Đứng vững đến cùng!

Từ trong ảnh, Mi-cla-sốp đang nhìn anh mỉm cười như muốn hỏi: “Thế nào, chàng thượng sĩ?”, “Đâu vẫn vào đấy”.-Cun-ga cũng thầm đáp lại, rồi lật tấm ảnh xem dòng chữ ghi ở mặt sau: “… tháng Chạp 1941, Mát-xcơ-va”. Anh hơi ngạc nhiên: Mát-xcơ-va. Tại sao lại là Mát-xcơ-va. Cậu ấy chiến đấu ở Lê-nin-grát cơ mà. Bộ đội phòng không thường ít di chuyển hơn là lính tăng này chứ. Thế mà cậu ta lại chuyển về tận thủ đô cơ đấy,-Cun-ga thầm hỏi và nhìn kỹ ngày chụp-tháng Chạp. Bây giờ là cuối tháng tư. Gần nửa năm rồi. Trên tủ còn một số tấm ảnh khác nữa. I-go đang đeo găng, tấm này chụp lúc anh đang trẻ, trông chẳng khác gì cậu thiếu niên. “Có lẽ tấm này chụp trước khi nhập ngũ,-Cun-ga nghĩ,-“Một con chim ưng non”. Và đôi mắt anh dừng lại ở tấm ảnh anh yêu thích nhất, đó là đội quyền Anh quân khu Lê-nin-grát chụp trong bộ quần áo trình diện. Cun-ga cầm lấy tấm ảnh. Những hình ảnh thân thương và xa xôi, hôm ấy là một ngày tháng Năm nắng đẹp, mọi người chụp sau một buổi tập cuối cùng trước khi thi đấu. Cun-ga đứng hàng thứ hai, sau huấn luyện viên A-na-tô-li Dôm-béc. Quanh ông là các đấu thủ của quân khu Lê-nin-grát như: I-go-na-tốp, A-sốt Vác-ca-đi-an, Vô-lô-đi-a Trê-nốp…
Từ dưới bếp thoảng lên mùi khoai tây rán và mùi thịt hộp. Li-đa-ve-ta đang vội vã chuẩn bị bữa ăn tối. Cun-ga trầm ngâm đứng bên tủ suy nghĩ về những ngày trước chiến tranh tuy mới năm ngoái thôi.
Mới đó, thế mà cứ ngỡ là đã bao thế kỷ trôi qua? Trong tấm ảnh là những khuôn mặt trẻ trung, vô tư, yêu đời và đầy tự tin. Cậu Cô-xchi-a vui nhộn hay cười đang nhìn anh với vẻ chế giễu, cặp môi mím chặt. Anh vẫn còn nhớ câu chuyện tiếu lâm của cậu ta về anh chồng già và cô vợ trẻ. Nghe chuyện cậu ấy thì không thể nhịn cười được. Con người vui nhộn ra sao thì chụp ảnh cũng nhộn như vậy. Thế nhưng cậu ấy không còn nữa. Cô-xchi-a đã anh dũng hy sinh trong một trận phản công ở ga Xtra-na. Cậu Vô-lô-đi-a trầm trĩnh cũng không còn nữa. Cậu ấy bị mất tích sau một trận đánh. Nghe nói cậu ấy đã ở lại trận địa sau cùng với ý định mang những người bị thương còn sót lại ra khỏi khu vực bị bao vây. Hôm ấy trời rất tối. Có thể đã bị mìn hoặc một viên đạn lạc nào đó… Còn A-sô thì bị thương nặng. Cậu ấy nổi danh là “một tay Ác-mê-ni láu cá”. Thế nhưng bước vào cuộc chiến tranh cậu ta đã không gặp may…
Li-đa-ve-ta từ trong bếp đi ra, tay bê sanh khoai rán. Vẫn không rời mắt khỏi tấm ảnh, Cun-ga trầm ngâm nói:
-Tôi đang nói chuyện với từng cậu đấy. Tôi nhớ hồi ấy I-go đang chuẩn bị đón chị tới thăm vào đầu tháng Bảy. Lúc ấy không ai trong chúng tôi lại có thể dám nghĩ rằng đấy là những ngày hoà bình cuối cùng… Cun-ga ngừng lại hỏi với giọng bình thường:
-I-go có viết gì cho chị không? Anh ấy hiện đang ở đâu?
Li-đa-ve-ta đặt sanh khoai xuống, tay vẫn không bỏ miếng lót vải im lặng nhìn Cun-ga vẻ trầm ngầm, khó hiểu. Trong giây lát đó, Cun-ga cũng đã kịp nhận thấy khuôn mặt người phụ nữ trẻ trung thoáng đượm buồn, khó nói.
Chẳng nói một lời nào, chị lặng lẽ đến bên tủ lấy trong túi xách ra một bức thư đã nhàu nát đưa cho Cun-ga. Dường như không chịu đựng được hơn nữa, nước mắt bỗng trào ra trên má, chị đưa mu bàn tay chùi vội.
-Đây, bà láng giềng viết cho tôi đấy… Có thể không tin được chăng?
Chị nấc lên. Cứ như vậy chị khóc, hai tay xoắn lấy nhau vẻ bất lực.
-Thế nhưng chị không nhận được tin gì của I-go chứ?
-Chỉ có mấy dòng ngắn ngủi bảo là anh ấy xa mặt trận… Chỉ thế thôi. Không một lá thứ nào cả… Anh ấy chỉ nhắn miệng là đi dự một lớp học nào đó. Hình như là ở Mát-xcơ-va. Sau đấy ít lâu là lá thư của bà láng giềng…
-Có thể bà ta nhầm lẫn thôi.-Cun-ga nói một cách chắc chắn, tựa như chính anh là người biết rõ chuyện này.
-Vậy chị đã biên thư hỏi đơn vị anh ấy chưa?-Ga-li-a bỗng lên tiếng và ngồi xuống cạnh Li-đa-ve-ta.
-Hỏi gì?-Li-đa-ve-ta vẫn nức nở.
-Hỏi đơn vị của anh ấy chứ còn hỏi đâu nữa. Bức thư của anh ấy đâu?
Li-đa-ve-ta rút tuếp bức thư gấp bên cạnh, lá thư cuối cùng của I-go gửi cho chị.
-Đây, hòm thư đây. Và đấy cũng là số hiệu đơn vị. Chị phải viết ngay cho đồng chí chỉ huy đơn vị này, hỏi rõ tin tức về anh ấy.-Ga-li-a quay sang hỏi Cun-ga.-Tôi nói vậy có đúng không?
Cun-ga gật đầu,-Đúng đấy, chị viết cho đồng chí chỉ huy đơn vị đi. Tôi cũng sẽ viết cho đồng chí ấy.
Li-đa-ve-ta tròn mắt nhìn hai người và bỗng trách mình là việc đơn giản như vậy mà chị cũng không nghĩ ra được.
 
Chương mười một

1.
Van-te Lan-gren ngồi sau chiếc bàn cũ trong căn phòng nhỏ nhắn và chăm chú xem xét giấy tờ của xưởng sửa chữa xe hơi. Công việc của anh không thuận lợi lắm, và hình như gặp hết rắc rối này đến rắc rối khác. Thời chiến này, việc sửa chữa của xưởng không phải là dễ dàng. Các chủ xe thường “tự lực cánh sinh” chưa lấy xe của mình. Ít người nghĩ đến chuyện đưa xe đến xưởng. Hơn nữa dạo này trong thành phố lại ít tắc-xi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này cũng đã rõ ràng. Một số đã bị quân Đức động viên cả xe lẫn người, một số khác đã “gác xe” lại đi làm thuê ở cảng và các nhà máy vì tiền ở đấy họ kiếm được nhiều hơn. Còn những người trung thành với nghề của mình thì phần lớn thời gian là đỗ xe tại các bến chờ khách chứ ít khi xe được lăn bánh. Hơn nữa vấn đề phụ tùng thay thế cũng rất tồi tệ. Mỗi thứ phụ tùng nhỏ đều phải mua với giá đắt gấp nhiều lần giá bình thường.
Van-te gấp quyển sổ kế toán lại. Cứ nhìn vào những con số của hai cột thu chi gần ngang bằng nhau quả thật là điều không có gì vui thú lắm. Nhưng thật ra, nỗi lo lắng của anh không phải là ở chỗ cái xưởng sửa chữa xe hơi này làm ăn không khấm khá. Nỗi lo lắng của anh là ở chỗ khác, ở công việc chính của anh trên đất nước này. Anh khao khát được hành động tích cực hơn, muốn được trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chống quân xâm lược. Nhưng “Trung tâm” vẫn bắt anh phải yên tâm với cuộc sống “thanh bình” này, không được có bất cứ hành động “tích cực” nào. Tóm lại, điều chính yếu của anh là “chờ đợi” và sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ.
Nhưng, theo anh, nhiệm vụ đang đảm nhiệm hoàn toàn khác xa với nhiệm vụ chiến đấu mà anh mơ ước: nó chỉ là công việc thu lượm tin tức, viết các bản tin mật và chuyển cho hiệu thính viên truyền về trung tâm. Chỉ có thế thôi! Không phải là công việc của một tình báo viên, mà chỉ là công việc của một “anh chàng đưa thư đặc biệt”. Sắp tròn một năm kể từ ngày quân Đức tuyên chiến với nước Nga, nhưng anh vẫn là người “dự bị”. Hình như người ta giữ anh để làm một việc gì đó. Anh cảm thấy vậy. Và khi con người đã cảm thấy điều gì đó hơi quá lâu thì dễ tin đấy là sự thực. Hơn thế nữa, nỗi nguy hiểm luôn rình rập bên anh song dần dà cũng quen đi, tựa như người lái xe quen với tốc độ nhanh. Và giá như giờ đây có ai đó nói với anh rằng, việc anh ở đây, ở cái nước Bỉ này để làm nhiệm vụ của một anh đưa thư cùng là một công việc đầy tính chất anh hùng thì có lẽ anh sẽ cười khẩy và nhạo lại rằng, thôi đừng thổi phồng tôi lên nữa.
Van-te rút điếu thuốc và châm hút. Qua khung cửa sổ to choán gần hết bức tường, có thể trông rõ khoảng sân rộng của xưởng. Sau bức màn cửa, bóng hai người thợ dứng tuổi đang lúi húi bên động cơ xe. Van-te đứng dậy, đi quanh phòng và suy nghĩ về Ma-ri-na. Chả lẽ bọn Giét-ta-pô đã đánh hơi thấy khu vực có điện đài? Tuần trước Ma-ri-na đã báo cáo về trường hợp xuất hiện bất ngờ của anh chàng thợ điện. Tất nhiên, hắn ta viện cớ kiểm tra đường dây để có thể quan sát căn phòng của chị. Hắn đến không phải để kiếm tra đường dây điện mà chính là để tìm nơi giấu điện đài. Ngay sau đó Ma-ri-na đã gọi điện thoại báo anh đến và kể lại việc xuất hiện của tay thợ điện này. Chị nói rõ là không hề gọi và gã không vào các phòng khác mà chỉ đảo qua phòng nhà bên cạnh chốc lát.
-Có thể tôi thấy thế chăng?-Có thể tôi đã đa nghi và lúc nào cũng tưởng rằng bọn Giét-ta-pô dò xét mình chăng???-Ma-ri-na hỏi và cố gắng làm cho Van-te yên tâm hơn.-Có thể đấy chỉ là anh chàng thợ điện bình thường.
-Cũng có thể là như vậy,-Van-te tỏ ý đồng tình,-Nhưng dẫu sao thì cũng phải thận trọng hơn. Chị phải báo ngay cho Trung tâm biết chuyện này.
Và khi Ma-ri-na báo cho Mát-xcơ-va biết thì ngay hôm ấy, chị nhận được điện trả lời: “Không nghi ngờ gì nữa, tên thợ điện chính là mật thám giét-ta-pô. Hãy thận trọng và suy nghĩ kỹ từng bước đi, từng lời nói. Hãy chuẩn bị ngay địa điểm dự bị. Tạm thời ngừng phát tin về”.
Địa điểm dự bị thì các đồng chí Bỉ có thể giúp đỡ tìm cho. Đó là một căn phòng nhỏ ở khu phố công nhân phía bên kia sông đào. Đây là một đường phố tương đối vắng vẻ, chạy dọc theo đại lộ chính, dành cho các loại xe tải. Nó là phố thợ nên lúc nào đường cũng bị bao phủ bởi một lớp khói dày đặc. Các đồng chí Bỉ đã tìm cho họ một ngôi nhà gạch ba tầng, cũ kỹ. Phòng điện đài ở trên tầng ba, có cửa lớn ngay lối lên cầu thang. Đó là một căn phòng xoàng xĩnh cho thuê với giá trẻ và phòng bên cạnh là của một ông già độc thân mà Van-te chỉ nói gọn lỏn là “người mình”. Trong trường hợp bất trắc có thể theo cửa thông sang phòng ông gì và thoát ra dãy hành lang chạy dài tới cuối nhà ra phía sau. Nhưng tốt nhất là không nên để xảy ra trường hợp như vậy.
Cần phải hành động gấp, phải tìm cách chuyển điện đài tới nơi dự bị, càng sớm càng tốt. Tối hôm nọ, Ma-ri-na đã gọi điện thoại từ máy công cộng ngoài đường báo tin là, từ sáng sớm, cạnh nhà chị ở thấy lảng vảng những kẻ lạ mặt. Điều mà từ trước tới giờ chị chưa hề thấy.
-Phải hết sức cẩn thận,-Van-te khuyên chị,-Như vậy là quanh nhà đã có tổ phục kích.
Một giờ sau họ gặp nhau trong quán cà phê và thoả thuận đến gần tối, khi đường phố đã náo nhiệt hơn, khi mọi người đang trên đường trở về nhà sau giờ làm việc, Van-te sẽ đi chiếc “Méc-xê-đéc” đến và mang điện đài đi.
-Anh cứ hẹn giờ đi, tôi sẽ mang va-li ra, Ma-ri-na đề nghị và mỉm cười nói thêm,-Anh cứ yên tâm, đây không phải là lần đầu!
-Không được đâu. Cô đã bị bám sát rồi, như vậy sẽ kéo theo chiếc đuôi,-Van-te nói. Cứ chờ ở trong phòng, tôi sẽ tự đến. Ở đây chúng nó chưa biết mặt tôi. Trong nhà có nhiều hộ khác nhau, người ra vào lúc này cũng nhốn nháo hơn nên bọn mật thám sẽ không kịp nhận mặt đâu. Chị về cố thu xếp, huỷ hết những giấy tờ không cần thiết và mọi tàn chứng đi. Cho điện đài và pin tự động vào túi xách. Độ bảy giờ tôi sẽ tới.
 
