Từ trong ảnh, Mi-cla-sốp đang nhìn anh mỉm cười như muốn hỏi: “Thế nào, chàng thượng sĩ?”, “Đâu vẫn vào đấy”.-Cun-ga cũng thầm đáp lại, rồi lật tấm ảnh xem dòng chữ ghi ở mặt sau: “… tháng Chạp 1941, Mát-xcơ-va”. Anh hơi ngạc nhiên: Mát-xcơ-va. Tại sao lại là Mát-xcơ-va. Cậu ấy chiến đấu ở Lê-nin-grát cơ mà. Bộ đội phòng không thường ít di chuyển hơn là lính tăng này chứ. Thế mà cậu ta lại chuyển về tận thủ đô cơ đấy,-Cun-ga thầm hỏi và nhìn kỹ ngày chụp-tháng Chạp. Bây giờ là cuối tháng tư. Gần nửa năm rồi. Trên tủ còn một số tấm ảnh khác nữa. I-go đang đeo găng, tấm này chụp lúc anh đang trẻ, trông chẳng khác gì cậu thiếu niên. “Có lẽ tấm này chụp trước khi nhập ngũ,-Cun-ga nghĩ,-“Một con chim ưng non”. Và đôi mắt anh dừng lại ở tấm ảnh anh yêu thích nhất, đó là đội quyền Anh quân khu Lê-nin-grát chụp trong bộ quần áo trình diện. Cun-ga cầm lấy tấm ảnh. Những hình ảnh thân thương và xa xôi, hôm ấy là một ngày tháng Năm nắng đẹp, mọi người chụp sau một buổi tập cuối cùng trước khi thi đấu. Cun-ga đứng hàng thứ hai, sau huấn luyện viên A-na-tô-li Dôm-béc. Quanh ông là các đấu thủ của quân khu Lê-nin-grát như: I-go-na-tốp, A-sốt Vác-ca-đi-an, Vô-lô-đi-a Trê-nốp…
Từ dưới bếp thoảng lên mùi khoai tây rán và mùi thịt hộp. Li-đa-ve-ta đang vội vã chuẩn bị bữa ăn tối. Cun-ga trầm ngâm đứng bên tủ suy nghĩ về những ngày trước chiến tranh tuy mới năm ngoái thôi.
Mới đó, thế mà cứ ngỡ là đã bao thế kỷ trôi qua? Trong tấm ảnh là những khuôn mặt trẻ trung, vô tư, yêu đời và đầy tự tin. Cậu Cô-xchi-a vui nhộn hay cười đang nhìn anh với vẻ chế giễu, cặp môi mím chặt. Anh vẫn còn nhớ câu chuyện tiếu lâm của cậu ta về anh chồng già và cô vợ trẻ. Nghe chuyện cậu ấy thì không thể nhịn cười được. Con người vui nhộn ra sao thì chụp ảnh cũng nhộn như vậy. Thế nhưng cậu ấy không còn nữa. Cô-xchi-a đã anh dũng hy sinh trong một trận phản công ở ga Xtra-na. Cậu Vô-lô-đi-a trầm trĩnh cũng không còn nữa. Cậu ấy bị mất tích sau một trận đánh. Nghe nói cậu ấy đã ở lại trận địa sau cùng với ý định mang những người bị thương còn sót lại ra khỏi khu vực bị bao vây. Hôm ấy trời rất tối. Có thể đã bị mìn hoặc một viên đạn lạc nào đó… Còn A-sô thì bị thương nặng. Cậu ấy nổi danh là “một tay Ác-mê-ni láu cá”. Thế nhưng bước vào cuộc chiến tranh cậu ta đã không gặp may…
Li-đa-ve-ta từ trong bếp đi ra, tay bê sanh khoai rán. Vẫn không rời mắt khỏi tấm ảnh, Cun-ga trầm ngâm nói:
-Tôi đang nói chuyện với từng cậu đấy. Tôi nhớ hồi ấy I-go đang chuẩn bị đón chị tới thăm vào đầu tháng Bảy. Lúc ấy không ai trong chúng tôi lại có thể dám nghĩ rằng đấy là những ngày hoà bình cuối cùng… Cun-ga ngừng lại hỏi với giọng bình thường:
-I-go có viết gì cho chị không? Anh ấy hiện đang ở đâu?
