xem có bị ai bám theo không. Cuối cùng chị gọi tắc-xi đến chỗ hẹn. Hôm nay chị đến hơi muộn. Trong cửa hàng bách hóa giờ này đang tấp nập người ra vào. Chị thấy Van-te ở quầy hàng đồ chơi. Anh đang cầm con búp bê có đôi mắt to, nghiêm nghị.
-Chà con búp bê đẹp quá!-Ma-ri-na thốt lên vẻ thích thú. Tôi đang tìm mua cho con gái tôi loại này mà mấy lâu nay không thấy.
Van-te bình thản quay sang nhìn người khách hành và ánh mắt họ gặp nhau. Trong ánh mắt của anh như muốn hỏi: “Có chuyện gì vậy? Sao tới muộn thế?”. Rồi anh mỉm cười nói to:
-Xin lỗi bà, bà cần tôi xin nhường lại.
-Những người đàn ông lịch sự đều biết nhường phụ nữ.-Ma-ri-na nói, nháy mắt như muốn bảo: “Chúng ta cần nói chuyện ngay, đừng dềnh dàng nữa!-Có chuyện quan trọng!”.
Chị giả vờ nhìn sang dãy búp bê bày trong quầy tủ kính rồi dần dần đi về phía quầy bán quần áo trẻ con. Một lát sau Van-te đến, tay cầm con búp bê vừa mua xong.
-Em yêu quý, xe anh để ở góc trái phố bên kia, em ra ngay nhé.-Anh bình thản nói với chj, như đang nói với vợ và quay ra. Đừng nấn ná lâu nhé!
-Vâng, em sẽ ra ngay đây,-Ma-ri-na đáp, giọng cũng âu yếm như vậy.
Khoảng mười phút sau chị đã ngồi trong chiếc “Méc-xe-đéc” cũ kỹ của anh, Van-te im lặng cho xe chạy theo đường phố chính, mắt nhìn đường nhưng tai không hề để sót một lời nào của Ma-ri-na.
-Mấy hôm trước tôi không để ý đến nó,-Ma-ri-na kể.-Nhưng không hiểu sao hôm nay tôi nghi nó quá…
-Nó thường xuất hiện đúng thời gian liên lac à?
-Sớm hơn một chút…
 
Van-te nhíu mày, suy nghĩ. Tuần trước nhóm Pa-ri có thông báo cho anh biết là ở đây, bọn Giét-ta-pô đã bất ngờ ập đến bắt hiệu thính viên cùng điện đài đúng lúc đang liên lạc với Trung tâm. Trước đây khoảng một tuần, gần ngôi nhà đó xuất hiện một chiếc lều bạt xấu xí ngay giữa chỗ đường dây điện thoại thành phố. Đó là loại lều bạt thường dùng của các thợ chữa ống nước hay đường dây điện thoại. Sau khi phát hiện ra điện đài, chiếc lều bạt cũng biến luôn. Rõ ràng bọn Giét-ta-pô đã phục ở đó. Chúng cải tràn làm công nhân sửa chữa đường dây và đặt máy dò phương vị, tìm điện đài. Có thể chiếc xe hòm này cũng là một dạng cải trang như chiếc lều bạt kia chăng? Suy nghĩ vậy nhưng Van-te không để lộ những nghi ngờ của mình vì anh sợ làm cho Ma-ri-na lo lắng.
-Tôi nhớ, hình như từ cổng nhà chị đi tắt qua hai sân nhà bên cạnh và có lối ra phố khác phải không?-Van-te bỗng hỏi một câu chẳng ăn nhập gì đến câu chuyện đang bàn cả.
-Có, có lối đi ấy. Tôi đã đi tắt qua vài lần.-Ma-ri-na trầm tĩnh trả lời, hơi ngạc nhiên về câu hỏi của Van-te. Đang nói chuyện quan trọng lại xen chuyện đường ngang ngõ tắt vào đây để làm gì nhỉ?…
-Thế này nhé, tôi sẽ đưa chị về lối đó.-Anh nói tiếp và cho xe rẽ từ đường phố lớn vào phố nhỏ,-Mất độ bao nhiêu thời gian để thu xếp điện đài, đi xuống và ra phố theo lối sau.
Ma-ri-na bỗng nhẹ hẳn người. Chị im lặng nhìn Van-te thầm cảm ơn anh. Lúc này chị mới hiểu chợt một cảm giác là lạ, chị muốn ôm lấy anh, vuốt ve mái tóc của anh. Đây là lần thứ hai anh đã đưa chị ra khỏi cơn bế tắc. Van-te lạnh lùng. Suy nghĩ một lát, chị trả lời:
-Khoảng không quá hai mười phút, không nhanh hơn được đâu.
-Cứ cho tròn hai mươi phút.-Van-te nói.-Nếu gặp phải người láng giềng thì chị cứ tìm cớ nào đấy cho xuôi tai họ nhé.
-Tôi đã vài lần dùng chiếc va-li đựng điện đài để đưa quần áo giặt là. Cố cho mọi người nhìn quen nó đi thậm chí một lần còn cố tình mở va-li ra cho bà chủ nhà xem họ giặt quần áo bẩn ra sao.
-Ồ, chị thật thông minh đấy!-Van-te nhìn thẳng vào Ma-ri-na mỉm cười trìu mến.
-Cảm ơn những lời khen của anh. Anh không xã giao đấy chứ?
Chờ Ma-ri-na đi về nhà, Van-te vòng xe lại đường cũ kiểm tra và phóng qua chỗ chiếc xe hòm đỗ cạnh hiệu bánh mì. Bề ngoài đúng là chả có gì đáng ngờ. Nhưng quỷ nào biết được trong xe chứa đựng gì? Duy chỉ là sự hiện diện liên tục mấy hôm liền của nó ở khu vực này cũng là điều đáng ngại rồi.
“Ngay bây giờ phải chuyển điện đài xuống phía nam thành phố và sẽ kiểm tra xem chiếc xe hòm bị ẩn này xử trí ra sao.-Van-te thầm suy nghĩ,-Nếu nó vẫn đỗ ở đây thì như vậy chỉ là trường hợp ngẫu nhiên thôi. Còn nếu nó biến luôn thì chẳng còn phải suy đoán nữa. Phải rút đầu ra khỏi thòng lọng ngay!”.
Quay xe về chỗ cũ, từ xa Van-te đã nhìn thấy Ma-ri-na tay xách va-li đang đi qua chiếc cổng thấp ra đường. Vẫn để xe nổ máy, anh mở cửa xe:
-Chị đưa va-li cho tôi.
Anh đỡ chiếc va-li nặng, mở cửa sau nhấc đệm ghế bọc da đút va-li xuống dưới rồi ập đệm lại.
-Chị lên xe đi!
-Lúc xuống cầu thang, tôi đụng phải bà chủ nhà.-Ma-ri-na vừa ngồi xuống ghế vừa nói.-Anh có biết bà ấy bảo gì với tôi không? Bà ấy nói, chị là người sạch sẽ nhất trong đám khách thuê nhà của tôi đấy!
-Những người già thường nói đúng sự thật đấy.-Van-te mỉm cười, nhìn đồng hồ đeo tay, rồi hỏi:-Liên lạc với Trung tâm vào lúc mấy giờ?
-Từ mười tám rưỡi đến hai mươi giờ. Họ đã chờ sóng tôi trong suốt thừ gian đó. Hôm nay đúng là thứ bảy.
-Chúng ta còn gần hai giờ nữa. Chị cần bao nhiêu thời gian để dịch mã.
-Không quá bốn mươi phút.
-Vậy cần phải gấp lên.-Vượt chiếc “Ô-pen” nặng nề đi trước. Van-te tăng tốc độ-Tôi sẽ đưa chị đến gia đình một người bạn ở vùng ngoại ô, gần kênh đào Ru-pen. Chị đừng ra khỏi xe khi chưa vào trong sân. Ông chồng là kỹ sư, người Bỉ, làm ở nhà máy hóa chất. Nhà còn bà vợ và hai đứa trẻ… Tôi đã giới thiệu với ông bà là tôi có một người em gái sẽ có dịp đến thăm ông bà. Vậy chị phải đóng vai em gái cho đạt đấy. Cố nũng nịu và dịu dàng. Phải làm cho ông bà ta tin là thật…
-Vâng, anh đừng lo, tôi sẽ là cô em gái ngoan ngoãn của anh.
Xe vẫn chạy với tốc độ cao, vượt qua những dãy phố giàu có, các cửa hàng và biệt thự. Một lát sau họ đã ra tới vùng ngoại ô, nơi phần lớn là những ngôi nhà một tầng thấp nhỏ của những gia đình nghèo. Trước mắt họ là những ngôi nhà cũ kỹ, long vữa, lâu ngày chưa được tu sửa, quét vôi. Van-te rút từ trong túi áo ra mẩu giấy đưa cho Ma-ri-na:
-Đây là số điện thoại. Chị cố ghi nhớ kỹ.
-Của anh à?