2.
Van-te chưa bao giờ tin vào những linh cảm, nhưng ngay trong ngày hôm ấy anh bỗng cảm thấy hình như mọi vật đều cố tình tuột khỏi tay anh. Anh đã bỏ lỡ mất món hàng hời với giá khá cao để sửa chữa năm chiếc xe tải. Anh cáu tiết quát mắng người thợ cả mặc dù biết rằng ông ta chẳng có lỗi gì trong việc này. Một lát sau, Van-te lại gọi ông ta đến và xin lỗi về thái độ nóng nảy của mình, nhưng sau đấy anh vẫn cảm thấy khó chịu, cau có. Nguồn tin của Ma-ri-na đúng là đã làm cho anh lo lắng nhiều…
“Cần vất bỏ tất cả, về nhà ngay, uống một ly cô-nhắc và cố ngủ độ một giờ,-anh quyết định như vậy. Giấc ngủ say sẽ làm cho tâm hồn thoải mái hơn. Đến chiều phải có bộ mặt sảng khoái và tươi tỉnh hơn”.
Nhưng anh cũng không thể về nhà ngay được. Đang rốn làm nốt công việc vặt thì bỗng chuông điện thoại réo lên. Van-te cầm ống nghe:
-Tôi nghe đây!...
-A-lô!... Ôx-ca đấy phải không?... Anh quên hôm nay là ngày sinh của ông nội Sác-lơ à?... Anh không được quên đâu nhé, hôm nay ông cụ tròn sáu lăm tuổi đấy… Hãy đến sớm một chút, ông đang chờ anh,-một giọng phụ nữ lắp bắp trong ống nói.-Anh không được đến muộn đâu đấy, ông nói rằng, đang rất mong anh đến chơi sớm hơn dự định đấy…
-Xin lỗi, chị gọi từ đâu đấy?-Van-te cắt ngang giọng phụ nữ.
-Còn gọi đi đâu nữa, chả lẽ anh không phải là Ôx-ca ư?
-Xin lỗi, không phải tôi đâu,-Van-te bình tĩnh đáp lại, hơi mỉm cười,-Bà gọi nhầm tới xưởng sửa chữa ô-tô rồi, bà chị ơi.
-Sao, xưởng sửa chữa ô-tô à? Ôi Đức Mẹ Ma-ri-na. Xin lỗi ông vậy. Sao cái đường dây hay lẫn thế chẳng biết… Quay một số lại nhảy sang số khác… Xin thành thật mong ông tha lỗi. Và máy vang lên tiếng tuýt tuýt đều đều.
“Cũng may mà mình còn chần chừ chưa về nhà!-Van-te thầm bảo,-“Thật là may… Thôi phải lên xe ngay!”.
Mấy phút sau chiếc Méc-xê-đéc của anh đã phóng nhanh về ngoại ô thành phố. Ngồi sau tay lái nhưng đầu óc anh lại quay cuồng với những ý nghĩ về cuộc nói chuyện điện thoại vừa qua. Qua giọng nói vội vã đó anh đã nhận ra cô ta-người liên lạc mà anh chưa hề được biết mặt. Cô rất ít khi gọi thẳng cho anh như vậy, chỉ trừ những trường hợp có tin thật quan trọng và khẩn cấp cần chuyển gấp về Mát-xcơ-va. “Ông nội Sác-lơ” đó là tiếng quy ước, đồng thời cũng là mật khẩu liên lạc báo cáo rằng có tin tối quan trọng từ Béc-lin. Những lúc anh được “ông nội Sác-lơ” gọi như vậy là phải bỏ công việc phóng ngay chiếc “Méc-xê-đéc” tới ki-lô-mét số 5 tuyến đường sắt Brúc-xen-Béc-lin, đến hiệu chả cá nổi tiếng ngay cạnh ngã tư đường sắt đường bộ, nơi có những món cá đặc sản, có bia ngon và rượu vang khá rẻ. Chủ nhân đồng thời là người bán hàng coi Van-te như người khách thân thuộc, thường trao cho anh bao thuốc lá trong đó giấu sẵn những bản tin mật. Đây chỉ là đường dây liên lạc dự bị, hãn hữu mới dùng. Van-te được biết rằng những nguồn tin của trạm này cung cấp thường do công nhân đường sắt chuyển.
Lần này, ngoài mật hiệu “ông nội Sác-lơ” ra, còn thêm mật hiệu “ngày sinh nhật” nữa. Có nghĩa là nguồn tin có giá trị chiến lươc lớn, quan trọng. Còn con số “sáu lăm tuổi” có nghĩa là phải chuyển ngay về Mát-xcơ-va, về “Trung tâm”. Thậm chí người nữ liên lạc còn công khai nói thẳng là “ông nội” đang chờ anh đến ngay rằng “ông rất sốt ruột” như vậy càng có nghĩa tối khẩn…
Vòng xe vào nơi đỗ, Van-te bước ra khỏi xe và thong thả vào quán rượu. Trần nhà thấp, tối, mát mẻ. Mùi cá rán, cá nướng thơm phức. Cạnh cửa sổ trông ra đường có ba công nhân đường sắt đang ngồi nhấm nháp rượu vang. Van-te đến thẳng chiếc bàn ở ngay cạnh quầy, nơi Ja-cốp, chủ hiệu đang ngồi.
-Một cốc vang và một bao Phi-líp.
Chủ hiệu gật đầu vẻ bình thản như đối với mọi khách ăn và khi đã nhận ra Van-te liền nhanh nhẩu rót đầy cốc rượu vang đỏ cho anh.
-Hôm nay chúng tôi có cá chiên nướng, rất hợp với khẩu vị ông.-Ja-cốp nói mật khẩu.
-Cám ơn,-hôm nay tôi lại không thích món ấy,-Van-te đáp và thong thả nhấp ngụm vang trong chiếc cốc pha lê cao chân.
-Thưa ông, thuốc lá đây,-Chủ quán trao cho thuốc.
Rượu vang thơm và rất mát, làm dịu ngay cơn nóng nực sau một cuốc xe vội vã. Van-te có thể còn uống thêm được cốc nữa nhưng anh đang vội. Đặt tiền lên bàn và chểnh mảng đút bao thuốc vào túi áo, anh nói:
-Cám ơn, không cần phụ lại đâu.
 
3.
Về tới nhà, Van-te vội cài cửa phòng cẩn thận và mở gói thuốc lá. Anh lấy điếu thứ ba từ bên trái và rút tờ giấy cuộn tròn đút trong điếu thuốc. Mở mảnh giấy mỏng và giở trang thơ “Phan-tơ’ của Gớt, anh bắt đầu giải mã, biến những hàng cột chữ số thành những dòng chữ mong đợi. Ngay từ câu đầu tiên anh đã cảm thấy mặt nóng bừng. Trước mắt anh dần hiện lên một bản tin cực kỳ quan trọng. Van-te vội đọc lại lần thứ hai nguồn tin thứ nhất.
“Hít-le đang có kế hoạch phục thù thất bại năm bốn mốt. Hướng tấn công chiến lươc sẽ là mặt trận phía nam. Nóm tập đoàn quân mạnh nhất “Klê-ít” đã được tập trung. Bộ tổng tư lệnh dự định trước hết đánh chiếm vùng sông Đông sau đó toả xuống vùng A-xtơ-ra-khan-Xta-lin-grát để tiến đến sông Vôn-ga, cắt đứt vùng Cáp-ca-dơ khỏi trung tâm nước Nga và chiếm lấy Ba-cu. Cuộc tấn công đầu tiên trong chiến dịch mùa hè này dự định vào giữa tháng Năm, từ mười lăm đến mười tám-Ikar”.
Nguồn tin thứ hai khẳng định thêm những kết luận của nguồn thứ nhất: “Bộ tổng tư lệnh Hít-le cho rằng; khu dầu mỏ nước Nga từ Grô-dơ-nưi đến Ba-cu có thể đáp ứng được mọi nhu cầu của Đế chế. Các chuyên gia lớn về dầu mỏ đã được triệu tập về Béc-lin. Đang dự thảo kế hoạch nhằm nhanh chóng khôi phục các khu dầu mỏ sẽ bị quân Nga phá hoại khi buộc phải rút lui. Các chuyên gia dầu mỏ dự kiến sẽ đến vùng này vào giữa tháng Tám. Ikar”.
Van-te ngồi như vậy mấy phút liền, im lặng ngắm nhìn mẩu giấy con mỏng dính, ngắm nhìn những cột chữ số li ti như ngắm nhìn một vật báu vô giá. Anh hình dung trong óc tấm bản đồ trải rộng với những mui tên đậm nét hướng từ Khác-cốp đến vùng Vôn-ga và sông Đông trông giống như những mũi kiếm nhọn hoắt chọc cắt miền Nam đất nước thân yêu của anh. Cáp-ca-dơ nguồn dầu mỏ giàu có của đất nước đang bị đe doạ, cả vùng Vôn-ga rộng lớn sẽ là nơi hứng chịu quả đấm chiến lươc chính của quân thù.
“Nhát đâm thọc từ dưới lên,-Van-te thầm nghĩ,-và không phải chỉ có vậy. Bọn Đức sẽ đánh thốc tới Mát-xcơ-va lần nữa. Ikar, tôi không biết tên thật của anh là gì, nhưng tôi biết, anh là người đồng chí thân yêu của tôi… “Và anh lại thầm nghĩ, quả thật với những nguồn tin này, anh sẽ sẵn sàng làm “người đưa thư” thầm lặng mãi mãi. Mẩu giấy với hai nguồn tin tình báo quan trọng này, trong thực tế, đã chứa đựng đoàn bộ nội dung chiến dịch mùa hè sắp tới, nó liên quan tới những trận đánh chủ yếu quyết định số mệnh của hàng trăm ngàn con người…
Anh liếc nhìn đồng hồ: đã năm giờ mười lăm phút. Ma-ri-na chờ anh tới vào lúc bảy giờ. Có lẽ giờ đây chị đã thu xếp xong hoặc đang thu xếp chiếc điện đài nhỏ bé vào va-li. Phải làm gì bây giờ? Anh gõ gõ ngón tay trên mặt bàn theo nhịp trống, căng óc suy nghĩ cách gq hai nguồn tin này. Cứ việc chuyển máy đến địa điểm mới rồi sẽ phát đi hay là…? Hay là vừa đi vừa truyền tin. Nhưng anh bỗng nhớ ngay tới Ma-ri-na báo tin là: “Gần nhà chị hiện đang có những kẻ lạ mặt lảng vảng thăm dò. “Cô ấy đúng là đang bị theo dõi”. Một ý nghĩ lạ chợt loé lên trong óc anh. Ngộ nhỡ không mang máy đi được thì sao? Nếu anh bị bắt giữ ngay ở lối cổng vào thì sao? Biết đến bao giờ mới truyền đi được những nguồn tin cực kỳ quan tọng này? Mát-xcơ-va sẽ không thể nhận được chúng, sẽ không nhận được các nguồn tin cực kỳ quý giá mà người đồng chí thân yêu mang bí danh Ikar của anh đã đoạt được. Đây là những nguồn tin quyết định toàn bộ số phận của chiến dịch mùa hè sắp tới.
Anh đưa bàn tay xoa xoa mồ hôi vã ra trên trán. “Cần phải chuyển đi ngay. Phải chuyển ngay bây giờ,-anh quyết định.-Dù ở đấy có phải trả giá như thế nào chăng nữa thì Mát-xcơ-va cũng phải biết sớm nhất những tin này”.
Van-te đứng dậy, đút khẩu brô-ning vào túi quần và mở ngăn kéo lây thêm khẩu pa-ra-ben-lom nặng nề, dắt vào thắt lưng. Suy nghĩ một lát, anh lại mở ngăn tủ để giày lấy thêm quả lựu đạn kiểu Pháp. Của quý này do Gôn-đe tặng anh đề phòng khi bất trắc. Hai tháng trước đây những người yêu nước Bỉ đã đánh cắp được trong kho hai hòm lựu đạn kiểu này.
Anh xoay xoay quả lựu đạn xinh xinh trong tay ước lượng xem sức nặng của nó. Nên mang hay không? Anh thầm tự hỏi và trả lời ngay: “Thôi cứ mang theo vậy. Có thể nó có ích cho mình”. Anh quyết định và chặc lưỡi rồi đút quả “na” đó vào túi áo vét-tông.
 