Li-đa-ve-ta đặt sanh khoai xuống, tay vẫn không bỏ miếng lót vải im lặng nhìn Cun-ga vẻ trầm ngầm, khó hiểu. Trong giây lát đó, Cun-ga cũng đã kịp nhận thấy khuôn mặt người phụ nữ trẻ trung thoáng đượm buồn, khó nói.
Chẳng nói một lời nào, chị lặng lẽ đến bên tủ lấy trong túi xách ra một bức thư đã nhàu nát đưa cho Cun-ga. Dường như không chịu đựng được hơn nữa, nước mắt bỗng trào ra trên má, chị đưa mu bàn tay chùi vội.
-Đây, bà láng giềng viết cho tôi đấy… Có thể không tin được chăng?
Chị nấc lên. Cứ như vậy chị khóc, hai tay xoắn lấy nhau vẻ bất lực.
-Thế nhưng chị không nhận được tin gì của I-go chứ?
-Chỉ có mấy dòng ngắn ngủi bảo là anh ấy xa mặt trận… Chỉ thế thôi. Không một lá thứ nào cả… Anh ấy chỉ nhắn miệng là đi dự một lớp học nào đó. Hình như là ở Mát-xcơ-va. Sau đấy ít lâu là lá thư của bà láng giềng…
-Có thể bà ta nhầm lẫn thôi.-Cun-ga nói một cách chắc chắn, tựa như chính anh là người biết rõ chuyện này.
-Vậy chị đã biên thư hỏi đơn vị anh ấy chưa?-Ga-li-a bỗng lên tiếng và ngồi xuống cạnh Li-đa-ve-ta.
-Hỏi gì?-Li-đa-ve-ta vẫn nức nở.
-Hỏi đơn vị của anh ấy chứ còn hỏi đâu nữa. Bức thư của anh ấy đâu?
Li-đa-ve-ta rút tuếp bức thư gấp bên cạnh, lá thư cuối cùng của I-go gửi cho chị.
-Đây, hòm thư đây. Và đấy cũng là số hiệu đơn vị. Chị phải viết ngay cho đồng chí chỉ huy đơn vị này, hỏi rõ tin tức về anh ấy.-Ga-li-a quay sang hỏi Cun-ga.-Tôi nói vậy có đúng không?
Cun-ga gật đầu,-Đúng đấy, chị viết cho đồng chí chỉ huy đơn vị đi. Tôi cũng sẽ viết cho đồng chí ấy.
Li-đa-ve-ta tròn mắt nhìn hai người và bỗng trách mình là việc đơn giản như vậy mà chị cũng không nghĩ ra được.
Từ dưới bếp thoảng lên mùi khoai tây rán và mùi thịt hộp. Li-đa-ve-ta đang vội vã chuẩn bị bữa ăn tối. Cun-ga trầm ngâm đứng bên tủ suy nghĩ về những ngày trước chiến tranh tuy mới năm ngoái thôi.