-Không, máy của những người bạn chúng ta. Họ là những người đáng tin cậy và trung thành. Nhưng chỉ trong những trường hợp khẩn cấp, tối cần thiết mới dùng tới nó. Van-te bật lửa, đốt mẩu giấy.
 
4.
Mi-cla-sốp cởi áo ngoài và bỏ mũ ra. Phê-đô Gô-lơ-vli-ép đang nhóm lò, tằn tiện bỏ từng mẩu củi nhỏ vào bếp. Bếp lửa cháy bùng bùng, reo vui, ấm áp. Nước trong ấm nhôm cũng bắt đầu reo. Những người lính ngái ngủ ngồi quanh bàn khoan khoái uống từng ngụm nước trắng trong ca nhôm.
-Đội trưởng uống chút nước nóng cho ấm chứ?-Phê-dô hỏi, ngước đôi mắt hơi hiếng nhìn Mi-cla-sốp.
Họ dịch lại nhường chỗ cho anh. Mi-cla-sốp ngồi xuống cạnh bàn, ấp ca nước nóng trong lòng bàn tay, chậm rãi nhấm nháp từng ngụm, cảm thấy hơi ấm tỏa lan khắp người. Trong chiếc lều chật chội mọi sự bố trí hầu như được tính toán từng cen-ti-mét một. Hai dãy giường gỗ được kê sát vách, giữa đặt chiếc bếp lò gò bằng sắt mỏng, cạnh đó là chiếc bàn gỗ tạp tróc sơn nham nhở. “Cứ như trong tàu ngầm ấy.-Phê-đô đã có lần nhận xét khi họ sắp đặt chỗ ở trong lều.-Chẳng khác gì buồng thủy thủ… Chỉ khác là có thêm cái bếp lò!”.
“Bếp lò-đó là sức sống!”-Mi-kha-in Bum béo phị đã có lần nói như vậy. Ý kiến anh ta đã thể hiện được tâm trạng của mọi người trong đội bởi vì trước đây họ thường đóng quân trong các ngôi nhà gạch trống trải không đủ hệ thống sưởi ấm khi tiết thu lạnh lẽo hay mùa đông giá rét, do đó khi được sống trong túp lều ghép bằng ván này tuy chật chội nhưng lại là một tổ ấm dễ chịu hơn cả vì có thêm cái bếp lò đặt ngay giữa.
Nhưng không dễ gì quen ngay với điều kiện sinh hoạt mới. Những này đầu ai cũng muốn tranh thủ ngồi chen nhau quanh bếp lò để sưởi ấm, để hong khô quần áo, bít tất, xà cạp, giày và ủng lúc nào cũng ướt sũng. Mi-cla-sốp đành phải lên thời gian biểu quy định lần lượt từng tổ được sưởi bên bếp lò.
Cuộc sống trên mặt băng luôn mang lại cho họ những lo âu và nguy hiểm mới. Thật chẳng dễ chịu gì khi quanh mình lúc nào cũng có tiếng bom đạn réo nổ có lúc hầu như ngay sát cạnh và mỗi lần như vậy mặt băng dưới chân cứ chao đảo như muốn sụt xuống và chẳng may băng vỡ ra thì còn gì là đời nữa.
“Tàu ngầm phải có lúc nổi lúc lặn chớ-Phê-dô dí dỏm nhận xét như vậy sau một trận ném bom của quân Đức. Còn tàu chúng ta cũng vậy, cứ chao đảo trên băng”.
-Sao lại chao đảo?-có người thắc mắc, chưa hiểu.
-Nổi trên băng, chao đảo,-Phê-dô chanh chua nhắc lại. Lều chúng ta tựa như khoang thủy thủ chỉ có khác là hơn được cái bếp lò. Nhưng rồi nó có thể chìm nghỉm đi trong băng bất cứ lúc nào. Thế các cậu cho rằng nơi nào ít nguy hiểm hơn. Ở thành phố bị phong tỏa hay ở đây?
Cửa lều xịch mở rồi đóng sập ngay lại. A-lếch-xăng Ban-mút ùa vào đột ngột, mang cả làn hơi lạnh vào theo. Anh vừa được bầu làm bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản. Đôi má ửng hồng, bụi tuyết bám đầy ủng, khuôn mặt sạm nắng gió như già thêm dưới chiếc mũ lông lù xù trùm kín đầu. Tuyết bám cả trên cặp lông mày rậm. Anh xắn tay áo tháo ủng, rồi rút trong túi ca-pốt tờ báo mới nhận.
-Này, đọc đi. Quân ta đang phản công đấy!
Mấy cánh tay cùng chìa ra tranh nhau tờ báo. Mọi người dồn chỗ nhường cho Ban-mút và rót nước nóng cho anh. Mặt anh rạng rõ và có vẻ long trọng như trong ngày lễ thánh. Đúng ra là anh đã giật được tờ báo này trong tay cậu bạn làm việc trên ban tham mưu trung đoàn. Hầu như chẳng còn ai chú ý đến anh, mà chỉ xúm lại quanh tờ báo mới. Họ vội vã đọc lướt những tin tối qua và sáng nay đã thoáng nghe trên đài-quân ta đang giữ vững và tấn công lại trên mặt trận quanh Mát-xcơ-va.
-Gô-lô-vli-ép, cậu đọc to lên,-Mi-cla-sốp vừa nói vừa trao tờ báo cho anh ta và vừa chỉ vào chỗ đăng tin Gri-gô-ri Cun-ga được tặng thưởng huân chương Cờ Đỏ-Cậu có giọng phát thanh viên. Còn tôi sẽ đánh dấu trên bản đồ.
Tấm bản đồ địa lý giáo khoa toàn châu Âu đã rách mép mà họ kiếm được khi còn ở “vùng đất lớn” được gắn chặt vào tấm ván mỏng ngăn vách. Qua đó, các chiến sĩ đội đèn pha có thể hình dung tình hình chiến sự bởi những mũi tên xanh đỏ chi chít. Hai tuần trước đây các vạch đỏ đã dần dần chuyển về phía tây về vùng Rô-xtốp trên sông Đông và thành phố vừa được các đơn vị của mặt trận phía Nam giải phóng đã đánh dấu bằng màu đỏ nhỏ xíu. Tiếp đến, ngày 9 tháng Mười hai, mọi người lại đón mừng tin chiến thắng ở đông nam Lê-nin-grát nơi quân đoàn của tướng Mê-re-xcốp sau mười ngày đêm chiến đấu anh dũng đã giải phóng hoàn toàn khu vực Tri-vin. Chiều hôm qua và sáng nay đài phát thanh Mát-xcơ-va lại vui mừng truyền đi tin chiến thắng mới ở mặt trận ngoại vi Mát-xcơ-va.
-Đến ngày mười sáu tháng Mười hai (1941) quân ta vẫn còn phải chiến đấu phòng ngự trên một trận tuyến kéo dài, kìm chân những mũi tấn công mạnh của địch và đã bắt đầu mở những trận phản công khu vực ở các hướng I-rin-xcơ, thành phố Đơ-vê-nhi và Na-rô Phô-min-cơ. Gô-lô-vli-ép hắng giọng, vẻ xúc động.-Theo những tin tức chưa đầy đủ, các đơn vị bộ binh chúng ta đã phá hủy và thu được 777 xe tăng, 534 xe vận tải, 188 đại bác, 119 súng cối và 224 đại liên. Các loại súng bộ binh cá nhân không thống kê được. Về sinh lực địch, quân ta đã tiêu diệt và loại khỏi vòng chiến đấu 55 nghìn 170 tên. Số liệu này chưa đầy đủ vì chưa tính được những thiệt hại của quân địch do bộ đội xe tăng và không quân ta gây nên.
Những khuôn mặt gầy rộc, đen sạm nắng gió và thiếu ngủ của các chiến sĩ rạng rỡ những nụ cười. Từ lâu nay hầu như họ đã quên mất tiếng cười của mình. Họ đã chờ đợi những tin tức tốt lành này bao lâu nay rồi!
-“Ngay sáu tháng Mười hai năm bốn mốt, bộ đội mặt trận phía Tây, sau khi đã làm kiệt sức quân địch trong những trận phản công trước đấy cũng đã bắt đầu mở những cuộc tấn công mới vào hai bên sườn quân địch. Ngay trong trận phản công đầu tiên nhiều sinh lực địch đã bị tiêu diệt và buộc chúng phải vội vã tháo chạy vất bỏ lại nhiều vũ khí cùng các phương tiện kỹ thuật khác.
Gô-lô-vli-ép lần lượt đọc tên các làng mạc, thị trấn thành phố mới được giải phóng. Mi-cla-sốp chồm người về phía trước lắng nghe như nuốt từng lời vì anh cảm thấy mỗi tên làng, tên thành phố thân yêu ấy đều gắn với trái tim anh. Cuộc chiến đấu đã dần dần chuyển khỏi ngoại vi Mát-xcơ-va yêu quý của anh!…
-Sau khi chuyển sang phản công,-Gô-lô-vli-ép vẫn sang sảng giọng phấn chấn,-các đơn vị bộ đội ta đã giải phóng hơn một trăm làng mạc và thị trấn khỏi sự chiếm đóng của quân thù…”
 
Chương ba

1.