4.
Van-te cho xe chạy theo con đường ngắn nhất tới gặp Ma-ri-na. Rẽ vào góc phố, anh quyết định cho xe đi qua nhà để kiểm tra tình hình. May cho anh, từ lúc ấy cũng có một chiếc xe tải chạy trước nên anh có cớ để từ từ bám theo.
Từ xa, anh đã phát hiện ra bọn mật vụ: Hai tên mặc quần áo dân sự màu ghi, đội mũ phớt màu sáng đang lười nhác giả vờ đi dạo quẩn quanh khu nhà. “Đúng là nhà đã bị bao vây”,-Van-te thầm nghĩ.
Anh vẫn cho chiếc “Méc-xê-đéc” bám sau xe tải. Đường phố hẹp vắng vẻ. Kế hoạch hành động của anh đơn giản: sẽ dùng xe cạnh quán cà phê gần đấy, rồi đi bộ quay lại ngôi nhà, lên phòng Ma-ri-na.
Đến ngã tư, theo thói quen, Van-te cho xe đi chậm lại, ngó nghiêng hai bên xem có xe hay người qua lại không. Anh bỗng phát hiện thấy trong góc phố một chiếc xe hòm lớn đang lù lù đứng đấy từ bao giờ. Nó đỗ nặng nề, gần hiệu cắt tóc, hai bánh bên phải ghếch lên vỉa hè. “Xe tìm phương vị. Chúng đang theo dõi sóng phát”-Anh thoáng nghĩ và nhìn chiếc xe lần nữa, bật cười: “Bọn giét-ta-pô ngu thật. Cái hiệu cắt tóc nhỏ bé kia cần gì mà phải dùng cả chiếc xe tải hòm đồ sộ ấy”.
Anh cho xe đi lên quá một dãy phố nữa, rồi quay lại theo con đường khác chạy song song với đường cũ. Kiểm tra thêm xem còn chiếc xe nào khác không”. Vòng vây như vậy là đã được dăng quanh. Bọn giét-ta-pô quyết định phục chờ có sóng phát lên sẽ xác định hướng rồi xông tới bắt tại chỗ cả máy lẫn người. Gần hiệu cắt tóc có ba chiếc xe con và một mô-tô ba bánh đang đỗ. Quẩn quanh thêm mấy người đi xe đạp đang tán gẫu. Van-te cho xe mình lách vào đỗ sau chiếc “pho” đen rồi mở cửa xe nhưng chưa bước ra vội. “Liệu mình còn trở lại đây không,-anh bỗng thầm hỏi và cũng dập tắt ngay cái ý nghĩ đáng sợ đó đi.-Vớ vẩn! Liệu còn đi đâu nữa nếu không trở lại với xe mình?”. Anh rút thuốc lá ra châm hút, lơ đãng nhìn khách ra vào quán cà-phê. Liệu có giấu điện đài để mang ra được không đây? Đúng là hơi liều đấy, nhưng biết làm sao được? Liệu có qua nổi mấy đứa lảng vảng chỗ kia không? Van-te cứ vấn vương mãi với ý nghĩ ban đầu nhưng anh chưa biết quyết định ra sao thì ngay lúc ấy một ý nghĩ mãnh liệt khác loé lên, tựa như ý nghĩ của một người nào khác nhắc nhở anh với giọng nghiêm khắc là, trong tay anh đang nắm cả một kế hoạch chiến dịch mùa hè lớn. Cuộc sống của anh, của đại uý an ninh Van-te Cu-xa-nốp, của một cán bộ tình báo, liệu có nghĩa lý gì so với vận mệnh của hàng trăm ngàn chiến sĩ, của hàng quân đoàn, số phận của bao thành phố, làng mạc đang phụ thuộc vào quyết định của anh lúc này? Tất nhiên anh không có quyền được liều lĩnh, nhưng cần phải tìm cách giải quyết cho hợp lý và thông minh nhất. Nguồn tin này phải được chuyển ngay về Trung tâm. Càng sớm càng tốt.
Anh đang định rẽ vào quán cà-phê làm một cốc rượu vang nhẹ cho đỡ khát. Nhưng anh thầm bảo mình “Thôi để lần khác và cái “lần khác” ấy chả biết đến bao giờ mới có.
Chưa kịp quay đi thì một chiếc xe con màu đen đã lạng vào vỉa hè, cửa xe xịch mở .
-Ông Lan-ghen! Chào ông Lan-ghen…
Van-te nhận ra ngay chiếc xe của một viên trung tá quốc xã vừa đưa đến chữa ở xưởng anh và quen mặt cả tên lái xe. Một cái mặt béo phệ và chiếc đầu hói ló ra khỏi cửa xe.
-Ồ, ông La-ghen, máy móc chạy tốt và êm như máy đồng hồ ấy. Nếu ông không vội, tôi xin mời ông lên ngồi thử xem…
-Xin sẵn sàng,-Van-te sung sướng nhận lời ngay và anh bước lên ngồi cạnh tên lái xe.-Tôi cũng xuống gần đây thôi.
Khi chiếc “ô-pen” quân sự dừng lại gần một ngôi nhà gạch, những tên mật thám đưa mắt nhìn nhau đầy ý nghĩa: chúng biết rõ chiếc xe này là của ai.
Van-te đường hoàng bước ra, nhẹ nhàng đóng cửa xe và dõng dạc nói với người lái xe:
-Nếu cần gì anh cứ đến tôi, đừng ngại,-Và anh đi vào lối lên nhà, không thèm để ý đến mấy tay mật thám.
Theo lối thang gác bằng sắt, anh bước lên tầng ba. Dừng lại ở hành lang quan sát, không có ai theo dõi anh cả. Từ trên tầng này có thể nhìn rõ toàn bộ cầu thang và khu sân nếu anh đứng ở góc rẽ. Anh nhảy hai bước một lên tầng bốn và khẽ gõ ba tiếng theo quy ước vào cửa phòng Ma-ri-na. Cánh cửa hơi hé mở.
-Ai đấy?-Ma-ri-na hỏi và khi biết là Van-te chị liền mở rộng cửa.-Anh gọi điện thoại nhưng tôi không tin… Anh vào đi… Anh hẹn bảy giờ nên tôi chưa chuẩn bị gì cả… Có chuyện gì thế?
Ma-ri-na đang mặc đồ ngủ trong nhà. Tóc còn buông xoã ra trên vai. Trông chị có vẻ như vừa tắm xong, nét mặt còn đang thoải mái, chỉ có vài nếp nhăn rất nhẹ trên má khi chị cười. Nhưng trong đôi mắt nhìn chăm chú vào Van-te là thoáng vẻ lo lắng ngạc nhiên.
 