Mới đó, thế mà cứ ngỡ là đã bao thế kỷ trôi qua? Trong tấm ảnh là những khuôn mặt trẻ trung, vô tư, yêu đời và đầy tự tin. Cậu Cô-xchi-a vui nhộn hay cười đang nhìn anh với vẻ chế giễu, cặp môi mím chặt. Anh vẫn còn nhớ câu chuyện tiếu lâm của cậu ta về anh chồng già và cô vợ trẻ. Nghe chuyện cậu ấy thì không thể nhịn cười được. Con người vui nhộn ra sao thì chụp ảnh cũng nhộn như vậy. Thế nhưng cậu ấy không còn nữa. Cô-xchi-a đã anh dũng hy sinh trong một trận phản công ở ga Xtra-na. Cậu Vô-lô-đi-a trầm trĩnh cũng không còn nữa. Cậu ấy bị mất tích sau một trận đánh. Nghe nói cậu ấy đã ở lại trận địa sau cùng với ý định mang những người bị thương còn sót lại ra khỏi khu vực bị bao vây. Hôm ấy trời rất tối. Có thể đã bị mìn hoặc một viên đạn lạc nào đó… Còn A-sô thì bị thương nặng. Cậu ấy nổi danh là “một tay Ác-mê-ni láu cá”. Thế nhưng bước vào cuộc chiến tranh cậu ta đã không gặp may…
Li-đa-ve-ta từ trong bếp đi ra, tay bê sanh khoai rán. Vẫn không rời mắt khỏi tấm ảnh, Cun-ga trầm ngâm nói:
-Tôi đang nói chuyện với từng cậu đấy. Tôi nhớ hồi ấy I-go đang chuẩn bị đón chị tới thăm vào đầu tháng Bảy. Lúc ấy không ai trong chúng tôi lại có thể dám nghĩ rằng đấy là những ngày hoà bình cuối cùng… Cun-ga ngừng lại hỏi với giọng bình thường:
-I-go có viết gì cho chị không? Anh ấy hiện đang ở đâu?
Li-đa-ve-ta đặt sanh khoai xuống, tay vẫn không bỏ miếng lót vải im lặng nhìn Cun-ga vẻ trầm ngầm, khó hiểu. Trong giây lát đó, Cun-ga cũng đã kịp nhận thấy khuôn mặt người phụ nữ trẻ trung thoáng đượm buồn, khó nói.
Chẳng nói một lời nào, chị lặng lẽ đến bên tủ lấy trong túi xách ra một bức thư đã nhàu nát đưa cho Cun-ga. Dường như không chịu đựng được hơn nữa, nước mắt bỗng trào ra trên má, chị đưa mu bàn tay chùi vội.
-Đây, bà láng giềng viết cho tôi đấy… Có thể không tin được chăng?
Chị nấc lên. Cứ như vậy chị khóc, hai tay xoắn lấy nhau vẻ bất lực.
-Thế nhưng chị không nhận được tin gì của I-go chứ?
-Chỉ có mấy dòng ngắn ngủi bảo là anh ấy xa mặt trận… Chỉ thế thôi. Không một lá thứ nào cả… Anh ấy chỉ nhắn miệng là đi dự một lớp học nào đó. Hình như là ở Mát-xcơ-va. Sau đấy ít lâu là lá thư của bà láng giềng…
-Có thể bà ta nhầm lẫn thôi.-Cun-ga nói một cách chắc chắn, tựa như chính anh là người biết rõ chuyện này.
-Vậy chị đã biên thư hỏi đơn vị anh ấy chưa?-Ga-li-a bỗng lên tiếng và ngồi xuống cạnh Li-đa-ve-ta.
-Hỏi gì?-Li-đa-ve-ta vẫn nức nở.
-Hỏi đơn vị của anh ấy chứ còn hỏi đâu nữa. Bức thư của anh ấy đâu?
Li-đa-ve-ta rút tuếp bức thư gấp bên cạnh, lá thư cuối cùng của I-go gửi cho chị.
-Đây, hòm thư đây. Và đấy cũng là số hiệu đơn vị. Chị phải viết ngay cho đồng chí chỉ huy đơn vị này, hỏi rõ tin tức về anh ấy.-Ga-li-a quay sang hỏi Cun-ga.-Tôi nói vậy có đúng không?
Cun-ga gật đầu,-Đúng đấy, chị viết cho đồng chí chỉ huy đơn vị đi. Tôi cũng sẽ viết cho đồng chí ấy.
Li-đa-ve-ta tròn mắt nhìn hai người và bỗng trách mình là việc đơn giản như vậy mà chị cũng không nghĩ ra được.