Chiếc tăng của Gri-gô-ri Cun-ga bứt lên trước.
Nền đường sắt lui lại phía sau, nơi mà chàng dũng sĩ “ba tư tấn” đã tiêu diệt một ổ súng máy và đè nát hai khẩu pháo chống tăng xuống mặt đất giá lạnh. Một ngôi làng nhỏ bị phá trụi cũng đã lùi lại sau và xa xa phía trước là chiếc cầu cháy mà họ sẽ phải vượt qua. Phía sau cầu có ba chiếc xe tăng và một xe bọc thép của địch đang phóng chạy như bay trên cánh đồng phủ đầy tuyết. Chúng chạy tới khu rừng bạch dương bên bờ sông nhỏ, để lại sau mình những làn bụi tuyết tung lên.
-Bọn rắn độc đang chạy trốn!-Cun-ga dán mắt vào khe ngắm quan sát và thốt lên:
-Có lẽ chiếc cầu không chịu đựng được…-Clim Ti-mô-phê-ép căm giận nói theo.-Bọn lang sói, chúng nó đốt cả cầu!
-Tiến lên!-Cun-ga hạ lệnh,-Mở hết tốc độ.
Đè giúi một bụi cây bên đường, chiếc tăng vẫn không giảm tốc độ lao ra đường cái xông thẳng vào đám lửa khổng lồ trước mặt. Chiếc cầu kêu răng rắc, oằn hẳn xuống, rung rinh… Các chiến sĩ xe tăng ngồi lặng tại các vị trí của mình. Cứ như ở hồ La-đô-ga khi họ vượt trên mặt băng ấy,-Cun-ga chợt nghĩ… Liệu những cây gỗ có chịu đựng được không? “Những đầu mẩu gỗ cháy rơi tung tóe trên mặt sông đóng băng…
Khi chiếc xe tăng vừa vượt nốt những thước cuối cùng, chiếc cầu quằn quoại rít lên và đổ sập ngay xuống mặt sông.
Cả Cun-ga lẫn các bạn đều không được trông thấy cảnh này. Ho đang bám theo bọn địch chạy trốn mỗi lúc một xa. Mấy chiếc tăng Hit-le đang leo theo một sườn đồi. Chỉ cần một đoạn nữa thôi, khi leo được tới đỉnh đồi là chúng đã vào nơi an toàn.
Cun-ga chồm người lên dán mắt vào khe ngắm cố đưa chiếc tăng phía trước vào vòng ngắm.
-Bắn!… Bắn!…
Một cột khói trùm lên che lấp hai chiếc xe tăng trên sườn đồi… Một chiếc, theo quán tính, nhoài lên được mấy thước nữa, cày xới tung lên mặt tuyết trắng và sau đấy rùng mình rồi chững lại nằm bất động. Mấy tên lái xe nhảy nháo nhào từ cửa tháp xuống đất, vừa chạy vừa cố dập những lưỡi lửa lem lém sau lưng áo và lăn lộn trên mặt tuyết. Chiếc thứ hai cũng chững lại, nòng pháo cong queo như chiếc mũi gãy.
Chiếc tăng thứ ba phụt lên một cột khói trắng đục, vòng xích quay tại chỗ làm bắn tung tóe bụi tuyết mờ mịt.
-Hãy bám chặt lấy nó,-Cun-ga hét lên vào tai chiến sĩ lái.
Chiếc tăng ”ba tư tấn” từ dưới lao vào xe tăng phát-xít. Bóng đen ngòm của nó trong chốc lát đã trùm kín cả vòng ngắm mục tiêu… Và khi nòng pháo tựa như sắp chọc thủng vào sườn trái của cái mục tiêu đã bị bắt gọn thì từ trong họng súng đen ngòm của nó liền phụt ra một lưỡi lửa màu da cam. Tiếng nổ bùng lên hất tung tháp xe tựa như chiếc mũ trên đầu bị một cơn gió mạnh cuốn đi hất sang đống tuyết bên cạnh… Chiếc tăng bị chìm đi trong đống lửa rừng rực tựa như có ai tưới xăng vào đốt.
-Lùi lại!-Cun-ga ra lệnh.
Chẳng cần đợi lệnh, Clim cũng đã giật cần lái cho xe lùi nhanh lại. Ạnh đã quen cách chỉ huy của đội trưởng ngay từ nửa lời nói đầu tiên.
Vẫn không rời mắt khỏi khe ngắm, Cun-ga tìm chiếc xe bọc thép. Nó đã biến đâu rồi?… Chiếc xe ba tư tấn gầm lên phụt khói và leo lên đỉnh đồi mọc lơ thơ mấy hàng bạch dương non. Trước mắt họ cả một bãi đầm rộng đã đóng băng trắng xóa và sau đó là một dãy bạch dương thoai thoải dày đặc. Phía bên trái, trên con đường nham nhở chiếc xe bọc thép chạy trốn đang cố sức lao lên, tuyết bám đầy hai bên mạn thành xe trắng xoá.
Gri-gô-ri đã hai lần nổ súng bắn đuổi nhưng đều bị trượt.
-Chà, thằng quỷ,-Anh rủa và lại cố đưa chiếc xe bọc thép vào ống ngắm.
-Đồng chí đội trưởng, có lệnh gọi,-chiến sĩ điện đài báo cáo.
Cun-ga áp chặt tai nghe và anh nghe rõ tiếng tiểu đoàn trưởng gọi:
-Chuẩn úy Cun-ga!… Chuẩn úy Cun-ga!… Sao không giữ đúng hướng quy định?…
Cun-ga hiểu rằng anh đã ham truy kích, nhưng không khí trận đánh đang lôi cuốn anh và anh không muốn để sổng mất cái xe bọc thép đang trong tầm tay. Anh vẫn báo cáo việc vượt chiếc cầu cháy và chiến tích tiêu diệt hai chiếc tăng loại nhẹ và một chiếc hạng trung của bọn Đức.
-Báo cáo tiểu đoàn trưởng, tôi làm sao bỏ chiếc xe bọc thép đang nằm trong tầm ngắm của tôi được?-Cun-ga kết thúc lời báo cáo một cách hưng phấn.
Nhưng tiểu đoàn trưởng không trả lời. Anh không thích nhắc lại mệnh lệnh.
-Cun-ga phóng một quả đạn nữa nhưng lần này cũng bị trượt nốt. Chiếc xe bọc thép vẫn chạy vòng vèo trên đường và cố sức phóng mỗi lúc một xa hơn.
-Thằng quỷ, đồ láu cá thật!…
Cun-ga cúi nhìn bản đồ và ra lệnh cho Clim Ti-mô-phê-ép lái về hướng trái và cho xe đi thẳng vượt qua đồi bạch dương non. Dù sao cũng cần phải nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của tiểu đoàn trưởng.
Các đơn vị quân ta đang tấn công. Lữ đoàn xe tăng, đơn vị đã vượt qua hồ băng La-đô-ga, đã trở thành lực lượng xung kích. Quân đoàn của tướng Phê-diu-nin-xki, sau khi đã chọc thủng khu vực phòng thủ mạnh, đã tiếp tục đánh tan các đơn vị quân Đức bỏ chạy. Bọn Hit-le bị đánh bật khỏi tuyến đường sắt từ Vôn-khốp tới, và các trận đánh diễn ra trên những con đường tiếp cận với khu ga Vôi-bô-ca-lô. Các chiến sĩ xe tăng lao vào những đợt công phá mới.
Suốt bốn tháng bị bao vây, Cun-ga chỉ chờ có một mệnh lệnh ngắn gọn: Tiến lên! Và cuối cùng rồi mệnh lệnh đã đến.
Chàng dũng sĩ “ba tư tấn” vẫn hùng dũng lao lên vượt qua cánh rừng bạch dương, nghiến gãy răng rắc những thân cây bị đè bẹp và tạo nên một màn bụi tuyết trắng phủ xung quanh. Cun-ga như hòa niềm vui chung của chiếc tăng. Không khí lạnh lọt qua khe ngắm làm chảy cả nước mắt. Cun-ga vẫn đăm đăm nhìn về phía trước, đôi mắt khao khát ngắm từng ngọn cây nhô lên trên bầu trời lồng lộng… Một ngày hình dài bất tận, bắt đầu từ lúc sáng sớm với những trận đánh không ngừng trong lửa đạn rừng rực, hình như đang mỉm cười với số mệnh. Tạo hóa đã ban cho anh niềm hạnh phúc lớn lao của những con người được sống để chứng kiến tận mắt những cuộc tấn công và cảm thụ cái sức mạnh làm ngây ngất lòng người.
 
2.