-Chẳng có chuyện gì cả,-Van-te vội nói cho chị yên tâm,-Cần phải đến sớm hơn, thế thôi.
-Thế mà tôi cứ tưởng… Chẳng lúc nào hết lo lắng được…
-Lo làm gì cho nó gầy người đi,-Van-te cố nói vui,-và dừng lại giữa phòng,-điện đài đâu rồi?
-Xếp vào va-li rồi,-Ma-ri-na vẫn nói giọng nhỏ nhẹ.-Chỉ có ăng-ten là chưa cất thôi. Tôi đang chờ anh đến…
“Khuôn mặt cô ấy hấp dẫn làm sao… Nhất là đôi mắt,-Van-te thầm nghĩ-Không những đẹp mà còn rất nhiệt tình, rất Nga… Thật là lạ, sao từ lâu nay mình không nhận thấy như vậy… Nét mặt cô ấy thanh tú và đôi môi đỏ mọng cứ như tô son ấy. Còn cặp mắt, chà, cặp mắt. Anh chợt thốt lên: Tốt.
Ma-ri-na không hiểu anh nói gì. “Tốt” có nghĩa là cô chưa tháo ăng-ten hay là ý cô định chờ anh đến. Cô vẫn còn băn khoăn trước sự xuất hiện bất ngờ của anh và hơi ngượng vì chưa kịp mặc quần áo ngoài nhất là trong căn phòng bừa bộn thế này, đầu tóc, mặt mũi còn chưa được trang điểm gì. Cô không muốn tiếp Van-te trong cảnh như thế này, mặc dầu từ lâu cô đã mong đợi được tiếp anh trong căn phòng của mình. Hơi liếc nhìn vào gương làm sao mặc được quần áo ngoài bây giờ-mặc trước mặt anh ta hay sao?...
-Từ cửa sổ có nhìn ra đường phố được không,-Van-te vừa hỏi vừa bước tới bên cửa sổ, tự khẳng định rằng, từ đây có thể trông rõ được lối vào căn nhà này.
-Anh có thấy hai người lảng vảng dưới đường không?
-Vẫn còn ở đấy,-Van-te đáp và quả thật nhìn thấy hai tên mật thám đang ngồi dưới ghế đá.
-Anh đứng đấy, đừng quay lại.-Ma-ri-na bỗng nói, giọng có vẻ kiên quyết.-Tôi thay áo tý đã. Anh hiểu chứ?
-Hiểu, Van-te gật đầu.
Cánh cửa tủ mở ra sau lưng anh, “Cô mặc nhanh nhanh lên”-anh thầm bảo và không hiểu tại sao bỗng thấy thú vị và vui vui khi thoáng cảm thấy mùi thơm thơm của quần áo phụ nữ toả ra. Anh thấy ái ngại cho cô, một phụ nữ khá trẻ bị sống cô đơn và đầy hiểm nghèo như thế này trên nước Bỉ xa xôi này. Ai có thể biết được, chuyện gì sẽ xảy ra với họ sau một giờ nữa. Anh muốn nói với Ma-ri-na những lời thật chân thành, âu yếm vì sau đây, anh sẽ phải hạ lệnh cho cô làm một công việc mà anh cảm thấy rất nguy hiểm, nhưng không thể dừng được. Liệu cô ấy có biết chiếc xe định vị của chúng nó đang đỗ ở ngoài góc đường hay không?
Anh đứng nguyên vậy bên cửa sổ và vô tình nhận thấy bóng Ma-ri-na in vào mặt kính trong suốt như gương. Cô đang đứng quay mặt phía sau lưng anh và cởi áo khoác. Một thân hình cân đối, khá đẹp với những đường cong đầy hấp dẫn in rõ trong bóng kính, và quả thật dù không muốn, Van-te cũng không thể quay mặt đi được.
Máu như dồn lên trên đầu anh và anh cảm thấy ở má dật dật. Anh thấy mình thật bất lịch sự khi nhìn trộm cô gái trong cái cảnh như vậy. Anh đưa mắt nhìn thẳng sang ngồi nhà trước mặt, bên kia đường.
-Sắp xong chưa?-Anh hỏi.
-Ngay đây, xong ngay đây…
Anh lại nhìn vào kính cửa và thất Ma-ri-na đang vội vã mặc váy. Anh thở dài nhẹ nhõm.
-Điện đài đầu?-Anh hỏi giọng cố giữ vẻ nghiêm trang.
-Trong va-li. Tôi đã nói với anh rồi.-Ma-ri-na đáp, giọng nhỏ nhẹ cố nén hồi hộp vì hình như đã đoán được ý của Van-te.
-Bao giờ thì đến buổi phát:-Van-te hỏi tiếp, cố làm bộ như không nhận thấy vẻ hồi hộp trong giọng của Ma-ri-na.
-Đúng hai mươi giờ.
-Nhưng có thể phát sóng dự bị ngay bây giờ được không?
-Tất nhiên là được. Sóng này hoạt động suốt ngày đêm. Vì đó là sóng trực mà.
-Vậy thì tranh thủ đi. Tôi cần báo gấp về Trung tâm mấy tin này,-Vừa nói, Van-te vừa đưa ra hai bản tin.
Chị mở tròn mắt nhìn Van-te không hiểu và Van-te cũng nhận rõ đôi lông mày chị hơi run run, ánh mắt lộ vẻ lo sợ, hốt hoảng-sự lo sợ và hốt hoảng của con người biết được mối nguy hiểm bao trùm lên công việc sắp phải làm. “Cô ấy biết chiếc xe định vị đang đỗ ở góc phố”-Van-te khẳng định.
-Làm thế nào bây giờ?-Chúng ta đã định…-Ma-ri-na lẩm bẩm nói.-Vả lại điện đài đã đóng gói cẩn thận rồi.
-Đành phải thế thôi,-Van-te ngắt lời Ma-ri-na,-Cô hãy mã hoá nhanh lên.
-Được thôi.-Ma-ri-na cầm lấy tờ giấy, tay run run.
-Cần bao nhiêu thời gian cho việc này?
-Không quá hai mươi phút.
-Cô làm ngay đi.-Anh hỏi tiếp luôn: Cô có nhớ số điện thoại tôi ghi cho hôm nào không nhỉ? Số điện thoại dự phòng khi khẩn cấp ấy mà?
-Còn nhớ…
-Nếu có gì bất trắc thì hãy…-Van-te định nói là-thoát ra khỏi đây theo lối sau nhưng anh ngừng lại vì Ma-ri-na cũng đã hiểu rồi.-Nếu ra được thì phải gọi ngay số điện thoại này để các đồng chí trong tổ chức kháng chiến Bỉ giúp đỡ. Gặp họ cô hãy chuyển lời chào của tôi nói là của Lan-ghen. Và không được nói gì thêm vì ở đấy người ta không biết cô đâu. Cứ coi như là một người kháng chiến Bỉ. Cô hiểu ý tôi chứ?
-Rõ, tôi hiểu.
 
5.
Khoảng hai mươi lăm phút sau khi Ma-ri-na đánh điện thì bọn Đức xuất hiện ngay trong khu vực họ. Từ cửa sổ tầng bốn, Van-te trông rõ chiếc xe tải để trần phóng đến và khoảng mười lăm tên giét-ta-pô, súng tiểu liên cực nhanh trong tay, ào ào nhảy xuống. “Lạ thật, hình như chúng chưa biết đích xác ngôi nhà này”-Van-te thầm nghĩ. Anh không hiểu được rằng, bọn giét-ta-pô không còn đủ thời gian để xác định rõ hơn vị trí nữa. Chúng đã săn đài này từ lâu nhưng chúng cũng không ngờ là hôm nay nó lại lên tiếng ngay ở đây và trong giờ bất ngờ này. Vì khác hẳn với chu kỳ hoạt động trước đây của nó.
Van-te liếc nhanh nhìn Ma-ri-na. Chị đang cúi gập mình trên máy, một tay cầm bản mã số, một tay gõ đều đều ma-níp. Khuôn mặt chị trắng bệch khác thường tựa như phủ một lớp phấn mỏng.
“Chỉ cần cô ấy chuyển kịp”,-anh nghĩ nhanh và chạy ra sau cầu thang gác.
Một số tên giét-ta-tô đang gọi nhau dưới nhà, chạy lên tầng một, gót ủng khua vang. Một tên sĩ quan đang cúi mình chạy lên gác. Hắn xua tay cầm khẩu súng lục, miệng luôn thúc giục bọn tay chân. Cùng với bọn này còn có hai tên mật thám bận thường phục vẫn rình mờ ở đây, chạy theo. Cả ngôi nhà hầu như chết lặng, chỉ nghe có tiếng ủng chạy rầm rập và tiếng thét lí nhí.
“Chúng lên đến chỗ cầu thang thứ hai, mình sẽ bắn”,-Van-te thầm suy tính. Mỗi thớ thịt của anh đều căng lêng, dần dật và sống lưng ớn lạnh. Tay anh sờ phải báng khẩu súng lục âm ấm, anh thấy yên tâm hơn. Bọn Đức càng chạy lên gần cầu thang gác hai, Van-te càng cảm thấy bình tĩnh tựa như anh không hề biết. Anh chẳng còn cách nào khác và cũng không cần biết gì hơn ngoài ý nghĩ, trận đánh nầy anh sẽ thắng và sẽ chóng kết thúc. Nhưng anh cũng không thể hình dung và không thể chấp nhận được ý nghĩ là anh sẽ chết, sẽ hi sinh ở đây, ở cái cầu thang gác của ngôi nhà xa lạ này.
Van-te đứng trong tư thế ngắm bắn như khi tập, tay tỳ khẩu súng lục trên thành thang gác nhẵn bóng lên vì bao nhiêu người qua lại. Bọn Đức vẫn ào ào chạy lên vững tin ở sức mạnh của chúng. Van-te bình tĩnh ngắm tên sĩ quan chạy đầu và nghiến răng bóp cò. Một tiếng nổ đanh vang lên trong cầu thang sắt. Tên giét-ta-pô vừa chạy theo đà vừa ngã giúi xuống dưới chân bọn lính của nó. Bọn Đức hơi ùn lại một khoảnh khắc và, không bỏ lỡ cơ hội, Van-te bấm cò phát thứ hai, tên này chới với, quay một vòng rồi ngã sấp mặt xuống.
“Hai thằng rồi”-Van-te cười cay độc và sung sướng, chuyển sang góc khác. Ngay lúc đó, hàng loạt tiểu liên xô lên. Đạn tung toé trên trần nhà. Đạn va vào tay vịn, vào cầu thang sắt làm vang lên những tiếng nổ inh tai, Van-te thầm cảm ơn người thiết kế chiếc cầu thang gác này, nhờ đó mà đạn đã không bắn đi xa được.
Anh tiếp tục bắn, chính xác từng viên một. Phải hết sức dè xẻn đạn. Thêm hai tên giét-ta-pô nữa gục xuống dưới hai phát đạn của anh. Tên thứ ba đứng sững ngay ở tường và khuỵu dần xuống như đang ngủ gật… Khẩu Pa-ra-ben-lom đã hết đạn… Bọn giét-ta-pô xông lên, và anh ném mạnh khẩu súng vào trán tên đi đầu rút vội khẩu Brô-ning nhỏ bé hơn. Hàng loạt tiểu liên lại vang lên đanh gọn.
Lợi dụng lúc Van-te ngừng bắn, năm tên giét-ta-pô vừa bắn vừa yểm hộ cho nhau vừa xông tới chỗ rẽ của gác ba. Van-te không kịp bắn vì chúng đã khuất ngay dưới chân anh… Từ dưới chúng bắn thốc lên như vãi đạn… Tiếng kính cửa vỡ loảng xoảng… Một số tên đã lên được đầu cầu thang gác ba. Ngoài phố vọng vào tiếng xe rít phanh… Vừa bò, tránh đạn và nép vào tường để hạn chế tầm bắn của Van-te, bọn Đức dã lên được đông hơn.
“Chỉ còn có năm viên đạn nữa thôi,-Van-te thầm tính.-Còn quả lựu đạn, tao không cho chúng mày bắt sống tao đâu”. Anh thở gấp, mắt vẫn không rời khỏi cầu thang gác bốn vì anh sợ trong một khoảnh khắc sơ hở bọn áo đen kia sẽ hò nhau xông lên. Trong phòng Ma-ri-na có tiếng kẹt cửa. Có lẽ Ma-ri-na đã chuyển xong.-anh thầm ước tính thời gian và đôi môi khô bỏng của anh nhoẻn cười,-Chúng tao đã kịp xong trước chúng mày! Nhất định đã kịp rồi!”.
Nhưng bỗng nhiên anh thấy vai trái rung lên, Van-te cắn môi và ngạc nhiên vì không thấy vai bị đau buốt mà ngược lại cánh tay trái anh cứ dại dần đi.
-Mát-xcơ-va đã nhận xong,-anh nghe sau lưng tiếng nói hổn hển, ngắt quãng của Ma-ri-na,-Đã nhận xong.
-Điện đài ra sao?-Van-te thở dài nhẹ nhõm.
-Chỉ còn là những mảnh vụn… Đã xong mọi việc. Tài liệu, mật mã đều đã thiêu trong bếp ga!...
Chị vẫn đứng ở ngưỡng cửa, nét mặt kiên định tuy hơi tái đi, tay cầm khẩu súng lục xinh xinh dành cho phụ nữ. Van-te hạ lệnh:
-Rút đi, cô nghe không! Rút đi!
Anh hất nòng khẩu Brô-ning chỉ lối cầu thang phụ lên gác thượng và từ đấy rút ra sau nhà. Anh nói như ra lệnh:
-Ra theo lối này. Nhanh lên! Cô nghe không? Còn chần chừ gì nữa!...
Cô quay đi, ôm mặt chạy, đôi vai run lên. Cô mặc chiếc váy ngắn, lập cập trèo theo chiếc thanh sắt bắc lên tầng thượng, thỉnh thoảng lại run bắn lên vì tiếng đạn nổ chí chát ở dưới.
Cô không còn trông thấy, cũng ngay lúc ấy Van-te ngồi sụp xuống tay ôm ngực, cắn chặt đôi môi đầy máu, tay trái rút quả lựu đạn trong túi. Từ phía dưới, bọn giét-ta-pô vừa chạy vừa bắn, xông lên. Van-te cố lấy sức đưa quả lựu đạn lên môi, rút chốt an toàn và nghiến răng thả nó lăn theo cầu thang.
Quả lựu đạn quay lông lốc theo các bậc thang, còn bọn giét-ta-pô chạy đầu thì la lên hốt hoảng, vội quay lại chen nhau nhảy trước.
Lăn xuống đến chân cầu thang gác ba, quả lựu đạn quay tại chỗ hai vòng, rồi đứng hẳn, bỗng một tia chớp bùng lên, soi rọi lối cầu thang xẩm tối và một tiếng nổ chói tai gầm vang.
Ma-ri-na chạy theo tầng gác thượng mờ tối, chui qua các dãy dây phơi quần áo, đến cuối gác liền rẽ theo lối cầu thang, chạy xuống cừa ra vào phía cuối nhà.
 
Chương mười hai

1.
I-go Mi-cla-sốp đứng nhìn qua cửa sổ. Đoàn tàu tốc hành bánh nghiên qua các kẽ nối đường ray làm vang lên những tiếng xình xịch đều đều buồn tẻ, ngày càng tiến xa về phía tây. Làn không khí thoáng mát của buổi bình minh thổi tạt qua khung cửa mang theo hương của những đám hoa cỏ và vị ngọt của những rặng thông non. Con đường sắt chạy xuyên qua khu rừng thông. Ngày mới rạng, từ các thung lũng vẫn còn vương vất những làn sương mai làm nổi bật lên những ngọn cây thông như chóp nón. Mi-cla-sốp lơ đãng nhìn theo những gốc cây bị chặt sắt mặt đất và hiểu rằng bọn Hít-le đã phải trả giá đắt cho việc phá huỷ này. Các đội du kích trong vùng đã cảnh cáo và tỏ cho chúng biết sự có mặt của họ! Tối qua họ đã bắn vào đoàn tàu này. Họ đã bắn thẳng vào các cửa sổ làm vỡ kính và ba tên bị thương. Mi-cla-sốp nhớ lại cái phút khó chịu đó, khi anh cùng bọn đi trên tàu phải vội nằm bẹp xuống sàn để tránh đạn. Còn người lái tàu, thì hình như được hẹn trước đã hãm đoàn tàu chậm lại để cho du kích tha hồ bắn vào tiểu đoàn lê dương này.
Khoảng vài ba phút sau khi bị bắn, các toa tàu như rung lên trong những loạt đạn liên hồi bắn nháo nhào vào bóng đêm. Mi-cla-sốp cũng nhắm mắt bắn bừa cho đến khi có lệnh của viên đại uý Béc-ke, tiểu đoàn trưởng: “Này, bọn điên! Ngừng bắn ngay!”. Cứ như vậy đoàn tàu chạy trong đêm tối đầy lo âu. Mãi đến gần sáng mọi người mới thở phào nhẹ nhõm vì bóng đêm đã tan dần và càng đi về phía tây thì nguy cơ chạm trán với du kích càng giảm đi.
Mặt trời đang dần dần hiện lên phía xa xa đâu đó trên nước Nga, và khi đã vượt qua đồi trọc trước mặt, nó ngạc nhiên đứng nhìn đoàn tàu đang đi xa dần tựa như lưu luyến tiễn đưa những người Nga với những bộ quần áo xa lạ và kỳ cục kia đang vượt qua biên giới Tổ quốc của họ. Những người lính lê dương dồn quanh cửa sổ, nhìn theo cánh rừng sồi và bạch dương thân thuộc, đưa mắt vĩnh biệt những khung cảnh thân yêu của mảnh đất quê hương như muốn in lại trong trái tim mình hình bóng dải rừng Nga cuối cùng mà họ phải vượt qua để rồi mai đây sẽ sống một cuộc sống chán chường và bị dày vsẵn sàng nơi đất nước xa lạ.
Bánh xe vẫn đều đều gõ nhịp như muốn hỏi từng người trong họ: anh đi đâu? Sao anh lại ra đi? Anh đi đâu đấy? Sao anh lại ra đi?
Mi-cla-sốp rời khỏi cửa sổ, ngồi xuống, chiếc ghế sắt sát thành xe. Cuối toa vọng lại giọng trầm trầm u uất bài hát người thuỷ thủ:
Bà mẹ già mỏi mắt chờ trông,
Đứa con trai trở về trước ngõ.
Nhưng mẹ ơi, đợi làm chi vô ích,
Nó chẳng bao giờ về với mẹ nữa đâu…
Mi-cla-sốp kéo cao cổ áo. Lòng anh cũng xốn xang suy nghĩ. Anh húng hắng ho và nghĩ đến Xê-rô-ta-nốp.
 
2.
Ngay từ những ngày đầu gặp gỡ anh đã để ý đến Xê-ra-ta-nốp. Đó là khi họ được chuyển từ trại tù binh ra trại huấn luyện. Tiếng là trại huấn luyện nhưng bề ngoài nó cũng chẳng khác gì trại tập trung, cũng những dãy hàng rào dây thép gao dày đặc, chòi canh lạnh lùng bao quanh các dãy nhà thấp sát đất, chỉ có khác là trong đó kê hai hàng giường nằm chứ không phải bốn hàng như trại tập trung. Lúc đầu Mi-cla-sốp nghĩ rằng Xê-ra-ta-nốp là một con sói đã lột da và luôn tìm cách nịch bợ bọn chỉ huy. Những người lính “tình nguyện” vào đội quân lê dương này đều được đưa ra khỏi trại tập trung và dự lớp huấn luyện cấp tốc để trở thành “người lính Đức”. Việc học tập tiến hành khẩn trương, căng thẳng rất sít sao và được thi hành nghiêm khắc. Cuối một ngày học tập, dài đằng đẵng như vậy mọi người đều mệt nhoài, mỏi nhừ, đau nhức từng khớp xương. Những ngày đầu Xê-ra-ta-nốp được liệt vào loại cốt cán của trại, anh luôn được bọn chỉ huy nêu gương. Anh ta rất cố gắng học tập, tỏ ra thành thạo những loại vũ khí Đức, bắn giỏi hơn những người khác, có sức dẻo dai trong các buổi tập hành quân và trong các buổi rèn luyện thể lực đều làm rất tốt. Về tất cả mọi phương diện, anh ta đều được bọn chỉ huy hài lòng và tỏ ra là một đối thủ của Mi-cla-sốp. Nhưng Mi-cla-sốp còn có ưu thế hơn anh ta ở chỗ, anh có người thân hiện đang phục vụ trong quân đội Đức, dĩ nhiên chức vụ và uy tín khá cao. Do đó bọn Đức, dĩ nhiên là tin anh hơn mọi người, kể cả Xê-ra-ta-nốp. Trong thời gian ở trại huấn luyện, anh đã nhận được hai lá thư của Dô-ne-béc Tô-bôn-xki, hay đúng hơn là của bà cô An-na A-lếc-xê-ép-na. Ông cậu rể chỉ viết thêm vài dòng ngắn ngủi cuối thư và chỉ cần vậy cũng đủ có sức nặng trước mặt bọn chỉ huy trại này.
Đầu tháng Năm khi nghe tin về cuộc tấn công của quân Nga ở Khác-cốp, Xê-ra-ta-nốp đã được bọn chỉ huy biểu dương về “tinh thần tích cực học tập”. Nhưng Mi-cla-sốp để ý thấy anh ta cố giấu nỗi vui sướng của mình và anh hiểu rằng, chàng trai này có một cái gì đó khác hơn là anh tưởng.
Năm ngày sau, nét vui sướng trong ánh mắt Xê-ra-ta-nốp bị tắt ngấm: trong các bản tin của quân Đức đầy rẫy những tin chiến thắng. Sau khi hoàn thành việc tổ chức lại tập đoàn quân số 6 và cụm tập đoàn quân “Clây-ít” đã bắt đầu mở các cuộc tấn công vào vùng Xla-vi-an-xcơ, Cra-ma-tốp và tiến vào hậu phương quân Nga đe dọa hoàn toàn chia cắt họ khỏi mặt trận chính. Và càng ngày tin chiến thắng của quân Đức càng vang dội hơn. Ngày 23 tháng Năm, tập đoàn quân số 6 và 57 của quân Nga, đặc biệt là lữ đoàn xung kích của tướng Bốp-kin đã bị chia cắt khỏi mặt trận và bị bao vây ở phía bắc Lô-dô-ca… Những ngày cuối tháng Năm lại dội đến những tin đau buồn: quân Nga hầu như không tồn tại nữa! Chiến thắng lớn lao! Bắt được hàng chục ngàn tù binh!... Trong số quân lính Nga bị chết phát hiện thấy xác của phó tư lệnh mặt trận Tây Nam-thiếu tướng Cô-chen-cô, thiếu tướng Gô-xô-ni-an-xki-tư lệnh tập đoàn quân số 6, thiếu tướng Bốp-kin-tư lệnh lữ đoàn xung kích và thiếu tướng Pốt-lát-tư lệnh tập đoàn quân số 57…
Ngày thứ ba, mồng 2 tháng Sáu, trại huấn luyện tổ chức lễ tuyên thệ. Một tên trung uý lạ mặt đọc lời thề trơn tuột không cần trọng âm gì cả. Những người lính lê dương đồng thanh nhắc lại:
-Chúng tôi xin thề luôn trung thành và quên mình phục vụ nước Đức vĩ đại, phục vụ lãnh tụ tối cao, tổng tư lệnh của quân đội tất cả các nước được giải phóng-A-đôn Hít-le…
Trong cái giọng đồng thanh đó vẫn nghe nổi bật lên giọng của Xê-ra-ta-nốp vang lên lanh lảnh cố át giọng của những người khác.
Rồi họ lần lượt bước lên ký tên dưới bài ghi lời thề. Sau đó là lễ duyệt binh, rồi liên hoan tiệc mặn và nhân dịp này mỗi người được một cốc vốt-ca Đức. Tối đến lại chiếu phim thời sự quân đội Đức. Những người lính Đức, đội ngũ chỉnh tề, ăn mặc bảnh bao, nét mặt đầy tự tin đang duyệt binh trên đường phố Pa-ri, gần tháp Ép-phen và đây nữa, chúng đang duyệt binh trên phố Pra-ha, rồi cảnh nói chuyện thân mật với những dân Tiệp ngay trên quảng trường Xta-rô-mét-xcôi, đang đi dạo chơi với những cô gái Ba Lan nõn nà xinh đẹp, đang cho đàn thiên nga ăn trong vườn bách thú Vác-xa-va… Xe tăng Đức đang đi trên đường phố Hi Lạp… và sau đấy là quân đội Đức trên đường phố… “Ki-ép được giải phóng". Cả gian phòng lặng hẳn đi. Thỉnh thoảng bật lên khe khẽ những tiếng thì thầm:
-Đại lộ Sép-tren-cô… Nhà cửa hầu như còn nguyên vẹn!
-Phố Crê-sa-tích…
-Tướng Bô-gô-đa-nốp Khô-men-ni-xki…
Buổi tối hôm ấy, sau khi xem phim và điểm danh xong, trong trại có cuộc ẩu đả. Một người trông có vẻ khẳng khiu và yếu hơn đang nắm lấy cổ áo một lính lê dương trông mập mạp hơn và thét vào mặt hắn ta:
-Con rắn độc, đi mà tố cáo đi! Mày cứ việc chạy lên tâu với chúng nó, tao là trung uý đấy và tên tao khai là tên giả đấy! Mày bắn tao đi. Bắn đi để đổi lấy một bao thuốc lá, con rắn độc!…
Chẳng ai can thiệp cả và Mi-cla-sốp hiểu rằng, những người lính lê dương đại đội hai này đều ủng hộ anh trung uý gầy gò kia.
-Thôi đi! Đủ rồi đấy! Từ cuối dãy nhà có tiếng ai đó quát lên nghiêm khắc và đám đánh nhau kia liền buông ra.
Vừa nuốt nước bọt vừa chùi máu trên mặt, anh chàng lính lê dương to lớn bị đánh kia vừ càu nhàu hăm doạ:
-Được rồi, sáng mai mày sẽ biết tay tao!-Anh ta bỏ vào nhà tắm.
Liền ngay lúc ấy có ba người nữa theo anh ta vào nhà tắm. Một lát sau họ trở lại, lặng lẽ về giường mình. Còn anh lính bí ẩn kia thì mãi không thấy quay vào.
Mi-cla-sốp đâm nghi: hắn đã chạy trốn, hay đã đi báo cáo thật rồi.
 