Đại tá I-lin-cốp rời chiếc bàn xếp đầy các loại hồ sơ, tài liệu, bước đến bên cửa sổ. Bóng hoàng hôn xám nhạt của những ngày tháng Mười hai ngắn ngủi trùm xuống Mát-xcơ-va. Mở cửa kính, đại tá hơi ghé đầu ra ngoài tận hưởng chốc lát làn không khí mát lạnh, trong trẻo. Ông vươn thở sâu hai nhịp liền đều đều như để xua tan sự mệt mỏi nặng nề của những ngày làm việc liên tục khẩn trương vừa qua. “Giá được đi trượt tuyết độ một tiếng nhỉ”. Ông thầm ước và bất giác lim dim mắt hình dung lại cánh rừng bạch dương ngập tuyết ở Per-khu-cốp, tai như nghe rõ cả tiếng tuyết lạo xạo êm êm dưới đôi giày trượt. Những mùa đông vừa qua hầu như chủ nhật nào ông cũng đều đến đó trượt tuyết… Sau những ngày chủ nhật như vậy tâm thần sảng khoái có cảm giác như trẻ lại đến chục tuổi, tinh thần làm việc minh mẫn, khỏe khoắn hơn… Còn giờ đây, thì ngay cả việc bình thường ấy cũng chỉ còn là ước mơ và hồi tưởng mà thôi. Hoàn cảnh chiến tranh làm sao cho phép được. Chiến tranh không còn xa xôi gì mà đang kề ngay bên cạnh. Hơn nữa, cả cái khu rừng Per-khu-cốp thơ mộng ấy giờ đây lại là nơi đặt chỉ huy sở ban tham mưu mặt trận miền Tây.
I-lin-cốp áp hai bàn tay xoa xoa bên thái dương đang giần giật, khép cửa kính lại, đi quanh trong phòng, đặt những bước chân nặng nề trên lối đi trải thảm. Mới mấy tháng chiến tranh thôi nhưng họ đã học được nhiều điều bổ ích. Mỗi sai lầm đều phải trả giá đắt nhưng điều quan trọng hơn là họ đã học được những điều bổ ích qua những sai lầm đó. Ông thấm thía câu nói “đòn đau nhớ đời”.
Bước trở lại bàn, ông bật đèn làm việc. Một vòng ánh sáng tròn tròn theo miệng chao đèn tỏa ra trên tấm kính phủ mặt bàn và chiếc cặp hồ sơ màu đỏ. “Uống một cốc trà đường vậy”. Ông thầm bảo và định giơ tay ấn chuông gọi người mang trà. Nhưng chưa kịp thì chuông điện thoại đã lanh lảnh vang lên. Đại tá phân biệt khá rõ các “giọng nói” khác nhau của bốn chiếc máy điện thoại đặt trên bàn. Ông lặng lẽ cầm chiếc ống nghe màu đen:
-Tôi nghe đây! Sao, tin từ Lê-nin-grát? Vẫn còn sống à? Mời đến chỗ tôi nhé? Đúng, đúng, ngay bây giờ!…
Đặt máy xuống, I-lin-cốp mỉm cười. Cái ý nghĩ bất ngờ hình thành cách đây ít lâu giờ đây có vẻ có khả năng thực hiện được. Đại tá đi lại tủ sắt kê bên phải chiếc bàn bừa bộn giấy, mở khóa lấy cặp hồ sơ màu xanh. Miếng giấy trắng dán ngay ngắn giữa bìa, nổi bật dòng chữ “Hồ sơ số 058. Dô-nen-béc Tô-bôn-xki A-lếc-xăng-đrô-vích”.
-Xin phép đại tá, tôi vào báo cáo.
Một đại úy cao lênh khênh đứng nghiêm ở cửa, lưng hơi gù có lẽ do thói quen của những người cao quá cỡ hay phải cúi xuống khi nói chuyện với những người tháp hơn anh.
-Mời đại úy vào.
Đại úy rút trong cặp ra một tờ giấy chi chít chữ, lặng lẽ đặt lên bàn, báo cáo:
-Ban tham mưu mặt trận Lê-nin-grát đã trả lời những đề nghịi của ta… cháu ruột vợ nghệ sĩ công huân, Dô-nen-béc, thượng sĩ Mi-cla-sốp I-go vẫn còn sống. Anh ta đang phục vụ tại đơn vị phòng không, chỉ huy một đội đèn pha, đã được thưởng huân chương Cờ Dỏ… Phó chủ nhiệm ban công tác đặc biệt trung tá Tê-lê-va-rốp nhờ báo cáo lại là đồng chí ấy xin bảo đảm và chịu trách nhiệm về thượng sĩ Mi-cla-sốp.
-Anh ta là cháu ruột vợ Dô-nen-béc Tô-bôn-xki,-Đại tá nói thêm.-Ý kiến đại úy thế nào?
-Cùng một nòi cả thôi, thưa đại tá! Gã nghệ sĩ đã cùng vợ và tình nhân bỏ chạy sang với quân Đức. Hắn sống ở bên chúng ta có đến nỗi nào đâu. Nào phòng tiếp khách, nào ô-tô, rồi biệt thự ở I-xtơ-ra…
-Điện ngay cho Tê-lê-va-rốp sáng mai mời Mi-cla-sốp đến chỗ đồng chí ấy. Hãy chuẩn bị cho tôi chuyến bay đi Lê-nin-grát tối nay.
-Xin tuân lệnh.
Đập gót giày theo thói quen, đại úy đi ra cửa.
Đại tá I-lin-cốp mở cặp tài liệu màu xanh tìm bảng liệt kê danh sách những người họ hàng thân thích với kẻ đào ngũ. Trong dánh sách có tên của Mi-cla-sốp I-go Lê-ô-nhi-đô-vích… Dưới tên anh có gạch một nét chì đỏ. Tự tay đại tá đã gạch dấu hiệu này ngay lần đầu tiên nghiên cứu nó. Hôm ấy là buổi chiều của một ngày tháng Mười gian khổ. Họ tên Mi-cla-sốp để lại trong lòng đại tá một cảm giác khó tả, không thú vị. Chả lẽ là Mi-cla-sốp, nhà võ sĩ này ư? Đã nhiều lần xem anh thi đấu quyền Anh trên vũ đài, đại tá có cảm tình và mến tài năng người lính thể thao thông minh này. Ông bất giác nhớ lại chuyến công tác hồi tháng Năm ở Lê-nin-grát và đã có dịp tranh thủ cùng Tê-lê-va-rốp xem trận đấu giành chức vô địch thành phố. Thật bất ngờ khi nhìn thấy chàng võ sĩ thủ đô trên vũ đài Lê-nin-grát. Và hôm ấy, I-go đã chiếm giải.
Đại tá nhìn họ tên Mi-cla-sốp và suy nghĩ tới quyết định của mình. Ông đang phải chuẩn bị gấp một vài tình báo viên để tung sang bên kia làm nhiệm vụ liên lạc-như một “hòm thư lưu động”. Những tình báo viên liên lạc này phải đáp ứng được những yêu cầu đặc biệt ngoài những điều kiện cần có khác. Anh ta phải có một nghề chuyên môn nào đó có thể đi từ thành phố này sang thành phố khác, mà không bị nghi ngờ. Trong khi xem xét các danh sách những người được giới thiệu, đại tá đã chú ý đến tính cách và thành tích của Mi-cla-sốp do trung tá Tê-lê-va-rốp ở Lê-nin-grát gửi về kèm theo lá thư tay ngắn gọn đề nghị chọn anh chàng trung sĩ bộ đội phòng không này vào trường đào tạo tình báo. Chính lúc ấy đại tá đã đánh dấu chì đỏ dưới tên anh. Đây chính là người mà ông đang cần tìm. Ở bên ấy, Mi-cla-sốp có thể làm võ sĩ, thậm chí là võ sĩ chuyên nghiệp, võ sĩ nhà nghề và do đó anh có thể tự do hơn trong việc đi lại… Có lẽ không còn ai hợp hơn được nữa. Người Đức vốn chuộng thể thao.
Nhưng bỗng nhiên lại xảy ra cái vụ Tô-bôn-xki chạy sang Đức. Thật oái oăm, Mi-cla-sốp là một trong những người gần gũi với gia đình tên phản bội này. Đành phải gạt bỏ anh ta ra. Họ buộc phải tìm người khác thay thế. Nhưng người này “không thích hợp với khí hậu” và chỉ ít lâu sau đã bị sa vào nanh vuốt Giét-ta-pô. Sau đó lại thêm ba người nữa cũng bị loại. Và bây giờ buộc lòng đại tá phải nghĩ đến Mi-cla-sốp. Có lẽ trước đây mọi người đã vội vàng khi quyết định loại anh khỏi danh sách những người được chọn. Chính quan hệ thân thích với tên phản bội có thể sẽ giúp anh hợp pháp hóa được nhanh chóng hơn.