Sáng sớm hôm sau cả trại được tin có người bị treo cổ ngoài hàng rào. Trong chốc lát mọi người đều nhận ra nạn nhân chính là gã lê dương đã hăm doạ tố cáo trung uý. Mãi lúc này, Mi-cla-sốp mới hiểu rõ-tại sao ba người kia đi theo hắn và lặng lẽ trở về. Khá lắm… Thật là tuyệt. Họ làm ăn lẹ quá.
Một tuần sau, khi đã nhận được súng đạn đầy đủ, lại một tin nữa: Toàn đại đội hai đã bỏ chạy vào rừng khi được lệnh đi tiêu diệt du kích…
Những đại đội còn lại lâm vào tình trạng khó khăn, phức tạp và liền bị đưa ra khỏi rừng, bỏ lai cả bọn bị thương và bọn bị giết. Mi-cla-sốp được giao cho việc chở tên tiểu đoàn trưởng, đại uý Béc-ke bị thương nhẹ ở tay. Anh được sử dụng chiếc mô-tô ba bánh.
Sau “trận đầu đó, đại uý Béc-ke điều hẳn Mi-cla-sốp lên ban tham mưu tiểu đoàn làm lính lái xe mô-tô cho gã. Anh được giao khẩu súng lục và chiếc mô-tô BMW. Tuy đã cũ và loang lổ vết đạn nhưng chiếc xe vẫn còn chạy tốt.
Mi-cla-sốp thường đưa đại uý Béc-ke đi khắp nơi nên mối quan hệ giữa hai người ngày càng thân mật. Một hôm nhân lúc vui miệng Béc-ke liền nhận xét với Mi-cla-sốp về Xê-ra-ta-nốp là dạo này chây lười, hay rượu chè bê tha chứ không còn tinh thần hăng hái như dạo ở trại huấn luyện nữa. Mi-cla-sốp lựa lời thanh minh cho bạn và trong thâm tâm anh hiểu rằng, Xê-ra-ta-nốp buồn và tiếc vì không chạy cùng đại đội hai vào khu du kích được. Và từ đấy, Mi-cla-sốp tìm cách giúp đỡ Xê-ra-ta-nốp.
Chẳng bao lâu gặp dịp may hiếm có. Tên đại uý Béc-ke giao cho anh chuyển báo cáo lên ban tham mưu trung đoàn.
-Đường qua rừng nguy hiểm đấy, ngài đại uý ạ,-Mi-cla-sốp nói.
-Tôi hiểu,-Béc-ke gật đầu và vẩy ngón tay gọi Xê-ra-ta-nốp lại, ra lệnh,-Mày đi theo hộ tống cho nó.
-Xin tuân lệnh, thưa đại uý!
Khoảng nửa giờ sau họ đã thong dong trên đường, qua bao vọng gác. Đi một lúc lâu, Mi-cla-sốp bỗng rẽ ngoặt vào con đường đất xuyên qua khu rừng dày rậm, đi tiếp chừng năm kilômét nữa, anh dừng xe lại:
-Xuống xe đi!-Anh bình tĩnh nói.
-Sao?-Xê-ra-ta-nốp ngạc nhiên, không tin vào tai mình nữa.
-Xuống xe, chạy nhanh vào rừng đi, trong lúc có hoàn cảnh thuận lợi. Sau này khó có dịp may đấy anh bạn ạ.-Mi-cla-sốp nói-đã có lệnh của ban tham mưu điều tiểu đoàn này sang Đức đấy.
-Còn anh?... Anh cũng chạy chứ?-Xê-ra-ta-nốp hỏi lại vẻ mặt đây hy vọng và vẫn chưa thật tin ở Mi-cla-sốp.
-Tôi ở lại. Tôi không thể đi được. Anh hãy nghe tôi nói đây…
-Anh ở lại để rồi khi tôi chạy sẽ cho một phát đạn vào lưng tôi chứ gì.
-Im đi, đừng nói nhảm!-Mi-cla-sốp nổi cáu và cầm lấy cổ áo Xê-ra-ta-nốp,-Giả thử nếu anh không chạy đi thì tôi sẽ bắn thật vì… Anh hiểu không?
-Chả hiểu gì cả…
-Hãy nghe tôi dặn đây. Tôi sẽ cho cậu mật khẩu.-Mi-cla-sốp hạ giọng tựa như sợ có ai nghe thấy.-Hãy chạy sâu vào rừng, tìm đến khu du kích và xin gặp ngay người chỉ huy và nói với ông ta tìm cách điện ngay cho Mát-xcơ-va câu này: “Em thân yêu, anh vẫn khoẻ”-Nhắc lại đi!
-“Em thân yêu, anh vẫn khoẻ”,-Xê-ra-ta-nốp nhắc lại nhưng vẫn có vẻ chưa tin lắm vào sức nặng của cái câu vô nghĩa này:-Chỉ có thế thôi?
-Đối với cậu như vậy là đủ rồi. Đây là mật khẩu, đồng thời cũng là hộ chiếu để họ tin cậu đấy. Nhưng có một điều quan tọng là chớ nói nhầm đấy, nghe chưa?-Rồi anh hạ lệnh:-Đi đi, tôi chờ cậu mười lăm phút và sau đó tôi sẽ bắn theo như bắn vào quân du kích ấy, còn tôi sẽ quay lại đơn vị.
-Tôi mang súng đi được chứ?
-Mang đi mà dùng, nhanh lên.
-Thế mà chúng tôi không hiểu cậu đấy… Té ra cậu không phải như họ tưởng… Cậu có biết không, các cậu ở đại đội hai trước khi rút vào rừng định khử cậu đấy. Thế nhưng không có dịp thuận lợi… Té ra cậu lại là…
Anh vung khẩu súng lên và chạy biến vào những bụi cây rậm bên đường. Một lát sau anh hiện ra trên ngọn đồi và hoa hoa súng:
“Em thân yêu, anh vẫn khoẻ”.
Chờ đúng mười lăm phút, Mi-cla-sốp rút bắn liền mấy phát vào thành xe, bắn vào đèn rồi lên xe quay về…
Nghe Mi-cla-sốp báo cáo về cuộc phục kích của toán du kích và cái chết của Xê-ra-ta-nốp, đại uý Béc-ke khẽ hỏi:
-Sao anh lại giết nó?
-Không phải là tôi, thưa ngài đại uý, bọn du kích đấy…
Viên đại uý biết nhìn xa trông rộng này hiểu rằng kết bạn với tên lính Nga có người thân làm trong cơ quan cao cấp của đế chế là việc rất cần thiết và có lợi cho con đường công danh, do đó gã đã làm ngơ trước vụ này.
-Tôi không cần biết ai giết nó. Cứ cho là du kích đi. Mấy lâu nay tôi cũng không khoái nó lắm.
Và hắn ghi vào sổ nhật ký tiểu đoàn về hành động anh hùng của anh lính lái xe mô-tô đã hết lòng cứu được bản báo cáo mật khỏi rơi vào tay du kích.
-Thôi, bây giờ thì chúng ta đi uống rượu mừng cho quân đội của quốc trưởng đã chiếm được Xê-vát-xtô-pôn.
Thật đau xót nhưng vẫn phải cố cười để biểu lộ niềm vui, Mi-cla-sốp cố kìm mình lại, cố mỉm cười và lắp bắp mấy lời chúc mừng chiến thắng. Anh uống một ngụm rượu vốt-ca tự nấu, rượu nồng nhưng lòng cảm thấy đau nhói. Chả lẽ Xê-vát-xtô-pôn mất thật rồi hay sao? Anh không muốn tin vào điều này. Anh còn nhớ rõ những ngày ở Lê-nin-grát khi bảo vệ con đường băng trên hồ La-đô-ga, con đường của cuộc sống, trong những phút nghỉ ngơi ngắn ngủi, họ thường nhắc đến những chiến công anh hùng của Xê-vát-xtô-pôn, của những người bảo vệ thành phố cảng này và coi họ như những người anh em thân thiết trên tuyến phòng thủ phía nam Tổ quốc. Người ta thường nói rằng Lê-nin-grát là tuyến phòng ngự, là pháo đài phía Bắc, là tuyến cánh phải của toàn bộ mặt trận rộng lớn, còn Xê-vát-xtô-pôn là pháo đài bảo vệ phía Nam…
-Nào, hãy uống một cốc nữa,-mắt Béc-ke lại long lên vẻ vui mừng Ma-ri-na rợ,-Mừng chiến thắng ở Vô-rô-ne-giơ-một thành phố lớn của người Nga đã lọt vào tay quân ta… Tôi vừa mới nghe đài truyền thanh báo tin:
Từ chiếc loa truyền thanh đen ngòm mắc trong nhà ăn vang lên nhịp điệu hành khúc chối tai.
Sau đấy lại lanh lảnh tiếng nữ phát thanh viên thông báo bản tin cuối cùng, mà vừa mới nghe, Mi-cla-sốp đã ớn lạnh cả sống lưng:
“Quân đoàn cánh phải của tập đoàn số sáu quang vinh quân đôi Đức chúng ta đã hội quân với các đơn vị của quân đội Hung-ga-ri và đang thắt chặt vòng vây đối với mười sư đoàn quân Nga. Các đơn vị đi đầu của quân đoàn xe tăng hùng mạnh của chúng ta đã tiến đến tiền duyên ngoại ô thành phố Vô-rô-ne-giơ… Trên biển Ba-ren, không quân anh dũng và các tàu ngầm của chúng ta đã đồng loạt tấn công đoàn tàu chở dầu gần đảo “Con gấu”. Ba tàu vận tải Nga đã bị đánh chìm, chiếc tàu lớn nhất mang tên “A-déc-bai-gian” chở đầy dầu xăng bị bốc cháy. Đoàn tàu yểm hộ của hải quân Anh đã không chịu được các đợt tấn công, bị thiệt hại nặng và tháo chạy tán loạn, bỏ cả các tàu vận tải của đồng mình Nga…”.
-Mùa hè đó là mùa chiến thắng của chúng ta!-Béc-ke cao giọng: chiến tranh sắp kết thúc rồi. Chỉ cần vài quả đấm mạnh nữa là cái nước Xô-viết của anh sẽ bị nốc ao!... Mùa hè năm nay sẽ mãi mãi đi vào lịch sử!...
-Vâng, thưa ngài đại uý, mùa hè nóng bỏng năm nay đang đến với chúng ta…
Vài ngày sau, tiểu đoàn lê dương này được điều sang Đức.
 
3.
Những đường hầm dài và những dãy núi hiểm trở vùng Các-pát, làng mạc trù phú với những khu vườn quả xanh tươi đã lùi dần về phía sau. Họ đi qua đất Ba Lan và tiến vào đất Đức. Khắp nơi đều toàn nhà ngói. Cả làng quê cũng đầy nhà ngói. Những nhà thờ mái nhọn hoắt tựa như muốn vươn thẳng vào bầu trời với những khung cửa sổ thẳng dài, thanh mảnh. Đường đều lát nhựa hoặc rải đá. Hai bên đường mọc đầy cây ăn quả. Xung quanh sạch sẽ, hàng rào nhà nào cũng quét sơn sặc sỡ đủ màu sắc.
Những người lính Nga chen nhau quanh cửa sổ, hít thuốc lá liên hồi, ngẩn ngơ nhìn vùng quê nước Đức thù địch và xa lạ. Mi-cla-sốp cũng trầm ngâm ngắm những cánh đồng bằng phẳng lùi nhanh phía sau, những khu làng trù phú giống như một thị trấn nhỏ bên Nga, những đàn bò béo mập, no căng, nhìn vườn cây, đường sá và trong óc anh bỗng nẩy ra ý nghĩ mơ hồ, rồi sẽ có ngày nào đó, cuộc chiến tranh khốc liệt sẽ lan đến đây, đến cái đất nước no đủ và có vẻ bàng quan với thời cuộc này. Và anh lại nghĩ: “Làm sao mà đến được đây, khi không giữ nổi Vô-rô-ne-giơ, không giữ nổi sông Đông va quân Đức vẫn chưa chịu dừng lại…”.
Còn đoàn tàu thì vẫn lạnh lùng băng về phía tây. Có tin đồn là bọn họ sẽ tới tận Béc-lin. Tiểu đoàn trưởng không nói gì và bọn chỉ huy đại đội cũng im lặng.
Họ đến Béc-lin vào quá nửa đêm khi thành phố đã im lìm. Qua giấc ngủ chập chờn trên toa, Mi-cla-sốp lờ mờ cảm thấy đoàn tàu dừng lại khá lâu ở một nhà ga và hình như toa của họ bị cắt riêng ra khỏi đoàn tàu và chiếc đầu máy ì ạch kéo nó sang một nhánh đường khác. Anh chập chờn nghe những mệnh lệnh bằng tiếng Đức và qua những tiếng động ồn ào thường thấy ở nhà ga hình như toa họ được nối vào đoàn tàu chở khách…
Sáng hôm sau khi tỉnh dậy họ mới rõ là Béc-lin đã lùi về phía sau và mỗi người đều thất vọng chán ngán: quỷ tha ma bắt chúng nó đi! Họ đã ngủ quên!...
Không ai trong họ được biết rằng, theo mệnh lệnh của bộ chỉ huy, bọn nhân viên đường sắt đã cố tình bố trí để đoàn tàu tới Béc-lin vào lúc đêm khuya và không dừng lại ở đây.
Té ra, họ vẫn không được nước Đức tin cậy, mặc dù đã bao lần tuyên thệ “trung thành với quốc trưởng”.
Đoàn tàu tiếp tục đi về phía tây.
 