Lúc đầu đề nghị của đại tá vẫn chưa được ủng hộ nhiệt tình nhưng ông đã kiên trì và chủ động gặp thiếu tướng tới ba lần để báo cáo, phân tích những suy nghĩ dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn có thể tin cậy được. Họ đã hỏi Lê-nin-grát thêm về Mi-cla-sốp và giờ đây đã được trả lời kèm theo lời bảo đảm của Tê-lê-va-rốp.
Chỉ còn một vấn đề chưa rõ ràng là thái độ của chính Mi-cla-sốp đối với vấn đề này ra sao?
Ngay đêm ấy chiếc máy bay vận tải quân sự loại nhẹ rời sân bay ngoại ô Mát-xcơ-va vòng lên phương bắc. Đại tá I-lin-cốp đã bay đi Lê-nin-grát.
 
3.
Các trận chiến đấu diễn ra lúc gần lúc xa. Các chiến sĩ bộ đội đèn pha luôn căng thẳng trong tư thế sẵn sàng bên những ụ đèn lạnh cóng, đầm mình trong giá rét dưới âm ba mươi. Cứ nửa giờ Va-xi-li Gie-tốp-xki lại sưởi máy một lần và trong những phút ngắn ngủi đó mọi người ồn ào vây quanh anh, tranh thủ hơ sưởi những đôi tay lạnh cóng và hít thở làn không khí ấm áp trong chốc lát. Một đêm đã trôi qua và bầu trời đã rạng sáng.
-Báo cáo đội trưởng, có lệnh báo yên của tiểu đoàn.
-Được! Mi-cla-sốp thở phào nhẹ nhõm như trút được một gánh nặng trên vai.-Thế là xong một đêm trực.-Anh thầm nghĩ và hít một hơi dài làn không khí lạnh, anh cất giọng hô to, kéo dài,-Báo yê… yên!

4.
Trong lều thật ấm áp dễ chịu. Ngồi sưởi một lúc đã thấy ấm người. Mi-cla-sốp mở hòm gỗ lấy ra hai chiếc bánh mì đen, to như chiếc gối. Mùi bánh thơm tỏa ngào ngạt. Anh im lặng giữ bánh vài giây thầm ước giá như lúc này được nguyên cả chiếc cũng có thể ăn hết ngay. Anh nuốt nước bọt. Các chiến sĩ trong đội cũng không tời mắt khỏi cặp bánh mì-khẩu phần ăn sáng của toàn đội.
Mi-kha-in Bum, người được công nhận là nghệ sĩ cắt bánh rất đều tay, chính xác và công bằng đang đứng bên bàn, ống tay xắn cao, cầm con dao dài. Mắt anh ánh lên vui sướng còn cục yết hầu ở cổ cứ chạy lên chạy xuống như đang cố kìm sự xúc động lại.
-Chia đi,-Mi-cla-sốp đặt hai ổ bánh lên bàn.
Mi-kha-in đưa mắt đo chiều dài chiếc bánh rồi lẹ làng cắt từng khoanh đều đặn và chính xác. Mười cặp mắt im lặng háo hức theo dõi từng nhát dao xén gọn.
Không khí bữa điểm tâm sôi nổi hẳn lên. Ai cũng tranh nhau nói về các loại bánh mứt, kẹo. Đề tài về các món ăn có thể nói mãi không chán. Mi-cla-sốp lim dim như ngủ gật, ngồi lắng nghe các chiến sĩ đang đua tài kể chuyện. Tuy nghe họ nói nhưng tâm trí anh lại đang hướng về một nơi xa xôi, tràn đầy ánh nắng. Một nơi đang thu hút bao suy nghĩ và nhớ thương của anh. Có lúc anh tưởng như đấy chỉ là một nơi tưởng tượng nhưng những hình ảnh thân thương và ký ức cứ hiện ra! Cả tình yêu, niềm vui và hạnh phúc của mối tình đầu!...
Anh bất giác mỉm cười, đôi môi khô nẻ vì lạnh giá hơi nhăn nhúm khi anh nhớ lại buổi tối tháng Hai đầy sôi động đã quyết định số phận của anh. Anh nhớ lại nụ cười ngượng ngập và chiếc hôn trìu mến đầu tiên của Li-da-ve-ta mà cho đến bây giờ vẫn như còn đọng lại trên đôi má giá lạnh của anh. Bàn tay Li-da thật dịu dàng. Chị thường trìu mến xoa xoa trên mặt anh và xúc động thì thào.
-Anh thân yêu, anh không bị đau chứ? Em đã nhìn thấy rồi. Em thấy tất cả!… Họ đấu với anh như thế nào… Anh nói đi, anh có đau lắm không?
Hôm ấy ở Mát-xcơ-va đang có cuộc đấu tranh giải vô địch quyền Anh ở thủ đô. Mi-cla-sốp được lọt vào vòng chung kết và đấu với I-Van Đi-a-ghi-lép. Trong trận đấu đó Li-da đã lén đến xem cùng với cô bạn gái thân nhất. Cô vừa xuất hiện thì trong phòng thay quần áo các đấu thủ đã xì xào với nhau:-“Này, người yêu của I-go đến đấy”. Nhiều người biết chị. Cô gái có thân hinh dong dỏng, thon thả hấp dẫn, mái tóc vàng, đôi mắt trong sáng ngây thơ… Hôm ấy anh đánh khá tốt và đã nắm chắc phần thắng. Anh không biết sự có mặt của chị…
… Đang miên man suy nghĩ, với những hồi ức êm dịu thì… bỗng nhiên có tiếng gọi giật giọng:
-Đồng chí trung sĩ, báo cáo đội trưởng!
-Sao, có chuyện gì thế?-Mi-cla-sốp giật mình hỏi:
-Báo cáo đội trưởng, có điện gọi.
Mi-cla-sốp nhổm dậy khỏi bếp lò, đến bên máy điện thoại đặt ngay cửa lều.
-Trung sĩ Mi-cla-sốp nghe đây!… Sao cơ ạ?… Tôi không hiểu. Sao? Đến ban tham mưu?… Ngay bây giờ… Vâng tôi nghe rõ…
Đặt ống nghe xuống, Mi-cla-sốp sửng sốt ngồi xuống chiếc ghế đẩu. Anh được lệnh đến ngay ban tham mưu. Đường đi không phải là gần, phải vượt qua mười ki-lô-mét trên băng. Anh không hiểu có chuyện gì mà ban tham mưu lại gọi anh gấp như vậy?
 
Chương bốn

1.
Trung tá Tru-nốp quay sang đại úy ngồi bên cạnh, Mi-cla-sốp liếc nhìn ông. Trông khuôn mặt và vóc dáng, ông có vẻ như người Gru-di-a hoặc Trung Á, mái tóc đen xoắn, nét mặt gầy khô khan, mắt to và cũng đen như màu tóc.
-Đồng chí đại úy, trung sĩ I-go Mi-cla-sốp đã đến. Một trong những đội trưởng đội đèn pha xuất sắc đấy.-Ông vừa nói vừa giơ tay chỉ, giới thiệu Mi-cla-sốp.-Vô địch quyền Anhlng đấy.. Tôi hết sức hy vọng các anh sẽ hiểu và yêu mến cậu ấy.
Mi-cla-sốp nhìn trung tá và thấy ông có vẻ xúc động, anh cũng cảm thấy hồi hộp lây.
Đại úy trực ban đứng dậy, bắt tay chào Mi-cla-sốp và giục anh đi ngay, ngoài ra không nói thêm lời nào nữa. Anh ta quay nhanh ra mắc áo, khoác áo măng-tô lót toàn lông thú bên trong. Vừa xỏ tay vào áo, anh vừa giục:
-Chúng ta đi thôi!…
-Báo cáo, đi đâu ạ?-Mi-cla-sốp hơi ngạc nhiên hỏi lại, cảm thấy mệt mỏi và tiêng tiếc khi lại phải rời căn phòng ấm áp này.
-Lên ngay ban tham mưu quân đoàn,-đại úy vẫn điềm đạm trả lời, tay dựng cổ áo khoác lên ôm hết cằm.
Trung tá Tru-nốp gọi nhân viên văn thư, hạ lệnh làm các giấy tờ cần thiết cho Mi-cla-sốp.
Khoảng mười lăm phút sau, chiếc “Em-ca” đỗ ở trước thềm nhà đã lao nhanh trên đường về Lê-nin-grát. Đại úy ngồi cạnh lái xe, cố ý dành cho Mi-cla-sốp cả dãy ghế rộng ở sau. Cả đêm quan mất ngủ lại phải cuốc bộ một mạch trên mười ki-lô-mét qua con đường băng mệt rã rời nên Mi-cla-sốp cứ rũ ra trong cơn buồn ngủ không sao cưỡng được. Qua tiếng rung đều của ô-tô, anh cố cưỡng nhưng hai mắt cứ díp lại, nặng trĩu, đầu óc cứ mơ mơ màng màng…
-Báo cáo đại úy, cho phép tôi chợp mắt một lúc… Công việc của chúng tôi lấy đêm làm ngày, còn ngày lại là đêm, khó ngủ lắm.
Đại úy không đáp, Mi-cla-sốp cũng không hỏi gì thêm, liền ngả người nằm nghiêng trên cả dãy ghế sau, tay trái gối đầu, lim dim mắt ngủ luôn.
Xe vẫn chạy, lắc lư tròng trành theo con đường đầy ổ gà và những vết xe khá sâu. Đường bị đánh phá chưa kịp sửa chữa, lại thêm vào đấy xe pháo đi lại không ngớt, nên ngày càng xấu hơn, Mi-cla-sốp không ngủ được lâu. Tuy vậy giấc ngủ ngắn ngủi cũng đã làm cho tâm thần thoải mái hơn chút đỉnh. Rồi anh tỉnh hẳn. Song anh vẫn nằm nguyên trên ghế xe như vậy, cố tự tìm hiểu, suy nghĩ về chuyến đi bất ngờ này: Họ chở mình đi đâu? Sao lại lên tân ban tham mưu quân đoàn? Lên làm gì? Liệu người ta còn đưa lên thủ trưởng cao hơn nữa không? Thật khó hiểu và hơi kỳ lạ. Chưa bao giờ anh được đối xử cố vẻ khác thường như thế này trừ những lần được nhận giải thưởng sau khi thi đấu thắng lợi. Hay lại được tặng thưởng huân chương lần nữa chăng? Nhưng từ lần ấy đến nay đã có thêm công trạng gì đâu. Và anh chợt nghĩ, hay là được đưa đi học… nhưng anh vội gạt ngay ý nghĩ này vì cho rằng nó quá viển vông.
Cứ vậy hết giả thiết này đến giả thiết khác, hết suy đoán này đến suy đoán khác hiện lên rồi lại bị gạt đi. Đông thời lúc này hình như có một giọng nói nào đó rất xa, thì thầm bên tai anh rằng từ phút này trở đi, cuộc đời anh bước sang một bước ngoặt khác. Cũng khó mà không tin được giọng nói đó. Linh tính chưa bao giờ đánh lừa anh cả. Thật vậy, cho đến lúc này Mi-cla-sốp cũng chưa thể nói được anh sẽ gặp điều may hay điều rủi trong cuộc sống sắp tới. Còn nhiều điều khó hiểu. Đại úy đi theo thì quá ít lời, không thể nào gợi chuyện được. Tuy nhiên anh tin rằng có thể anh đang đứng trước bước ngoặt của cuộc đời. Chẳng việc gì phải nghi ngờ điều này nữa. Nó rõ ràng đơn giản, tựa như mắt thường có thể thấy được. Chương trình công tác của các thủ trưởng cấp cao đều được bố trí sít sao từng giờ, từng khắc một nên rõ ràng là các vị ấy chẳng phải rỗi rãi gì để gọi một anh chàng “đầu hàng lính, đuôi hàng quan” như mình lên để tán gẫu, hay thăm hỏi bình thường…
 
2.
Những bông tuyết lớn đang rơi sau cửa sổ. Ma-ri-na đứng trong phòng, say sưa ngắm nhìn những bông tuyết trắng xốp lơ lửng bay theo gió lúc vọt lên cao, lúc là xuống thấp dần dần phủ kín mái nhà nhọn, ôm choàng lấy những cành cây trụi lá. Mọi vật xung quanh như sáng hơn, biến đổi hẳn trong màu trắng rực rỡ.
Cứ vậy, Ma-ri-na đứng ngắm những bông tuyết vô tư, nhởn nhơ rồi mấp máy môi chỉ khẽ nói thầm với chúng:-Ôi những bông tuyết bé bỏng thân yêu… Những bông tuyết Nga tuyệt vời, thân yêu của ta ơi!…
Tuyết đổ về thật bất ngờ. Từ chập tối hôm qua trời trở lạnh đột ngột. Gió bắc bất thần thổi về khá mạnh, lạnh ngọt kéo theo những đám mây đen kịt bao trùm bầu trời thành phố tựa như khoác cho nó chiếc áo ca-pốt màu xám của người lính. Gần sáng gió có dịu hơn và tuyết lại rơi dày hơn. Đầu tiên là những bông tuyết nhỏ li ti tựa như những hạt mữa bụi thưa thớt rồi mỗi lúc một dày hơn và cuối cùng là những bông tuyết lớn, nặng nề, chậm chạp hơn…
Cơn gió tuyết đầu mùa… Ma-ri-na cảm thấy dường như nó là sứ giả từ tổ quốc xa xôi tới, là những cánh én báo tin vui mà chị hằng khát khao mong đợi. Lần đầu tiên sau hơn mấy nắm gây chiến tranh ở châu Âu, giờ đây nước Đức phát-xít mới bắt đầu nếm mùi thất bại ở Mát-xcơ-va xa xôi.
Ở nước Đức, từ lâu mọi việc đã có vẻ không được sáng sủa lắm và có thể hiểu được điều này qua tiếng trống thắng lợi đánh lên khẽ khàng. Người ta đã thôi không ấn định ngày “Chiến thắng cuối cùng” nữa, và việc tuyên truyền cho “một cuộc duyệt binh khổng lồ sắp tới của đội quân vô địch” hầu như không được nhắc đến nữa. Hơn nữa, những ngày gần đây bộ chỉ huy quân đội Đức đột nhiên thay đổi hẳn giọng điệu của họ trong những thông cáo chiến thắng. Trên các báo cũng không thấy nói đến tấn công mà trái lại, thấy xuất hiện những tin tức về “những cơn bão tuyết dữ dội ở nước Nga”. Bộ máy tuyên truyền của họ muốn tạo ấn tượng là giá rét và bão tuyết đã cản trở các cuộc hành quân của đội quân bách thắng. Trong những thông cáo chính thức gần đây lại khẳng định: “Vì điều kiện thời tiết không cho phép mở những chiến dịch qui mô lớn nên bộ chỉ huy Đế chế không chủ trương tổ chức những chiến dịch như vậy. Trên toàn khu vực rộng lớn của mặt trận phía đông chỉ diễn ra những trận đánh nhỏ có tính chất cục bộ thôi chứ không có tầm chiến lược quan trọng”.
Ma-ri-na vừa suy nghĩ, vừa nhìn tuyết rơi, mỉm cười. Chị biết rõ tất cả những lời tuyên bố và thông cáo kia đều giả tạo và dối trá từ đầu đến cuối. Ở Mát-xcơ-va lúc này chưa phải là mùa đông thực sự, băng tuyết tuy đã có nhưng chưa đủ mạnh và gay gắt đến mức cản trở được các hoạt động quân sự. Hàn thử biểu mới chỉ xuống đến năm và tám độ âm thôi. Vậy làm sao có được cái giá lạnh, rét buốt đến mức làm cho “các trung đoàn chiến thắng” phải chùng gót giày lại khi chúng đã nện xuống khắp thủ đô châu Âu.
Ma-ri-na cũng được biết chính Hit-le đã có kế hoạch đích thân dự lễ duyệt binh tại quảng trường Đỏ Mát-xcơ-va nhưng khi mặt trận phía Đông bị thất bại, y đã vội vã bỏ mặt trận này chạy về Béc-lin. Hôm kia gã quốc trưởng đã phát biểu trước quốc hội. Và sáng nay, lúc rạng đông khi những bông tuyết đầu mùa vừa xuất hiện, Ma-ri-na được nghe đài phát thanh Mát-xcơ-va, nghe thông cáo của Cục Thông tin Liên Xô, được nghe giọng thân quen của người phát thanh viên đọc một cách trang trọng và phấn khởi về bản thông báo mà mọi người mong đợi từ lâu: “Kế hoạch bao vây và chiếm đóng Mát-xcơ-va của bè lũ phát-xít Đức đã hoàn toàn bị đập tan”.
-Thế là đã đến, đã đến!… Cuối cùng rồi đã đến!…-Ma-ri-na thì thầm ấn mạnh chiếc tai nghe, trùm kín tai hơn nữa và không biết nước mắt đã ứa ra từ lúc nào.
Chị không xấu hổ vì những giọt nước mắt hạnh phúc, vừa khịt mũi vừa lắng nghe người phát thanh viên vẫn sang sảng đọc tiếp bản thông báo chiến sự, nêu lên những con số hàng trăm xe tăng, máy bay, vũ khí đạn dược và các phương tiện chiến tranh khác bị phá hủy hoặc thu hồi. Tiếp theo đấy tên những thành phố Nga cổ kính xung quanh Mát-xcơ-va rất quen thuộc với Ma-ri-na từ thuở ấu thơ vừa giải phóng được nhắc tới như: A-khrôm Clin, It-xtra, Dơ-ve-nhi, Vê-nhi-ép, Ê-pi-phan, Lô-cốt-nhi-a… Chị muốn vặn máy to hết cỡ để mọi người trong khu nhà này có thể nghe được giọng nói chiến thắng của Mát-xcơ-va. Để mọi người biết rõ hơn cảnh thất bại của quân Đức, mà theo như phát thanh viên miêu tả là: “Chúng vừa bị đánh đã vội vàng vất bỏ vũ khí, phương tiện kỹ thuật để tháo chạy. Chúng đã bị thất bại nặng nề không gì có thể bù đắp được…”.