4.
Tiểu đoàn lê đương Nga được điều tới Bu-lông-một thành phố trên bờ biển nước Pháp, gần giống như thị trấn nhỏ cùng tên ở ngoại ô Pa-ri, Bu-lông Xu-mê-ri. Thành phố này ở phía Bắc nước Pháp, gần biên giới nước Bỉ, trên bờ biển Măng-sơ.
Ban tham mưu tiểu đoàn đóng ở trung thâm thành phố, còn ba đại đội lê dương đóng trong trường nữ sinh trung học, một toà nhà một tầng, lợp ngói đỏ sát ngay khu làng nằm giữa đường vào thành phố. Trong làng có một nhà thờ mái nhọn, hàng tuần đều có lễ cầu nguyện và gần đấy còn có một rạp chiếu bóng.
Tiểu đoàn được điều đến đây làm quân đồn trú thay cho đơn vị lính Đức cũng vừa được xua lên tàu để trở về Đức trước đây vài hôm. Không còn nghi ngờ gì nữa, ban chỉ huy đã quyết định điều các đơn vị lính Đức đóng ở đây về Đức để làm lực lượng dự bị, sẵn sàng tung sang nước Nga xa xôi, tung vào lò lửa của cuộc chiến tranh nóng bỏng. Ở đây, nhìn vẻ bề ngoài thì chúng đang chủ động mở các cuộc tấn công nhưng không phải không bị thiệt hại. Nếu không thì chúng đã chẳng phải điều những đơn vị mạnh trên bờ biển quan trọng này, nơi tiếp giáp với nước Anh, như người ta thường nói, chỉ một với tay là đến nơi.
Những ngày đầu tiên ngỡ ngàng, với những cảm giác mới lạ, với những cuộc thăm dò, tìm hiểu xung quanh. Trông họ không ai có thể nghĩ rằng, số phận lại đưa họ tới một nơi xa xôi như vậy. Những người Nga luôn ngạc nhiên nhìn ra xung quanh mình. Ở đây chẳng có gì là không khí chiến tranh cả. Có thể đối với người Pháp cũng có cái nặng nề riêng của họ nhưng với những người Nga này, những con người đã trải qua ngọn lửa chiến tranh tàn khốc, đã từng trông thấy cảnh làng mạc bị thiêu trụi, những thành phố bị phá huỷ, những chết chóc và đau thương, những mất mát và chia ly thì cảnh vật ở đây quả là quá thanh bình đến kinh ngạc. Cuộc sống ở đây no đủ và lạc quan.
Hai tuần sau trong đơn vị xảy ra chuyện bất ngờ: ba người lính Nga đã mang súng trốn khỏi trại.
Sau năm ngày truy lùng mới bắt được họ ở gần thành phố Li-li-a. Họ bị nhốt trên một đoàn tàu chở hàng đưa về đơn vị. Một ngày sau, lúc tau đang chạy vào đường hầm, một người đã nhảy ra và trốn thoát. Người thứ hai bị bắn chết. Còn người thứ ba định tự sát nhưng không kịp, anh đã bị chúng chặn lại. Anh bị thương.
Chúng cũng chạy chữa cho anh nhưng khi vừa đi được chúng liền xử bắn ngay trước toàn tiểu đoàn. Trước lúc chết anh còn kịp hô lên:
-Anh em ơi, hãy chạy theo du kích đi! Nhân dân ở đây, những người Pháp có thể…
Một loạt súng vang lên, cắt ngang lời anh. Những người lính Nga không kịp iểu và nghe anh nói gì về những người Pháp.
Tên người bị bắn là Lô-pu-khốp. Anh là ai, ở đâu-Mi-cla-sốp không thể biết được. Ngay hôm ấy không một ai được ra khỏi trại. Họ bị dồn vào việc học tập, huấn luyện. Ít lâu sau bọn chỉ huy quyết định mỗi đơn vị, phải ra một tờ báo tường mang tên là “Người tình nguyện”. Ở ngay cột đầu tờ báo đều phải dán bức ảnh một thiếu tướng Nga, hai tay đặt trên đầu gối, ngồi cạnh viên trung tướng Đức Lin-đéc-man, chỉ huy cụm tập đoàn quân “Phương Bắc”. Trong mẩu tin thông báo ngắn viết rõ: “Trong một trận càn quét tại vùng Vôn-khốp, quân Đức đã phát hiện được hầm chỉ huy của tướng Vla-xốp, tư lệnh quân đoàn xung kích số hai. Thiếu tướng Vla-xốp đã thú nhận ngay là từ lâu ông có ý nguyện chạy sang hàng quân đội Đức vĩ đại”.
Dưới bức ảnh là dòng chữ chú thích, tư lệnh cụm tập đoàn quân “Phương Bắc”, trung tướng Lin-đéc-man đang nồng nhiệt nói chuyện với cựu phó tư lệnh mặt trận Vôn-khốp, cựu tư lệnh quân đoàn xung kích 2, cựu thiếu tướng quân đội Liên Xô Vla-xốp là người đã hoàn toàn tự nguyện chạy sang hàng ngũ nước Đức vĩ đại… (Đây là sự kiện có thật. Tướng Vla-xốp đã phản bội, đầu hàng sau khi bị một tên tù binh Nga khai ra).
Mi-cla-sốp chăm chú nhìn bức ảnh viên thiếu tướng tù binh, nhưng ý nghĩ của anh lại hướng về Lê-nin-grát đang bị bao vây cách xa vùng Bu-lông này hàng ngàn kilômét. Anh nhớ lại hoàn cảnh thành phố lúc ấy đang hết sức hi vọng vào các hoạt động quân sự của mặt trận Vôn-khốp, đơn vị được giao nhiệm vụ mở những cuộc tấn công vào quân Đức nhằm giải vây cho thành phố.
Từ những ngày đầu tháng giêng anh đã sung sướng đọc bản tin quân sự thông báo rằng, các đơn vị của quân đoàn 2 xung kích mặt trận Vôn-khốp đã chiếm được bàn đạp bờ tây sông Vôn-khốp đánh tan các đơn vị phòng thủ của quân Đức và đang tiến sâu về phía Lê-nin-grát. Và sau đó là các đơn vị bảo vệ Lê-nin-grát đánh thốc ra để đón các đơn vị mặt trận Vôn-khốp, Mi-cla-sốp hi vọng rằng chỉ ít lâu nữa vòng vây sẽ bị chặt đứt. Nhưng sự việc lại không diễn ra như vậy. Cuộc tấn công đã bị chững lại…
 
5.
Từ những ngày đầu quen biết với Ga-li-a Min-ga-se-va, Cun-ga cố giữ mình để khỏi làm điều gì sơ suất gây ra sự hiểu lầm. Tuy nhiên Ga-li-a vẫn luôn luôn cảm thấy trái tim rộn lên và sau lưng như nóng hơn bởi những cái nhìn theo đắm đuối của anh chàng lính tăng người Nga này đối với mình. Cô cảm thấy vui vui nhưng cũng băn khoăn. Giữa họ vẫn là tình bạn thân thiết và tình đồng chí chân thành. Đối với họ, nhiều khi chỉ một ánh mắt nhìn nhau thầm lặng, một nụ cười là cũng đủ mang lại niềm vui cho cuộc sống rồi.
Mùa xuân mong đợi từ lâu, cuối cùng đã trở lại với thành phố. Một hôm, khi chạy ra hiệu mua bánh mì, cô bỗng thoáng nghe hai cô lính thợ máy đứng trước đang bàn luận với nhau về mình:
-Anh ta còn kén chọn gì nữa, chả lẽ không có óc hay sao mà còn chê cô gái ba-sơ-kia ấy-cô dứng tuổi hơn nói.-Cân đối, khoẻ mạnh, thân hình chắc nịch và nhất là đôi mắt đen láy ấy thì khối anh phải đổ.
-Anh ta cũng còn phải suy nghĩ tý chút chứ,-cô bộ đội, thợ rèn trẻ hơn khẳng định.-Lính xe tăng họ chẳng thộn đâu. Họ như người đi hội chợ ấy chứ, còn phải ngắm xem, phải chọn hàng tốt và đẹp thì mới mua chứ.
Min-ga-se-va quay mặt vào tường để cho hai người kia không nhìn thấy mình. Cô cố mua cho nhanh và quay ra ngay.
Hai ngày liền cô cứ loay hoay với những ý nghĩ đó, ngực cứ như nghẹn thở, cố bứt hình ảnh anh chàng đại diện đơn vị xe tăng kia ra khỏi đầu mình, nhưng thật khó vì hình ảnh và tình cảm đối với anh ta như chùm rễ đã bám sâu vào tâm hồn cô. Mấy ngày đó Ga-li-a ít nói hơn, cô tránh ánh mắt của Cun-ga. Còn anh thì vẫn phải làm việc cạnh cô, chẳng hiểu gì về thái độ của cô và cố tìm hiểu xem vì sao Ga-li-a lại có vẻ khó hiểu như vậy.
Ga-li-a càng ít nói thì Cun-ga càng trầm ngâm chỉ còn biết im lặng hùng hục bên những chiếc tăng gầm vang trong khu sân chật hẹp đưa ra bãi đỗ.
Còn Ga-li-a thì cảm thấy vui tận đáy lòng vì cô thừa biết, cái thái độ “giận dỗi kia chính là dành cho cô, và nó còn sâu sắc hơn bất cứ lời tỏ tình nào…”. Và cô cứ im lặng tận hưởng nó.
Một hôm sau giờ làm việc Ga-li-a còn cố nấn ná ở lại, về sau mọi người, hi vọng là Cun-ga đã về trước rồi. Nhưng ra đến cổng nhà máy cô thấy anh đang đứng chờ ở bến tàu điện.Thấy cô đến, anh vội bước lại gần.
-Tôi tiễn cô được chứ? Nếu cô cho phép…
Cô nhìn anh một cách khô khan và hơi có vẻ gay gắt. Cô im lặng bước vội lên tàu điện vừa đỗ và yên trí anh cũng sẽ lên theo cô.
Họ đi suốt mấy chặng đỗ mà chẳng ai nói gì cả. Ga-li-a vẫn không thấy ánh mắt của Cun-ga đang nhìn mình, thậm chí còn cảm thấy cả hơi thở hồi hộp của anh nữa. Bỗng nhiên cô muốn nghe anh nói, nhưng anh vẫn im lặng. Tuy vậy Ga-li-a biết rằng, nếu anh nói gì thì có lẽ cô sẽ đáp lại bằng một thái độ gay gắt. Cô nhìn qua cửa sổ và cứ cắn chặt môi dưới.
Đoàn tàu điện nặng nề và ầm ĩ khua bánh trên đường phố ban đêm, chốc chốc lại dừng ở các bến. Người lên người xuống, vội vã, ồn ào và dĩ nhiên, chẳng ai chú ý gì đến hai người khách đang im lặng đứng cạnh cửa sổ kia. Nói đúng hơn vẫn có những cô gái chú ý tới Cun-ga. Anh đứng im lặng như vậy, tay nắm chặt lan can cửa sổ, lòng xốn xang cảm giác tựa như trước lúc lên vũ đài trong một cuộc đọ sức quan trọng.
 