Ma-ri-na có thể ngồi nghe suốt ngày những tin tức tốt lành này không biết chán, nhưng buổi phát thanh đã nhanh chóng chấm dứt. Quàng tấm chăn dạ mỏng lên vai, Ma-ri-na bước đến bên cửa sổ, tỳ trán vào mặt kính lạnh ngắt. Chị cảm thấy dễ chịu hơn. Tuyết vẫn quay cuồng bay trong không gian lạnh giá và tới tấp rơi xuống hổi hả. Bỗng nhiên mắt chị vô tình nhìn vào chồng báo đặt trên khung cửa sổ, trên đó nổi bật một có bài đánh dấu chì xanh. Đó là một đoạn trong số báo ra từ hồi đầu tháng Mười hai. Ma-ri-na hầu như đã thuộc lòng những từ ngữ cay độc, hằn thù được in đậm trên trang báo này và đang hiện rõ trước mắt chị.
“Bộ chỉ huy Đức coi Mát-xcơ-va là mục tiêu chính yếu cuối cùng trong cuộc chiến tranh này, cho dù cả trong trường hợp Sta-lin có ý định chuyển trọng tâm các chiến dịch sang hướng khác. Các giới cầm quyền Đức tuyên bố rằng, cuộc tấn công của quân Đức vào thủ đô Bôn-sê-vích đã tiến sâu tới mức, qua ống nhòm tốt, có thể quan sát được toàn bộ tình hình ở trung tâm Mát-xcơ-va”.
Đọc hết đoạn này, Ma-ri-na tinh nghịch cuộn nó lại thành chiếc loa, đưa lên miệng và nói bằng tiếng Nga:
-Thế nào? Gặm hết chưa?
Chị muốn hát vang lên, muốn nhảy múa cho thỏa. Ôi, chị đã chờ đợi ngày này từ bao lâu nay rồi? Bỏ tấm khăn choàng vai, chị lịch thiệp, duyên dáng cúi mình trước chiếc ghế bành, cất tiếng mời:
-Xin phép được mời nhảy!
Và chị đột nhiên nắm lấy thành ghế, nâng bổng nó lên đi vòng quanh phòng, chân nhún nhảy theo nhịp bài Van-te-xơ “Sông Đa-nuýp xanh”. Mắt lim dim, Ma-ri-na xoay tròn cùng chiếc ghế trong phòng nhưng tâm trí và đầu óc lại đang hướng về một nơi xa, rất xa thành phố Brúc-xen yên tĩnh này.
 
3.
Mi-cla-sốp ngồi xuống chiếc ghế sắt bọc đệm mền, đặt dọc theo buồng khách trong máy bay. Xung quanh anh, bên phải, bên trái, phía trước và sau đều là hành khách phần lớn là các cụ già, đàn bà trẻ nhỏ phải sơ tán từ thành phố Lê-nin-grát bị phong tỏa. Họ ngồi trên các dãy ghế, trên cả túi bọc, trên cả ba-lô. Đủ các khuôn mặt, người thì béo đẫy đà, nhưng phần lớn là những khuôn mặt gầy gò, hốc hác, lo âu! Ngoài khách ra trong khoang này còn lủng củng nào túi xách, va li, nào ba-lô hòm xiểng… Chuyến đi này với họ quá đột ngột vì không một ai trong họ lại có thể biết và thậm chí không thể ngờ được rằng, có chuyến bay này là nhờ có anh chàng trung sĩ đang tư lự, đăm chiêu ngồi bên cửa sổ thứ ba kia. Chính chiếc vận tải quân sự loại nhẹ này được bố trí để đưa anh ta về Mát-xcơ-va theo một mệnh lệnh đặc biệt. Chính bản thân anh ta cũng không hay biết gì về quyết định đó. Anh chỉ được phổ biến một cách vắn tắt, ngắn gọn và đơn giản là anh cần phải đi Mát-xcơ-va ngay trong chuyến bay sớm nhất.
Mi-cla-sốp dựng cổ áo ca-pốt lên cho kín cằm, chụp chiếc mũ lông xuống sâu hơn, đút hai tay vào túi, nghiêng đầu sang vai lim dim mắt ngủ. Nhưng anh không ngủ được. Những ký ức tươi rói mới đây lại cứ lung linh trước mắt và anh cố hình dung xem bức tranh tương lai sẽ ra sao… Tuy nó còn mờ nhạt nhưng cũng đầy quyến rũ. Hình như lá đơn tình nguyện anh viết từ hồi đầu chiến tranh và đã quên bẵng đi nay có vẻ như đã được cấp trên xa xôi nào đó chợt nhớ tới. Khi đến bộ tham mưu quân đoàn cùng với người đại úy lầm lì ít nói Mi-cla-sốp mới được biết về số phận lá đơn của anh. Bộ tham mưu đóng trong một tòa nhà lớn trên đảo Va-xi-lép-xki, Mi-cla-sốp được dẫn lên tầng bốn. Ở đây mọi thứ đều ngăn nắp, sạch sẽ, trật tự và trang nghiêm. Mi-cla-sốp ngài ngại nhìn xuống đôi ủng dính đầy bùn đất của mình.
-Trung sĩ Mi-cla-sốp đã đến phải không!-Một thiếu tá vóc người gầy, tuổi trung niên, mắt trũng sâu dấu hiệu của nhiều đêm mất ngủ, nước da vàng nhợt, khẽ hỏi khi thấy anh xuất hiện cùng đại úy.-Hãy chờ ở đây, tôi vào báo cáo ngay. Các thủ trưởng đang chờ anh đấy.
Thiếu tá nói và khuất sau cánh cửa bọc da nâu. Lặng yên nhìn thiếu tá, Mi-cla-sốp chợt nghĩ là ở đây, ở hậu phương này mặc dầu khẩu phần bánh mì có ít hơn ở tiền tuyến nhưng có lẽ nguy hiểm thì không ít hơn. Bất cứ lúc nào họ cũng có thể bị rơi vào tầm đạn súng lớn hoặc bom của bọn Đức. Bọn chúng ném bom và bắn phá khắp thành phố không chừa một nơi nào… Chỉ khoảng phút sau, thiếu tá đã bước ra, và không khép cánh cửa sau lưng mình, ông hạ lệnh luôn:
-Đồng chí trung sĩ, vào đi!
I-go im lặng gật đầu và bước về phía cánh cửa, lòng đinh ninh rằng, cái cánh cửa kia, cái ngưỡng cửa mà anh sắp bước qua đấy chính là cái vật chắn đặc biệt ngăn cách quá khứ và hiện tại của anh. Thế là những linh cảm mơ hồ về “bước ngoặt trong cuộc đời” đã thành hiện thực. Lối đi trải thảm trước mặt này đã dẫn anh tới nơi xa lạ nào đó…
Căn phòng rộng rãi của tư lệnh bộ đội phòng không không quân khu Lê-nin-grát trông trang nghiêm và giản dị. Tuy trước đây đã được nhìn vị tư lệnh quân đoàn vài lần từ xa nhưng giờ đây Mi-cla-sốp nhận ra ông ngay. Dáng tầm thước, mặt ngăm ngắm đen, vóc người hơi gầy với mái tóc đen nháy nên trông có vẻ trẻ hơn cái tuổi bốn mươi của ông. Một sĩ quan to khỏe, hồng hào im lặng ngồi bên cạnh tư lệnh. Ở ông toát ra nét cương nghị, nghiêm trang với mái tóc hoa râm, ánh mắt nghiêm hơi lạnh lùng, tấm thân chắc nịch khỏe khoắn trong chiếc va rơi không có phù hiệu. Trông ông người ta nghĩ ngay đến những người chưa trải qua những thiếu thốn gian khổ nơi chiến trường. “Không phải là người trong vòng phong tỏa?” Mi-cla-sốp liếc nhanh và thầm đánh giá. Tuy vậy anh vẫn đủ bình tĩnh đưa tay lên chào hai vị chỉ huy theo đúng điều lệnh.
-Tôi là Xê-men Va-xi-li-ê-vích,-người sĩ quan mặc va-rơi không phù hiệu giới thiệu và nói thêm, ông ở cục chính trị quân đoàn.
Những cốc nước chè nóng thơm phức và liễn đường miếng được bày lên bàn. Những miếng đường nguyên chất thực sự. Mi-cla-sốp càm thấy lúng túng và khó chịu vì anh đã không kìm được tay mình và cứ để mặc nó xúc hết thỏi đường này đến thỏi đường khác đổ vào cốc, rồi không quấy cho tan với nước, cứ thế anh uống liền mấy ngụm lớn. Nước ngọt lịm, đặc tựa mật ong, lại kèm thêm món bánh ga-tô kem tuyệt vời nữa.
Sau buổi tiếp trà xong, Xê-men Va-xi-li-ê-vích rút trong cặp ra lá đơn của Mi-cla-sốp viết từ ngày đầu chiến tranh và nói với Mi-cla-sốp. Mi-cla-sốp hiểu rõ từng chữ. Máu dồn lên dật dật bên thái dương vì anh quá sung sướng và bất ngờ. Anh đã không nhầm. Những linh cảm, những ước đoán, giả thuyết của anh bây giờ đang thành sự thật!…
-Có thể, anh đã suy nghĩ lại rồi chứ?-Xê-men hỏi.-Từ hôm ấy đến nay đã bao ngày tháng trôi qua, tình hình cũng đã khác. Anh đã trực tiếp tham gia bao trận đánh, đã biết thế nào là chiến tranh, đã biết đây không phải là những cuộc dạo chơi mạo hiểm đầy lãng mạn như trong tiểu thuyết, mà đây là những ngày cơ cực có cả máu và nước mắt…
 
Nhưng Mi-cla-sốp không nao núng, không thay đổi quyết định của mình… Những ngày tháng vừa qua đã dạy cho anh nhiều điều. Đã hai lần chạm trán bất ngờ với bọn thám báo Đức. Và suýt rơi vào tay chúng… Thật xấu hổ khi nhớ lại điều này, nhưng việc đã xảy ra rồi thì làm sao hối lại kịp! Chúng đã bắt được anh, trói đưa vào rừng.
-Hãy suy nghĩ cho thật kỹ càng, đồng chí trung sĩ ạ. Phải cân nhắc, đắn đo thật đầy đủ mọi khía cạnh, mọi chi tiết. Đồng chí có thể hoàn thành tốt đẹp mọi nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm bên hậu phương địch không?-Xê-men hỏi và khuyên răn.-Hai ngày nữa, đồng chí hãy trả lời cho chúng tôi rõ.
-Báo cáo, tôi có thể trả lời dứt khoát ngay bây giờ ạ,-Mi-cla-sốp đứng bật dậy, theo tư ghế nghiêm.
-Không, chúng tôi dành cho anh hai ngày để suy nghĩ, phân tích và cân nhắc cho kỹ.
Mi-cla-sốp được bố trí ở trong một căn phòng cá nhân tại nhà khách quân đoàn. Vừa vào phòng, anh đã vội cởi quần áo ngoài nằm xoài ngay trên gường, gục đầu vào gối và ngủ lịm đi… Anh ngủ gần suốt cả ngày đêm hôm ấy. Một giấc ngủ ngon lành sau những ngày đêm căng thẳng trên hồ La-đô-ga, sau những trận báo động liên miên… Ở đây thật tuyệt… Giường đệm ấm áp, sạch sẽ. Không ai quấy rầy làm gián đoạn giấc ngủ say sưa của anh cả.
Sáng hôm sau thức dậy, Mi-cla-sốp, quần áo chỉnh tề dạo quanh nhà khách và ghé vào câu lạc bộ sĩ quan cao cấp nơi trước chiến tranh anh đã được sống trong những ngày tập trung đội tuyển quyền Anh quân khu. Giờ đây là quân y viện. Trong các phòng tập đã được thay thế bằng những dãy giường thẳng tắp. Còn trong phòng chờ trước đây lắp kính mờ, bây giờ đã trải thảm len và lắp đèn lớn dùng làm phòng mổ. Trong phòng thi đấu có một số thương binh đang nằm…
Bước dọc theo hành lang, anh vẫn không tin ngay được rằng mới mấy tháng trước thôi, ở nơi này là một cuộc sống hoàn toàn khác. Những kiện tướng thể thao xuất sắc nhất của quân khu Lê-nin-grát đã từng sống dưới mái nhà này.
Mấy thương binh nhẹ đang đi dạo hoặc quây lại thành từng nhóm nhỏ trong hành lang. Họ vừa vê thuốc vừa kể lại những tình huống mà mình bị thương, về ký ức những ngày hòa bình trước đây.-Bỗng Mi-cla-sốp nghe tiếng gọi giật giọng sau lưng:
-Này, Mi-cla-sốp phải không? Không nhận ra mình à?
Anh cảm thấy giọng nói khá quen. Anh quay lại và thấy một thủy binh đang dựa vào tường cạnh lò sưởi và nhìn anh chằm chằm. Anh ta đang nhăn nó vẻ khó chịu vì chân trái bị bót bột lên tới đầu gối.
Cậu không nhận ra mình nữa sao?
-Ôi, chẳng lẽ lại là I-van Da-pô-rô-giơ-xki đấy ư?-Mi-cla-sốp thốt lên, nhớ lại dáng điệu của anh bạn khi đội bước vào phòng thay quân sự trước trận chung kết.-Có đúng là cậu không đấy?
-Đúng, mình đây mà!-Đôi mắt xanh biếc của người thủy binh long lanh ánh lên vẻ giễu cợt và buồn rầu.-Lúc ở công viên Pê-tơ-grốp mình bỗng nhớ đến cậu, nhớ đến trận đấu “rửa hận” đáng lẽ ra phải có, đối với cậu.
-Khoan đã nào!-Mi-cla-sốp nhìn anh bạn chằm chằm-Cậu đã ở đây vào lúc nào?
-Mới gần đây thôi.
-Nhưng bọn Đức đang ở đấy cơ mà?
-Đúng thế. Chúng nó đã bị quân đổ bộ của ta choảng cho một trận ra trò.
Họ nói chuyện với nhau, ôm lấy nhau, và khi nắm chặt tay Mi-cla-sốp, mắt nhìn xuống đất, vẻ như hối lỗi, anh chàng thủy binhnói:
-Này, đừng để bụng cái lần ấy nhé. Giờ đây mình đã nhìn nhận mọi việc xảy ra từ hôm ấy với con mắt khác rồi…
Da-pô-rô-giơ-xki kể cho Mi-cla-sốp biết anh đã trải qua các chiến hạm “Ma-rát”, thiết hạm “Cách mạng tháng Mười” và tuần dương hạm “Ki-rốp” ra sao, đã nằn nì chứng minh như thế nào để được chọn vào đội đặc nhiệm, lính thủy đánh bộ vì sĩ quan chỉ huy không muốn chọn người võ si nổi tiếng vào đội cảm tử. Họ muốn giữ anh lại cảng Crông-sát nhưng anh cứ khăng khăng nêu ý kiến của mình mặc dù hiểu rằng đây không phải là cuộc thi đấu quyền Anh mà là đi đến nơi giáp mặt với cái chết.
-Đấy cậu xem, mình vẫn nguyên vẹn lành lặng đấy chứ… Thậm chí mình cũng không hiểu là tại sao vẫn còn nguyên vẹn được như thế này.-Anh nói và nở nụ cười buồn bã, như kẻ có lỗi vì được gặp nhiều vận may. Bọn mình phải trú ở Cung lớn hai ngày. Vịnh biển bị động mạn. Gió lớn sóng to không làm sao đổ bộ được lên bờ. Còn bọn quỷ sử Đức thì hình như đã đánh hơi thấy bọn mình nên cho xe tăng quần thảo suốt, bao vây quanh khu vực đổ bộ. Bọn mình phải bò dọc theo kênh đào ra biển. Bơi suốt một đêm ngày cho đến khi gặp được quân ta…
Chiếc máy bay rùng mình rướn lên cao, cắt dòng suy nghĩ của Mi-cla-sốp. Lát sau máy bay giảm độ cao. Nhưng khoảnh khắc sau con chim sắt đó lại lấy lại độ cao, bay về hướng nam. Hành khách thở phào nhẹ nhõm.
-Lạy trời, sao lạnh thấu xương thế này,-người ngồi cạnh Mi-cla-sốp bầm bầm, càu nhàu, thọc hai tay sâu hơn nữa vào túi chiếc áo ca-pốt đã sờn.-Giá được rít vài hơi thì đỡ biết bao!…
-Không được hút thuốc lá trong máy bay.-Người đàn ông mũi hếch, râu vàng hoe, rậm cứng ngôi sau Mi-cla-sốp lên tiếng như cảnh cáo.-Không được hút thuốc đâu…
Mi-cla-sốp lại ngả người vào thành máy bay lạnh giá, cố nối lại dòng suy nghĩ vừa bị đứt nhưng không làm sao tái hiện lên được nữa. Quá khứ như bồng bềnh và cứ chìm dần, mờ ảo…
Bỗng sàn máy bay dưới chân anh như bị chạm vào vật gì và máy bay chúc xuống thấp hơn.
-Sắp hạ cánh đây-Có ai đó kêu lên vui sướng.-Đến Mát-xcơ-va rồi.
Những người phụ nữ, các ông bà già từ đầu vẫn lặng thinh, giờ đây mới vui vẻ huyên náo hẳn lên. Tiếng gọi nhau, hỏi han nhắc nhở ồn ào như cảnh sân ga khi tàu đến.
 
Back
Top