Chương mười ba

1.
Thành phố Bu-lông Xu-mê-rơ chạy thành một hình vòngc ung dọc theo bờ biển vịnh La Măng-sơ. Thành phố xanh rờn và xinh xắn, đường sá sạch bóng với những cơn mưa rào bất chợt. Trời đang quang đãng, bỗng một đám mây lướt qua, che khuất mặt trời và kéo theo đấy là những cơn mữa xối xả. Chỉ mấy chục phút sau mưa lại tạnh, mây tan, bầu trời lại chói chang ánh nắng.
Thành phố Bu-lông có hai bến cảng, hay nói một cách chính xác hơn là một bến dài, chia làm hai phần cảng tàu khách và cảng tàu hàng. Từng dãy tàu thuỷ đõ san sát, bốc xuống đây hàng hoá từ khắp nơi trên thế giới chuyển về. Ở cuối cảng còn bến cho tàu đánh cá đỗ. Các tàu này cung cấp cá cho thành phố và các vùng lân cận nhưng chủ yếu là dành cho nhà máy cá hộp.
Mi-cla-sốp đã sống trọn một tháng ở Bu-lông và trong thời gian đó, anh đã tranh thủ dạo chơi khắp các đường phố và quảng trường. Anh thích nhất nhà thờ lớn của thành phố, nó được coi như là thắng cảnh chính.
Nhà thờ Bu-lông xây bằng đá, vươn cao sừng sững với những hàng cửa sổ hẹp, dài lắp kính màu. Trong nhà thờ tối mò mò như nhà hát lúc biểu diễn, với những dãy ghế dài im lặng bên nhau, trên bệ thờ luôn luôn có mấy ngọn đèn điện nhỏ xếp thành hình cây nến. Chủ nhật hàng tuần người dân Bu-lông cùng cả gia đình kéo nhau đến đây làm lễ cầu nguyện. Những ngày này thì các rèm cửa đều kéo lên, các cửa lớn mở rộng, các đèn đều thắp sáng và quang cảnh nhà thờ trông vừa trang nghiêm vừa tưng bừng như ngày hội.
Tiểu đoàn lê dương của Mi-cla-sốp không phải là đơn vị duy nhất được điều về phía Bắc nước Pháp. Ở các thành phố và vùng ven biển khác đều có các tiểu đoàn hoặc đại đội độc lập làm nhiệm vụ bảo vệ. Ban tham mưu đóng ở khách sạn “Com-pa-nhi-u đờ Ma-di” tại Min-lê. Viên tướng tư lệnh Hây-ghen-đốp chiếm cả một tầng cùng với viên phó tư lệnh là đại tá Bôm.
Mi-cla-sốp chỉ được trông thấy viên tướng cao ngồng đó từ xa. Còn đại tá Bôm thì đã hai lần đến Bu-lông. Thân hình tầm thước, trán cao, cử chỉ nhanh nhẹn, nói tiếng Nga khá thạo. Mặt luôn cau có như không hài lòng và rất khó gần. Mỗi lần nghe tin đại tá Bôm đến tiểu đoàn thì từ chỉ huy đến lính đều lo lắng và sẵn sàng để nghe mắng chửi.
Mi-cla-sốp được biết gã đại uý Béc-ke có chút họ hàng xa với đại tá Bôm. Vẻ bên ngoài thì Béc-ke giống đại tá như tạc. Cũng trán cao, mắt lươn ti hí trên khuôn mặt trắng tái. Chỉ có điều là môi Béc-ke mỏng, cằm ngắn hơn, chân đi vòng kiềng.
Ngày chủ nhật 23 tháng Tám là một ngày vui đặc biệt của đơn vị này. Thiên nhiên hoà vui với nó bằng bầu trời trong xanh, nắng vàng rực rỡ. Lần đầu tiên, toàn đơn vị được “phát lương”: mỗi người được hai trăm hai mươi phờ-răng. Số tiền không lớn nhưng dầu sao thì các chàng lính Nga cũng có tí tiền xủng xẻng trong túi và có cớ để ra vào quán nhấm nháp tách trà, cà-phê hoặc ly nước ngọt. Do vậy nên ngay từ thứ bảy họ đã dự định chương trình cho ngày chủ nhật. Mi-cla-sốp định cùng mấy bạn thân ra hiệu cà-phê, nơi không những chỉ có giải khát mà còn có cả một trận đấu quyền Anh chuyên ghiệp nữa.
Nhưng sau buổi ăn trưa, Mi-cla-sốp được gọi lên văn phòng tiểu đoàn.
-Anh có thư!
Lại của An-na A-lếc-xê-ép-na, còn Dô-ne-béc Tô-bôn-xki vẫn như mọi lần, chỉ viết ghé vài dòng vào tấm danh thiếp in hai mặt bằng tiếng Nga và tiếng Đức. Cầm tấm danh thiếp trong tay, mắt Béc-ke sáng lên, miệng suýt xoa:
-Anh có mối liên hệ vững vàng quá đấy. Anh Mi-cla-sốp ạ. Có thể nói, tương lai của anh là ở đây đấy.
Trên hai mặt tấm danh thiếp nổi bật những hàng chữ: “Phôn Dô-ne-béc Tô-bôn-xki, nghệ sĩ “nhân dân" nhà hát Nga, giáo sư”. Mi-cla-sốp nhận xét ngay là ông cậu rể của mình đã không bỏ lỡ dịp, gán cho mình cái họ quý tộc Đức “Phông” và những danh hiệu mà ở bên Nga gã chưa hề được phong: “nghệ sĩ nhân dân" và học vị “giáo sư”.
-Chiều nay chúng ta sẽ đến hiệu cà-phê. Ở đấy có đấu quyền Anh chuyên nghiệp,-đại uý Béc-ke nói.-Hôm nay tôi mời anh đấy.
-Xin cảm ơn ngài đại uý!
Hai hôm trước, khi thấy tấm áp-phích quảng cáo về trận đấu này, Mi-cla-sốp quyết định sẽ cố tới đấy xem và tìm cách làm quen với các võ sĩ Pháp. Anh đặt nhiều hi vọng vào cuộc làm quen này. Anh nhớ lại lời dặn của đại tá I-lin-cốp khi còn ở Mát-xcơ-va: “Cái chính đối với anh bây giờ là tìm hiểu và làm quen với khí hậu. Lúc nào cần thiết thì người của chúng ta sẽ tới gặp và giao nhiệm vụ cho anh”. Ông còn nói tiếp: Nhưng anh cũng đừng lãng phí thời gian, phải tìm cách cho thiên hạ biết mình là ai. Bằng cách nào? Anh là một võ sĩ quyền Anh. Phải làm cách nào đó để tên tuổi xuất hiện trên báo chí dù chỉ là một dòng ngắn ngủi. Nghĩa là anh phải tìm cách lên vũ đài ở đâu đó. Cũng có thể cứ phô cái danh hiệu nguyên vô địch quyền Anh Lê-nin-grát và kiện tướng thể thao ra. Như vậy thì chúng tôi sẽ nhanh chóng biết được anh đang ở đâu và sẽ bắt liên lạc chóng hơn”.
Nhưng quả thật phải đi xem với tên chỉ huy trực tiếp của mình thì Mi-cla-sốp chẳng thích tý nào. Anh sẽ như người bị trói tay. Nhưng anh không có quyền từ chối. Chiều đến, đúng giờ hẹn, Mi-cla-sốp đánh xe chờ trước cửa khách sạn. Ở đây đã có viên trung uý Cli-úc, cao lồng ngồng và thượng sĩ Lô-ren luôn cau có.
Một lát sau tên đại uý đi ra.
-Ta đi bộ thôi,-Béc-ke nói.-Có thể để xe lại đây được.
 
2.
Trong phòng đã hết chỗ, nhưng người ta cũng đã kịp dành cho các sĩ quan Đức một chiếc bàn kê gần sát sân khấu. Người hầu bàn, miệng nở nụ cười nịnh bợ, nhanh chóng trải khăn bàn. Những chai cô-nhắc, vang và nước quả được bày lên bàn. Các nút chai đều bằng sứ trắng, chứng tỏ đây là loại rượu ngon nhất.
-Đây là những tay võ sĩ khá, nghe nói loại nổi tiếng từ trước chiến tranh,-người hầu bàn vừa giới thiệu bằng tiếng Đức, vừa thành thạo mở các nút chai.-Một người tên là A-léc Bu-tanh để ria kiểu Pa-ri, đã được giải thưởng lớn… Người thứ hai tên là Ê-min Lơ-pho thủy thủ ở Ga-vrô, vô địch hạm đội. Anh ta có cú đấm tay phải khá mạnh, thưa các ông, rồi các ông sẽ thấy.
Mi-cla-sốp sốt ruột chờ đợi trận đấu bắt đầu. Anh chưa được xem các võ sĩ chuyên nghiệp đấu, nhưng cũng đã nghe kể và đọc qua báo chí về những trận đấu căng thẳng của họ. Anh cho rằng võ sĩ chuyên ghiệp là những người điêu luyện, là những người phải hết sức dũng cảm và có sức khoẻ tuyệt vời. Anh hiểu rõ thế nào là một trận đấu “sống mái” của loại võ sĩ nhà nghề. Đây là những trận đấu không dễ dàng gì. Hồi học ở trường thể thao, anh đã được nghiên cứu và biết rõ sự căng thẳng của một trận đấu bình thường đòi hỏi sức chịu đựng như thế nào. Sinh lực bỏ ra trong một trận đấu như vậy ngang với một người lái máy đào đất trong suốt tám giờ làm việc. Một trận đấu của võ sĩ nghiệp dư chỉ có ba hiệp chín phút. Còn các võ sĩ nhà nghề thì đấu không phải ba, mà là mười lăm hiệp, mỗi hiệp ba phút. Mười lăm hiệp. Tức là sức lao động bỏ ra gần năm lần so với võ sĩ nghiệp dư. Song vấn đề không phải chỉ đơn giản thế.
-Hình như Mi-cla-sốp của chúng ta cũng là võ sĩ quyền Anh. Có đúng không hay chỉ là tiếng đồn thôi?-thượng sĩ hỏi và hớp một ngụm rượu vang.
-Nếu như lời khai trong hồ sơ cá nhân của anh ta đúng và có thể tin cậy được thì năm ngoái đã là vô địch Lê-nin-grát đấy, viên trung uý Cli-úc đáp.
-Các hồ sơ đều trung thực, có thể tin được.
-Tôi không hiểu danh hiệu vô địch bên kia theo điều kiện nào, nhưng trông bề ngoài thì hắn là một đứa khá khoẻ mạnh đấy. Và dũng cảm trong chiến đấu nữa cơ. Anh còn nhớ trận chiến đấu với bọn du kích ở Xmô-len-xcơ hắn đã chiến đấu như thế nào chứ? Đại uý Béc-ke lên tiếng. Chính nhờ lòng dũng cảm của hắn mà giờ đây tôi còn được ngồi với các ông đấy.
-I-go ngồi im lặng, lắng nghe bọn Đức đang nói về mình và làm ra vẻ như không chú ý đến câu chuyện của họ. Anh vẫn chăm chú nhìn lên sân khấu. Ba hàng dây chão lớn đã được quây lại thành hình vuông tạo nên một vũ đài tạm thời, tất nhiên là hẹp hơn vũ đài thường. Chiều ngang không quá năm mét, còn chiều rộng không quá bốn mét. Nền được trải một tấm bạt lớn, và tất nhiên không đủ độ nhún cần thiết. Đấu trên một vũ đài như vậy là rất nguy hiểm…
… Đang mải mê suy nghĩ bỗng trong phòng vang lên tiếng vỗ tay và tiếng hô chào mừng. Trọng tài bước lên vũ đài. Thân hình cao, chắc nịch, đầu hói. Áo sơ-mi trắng nổi bật chiếc nơ con bướm. Ông ta bước đến mép vũ đài và giơ tay kiểu cách, cất giọng ồm ồm giới thiệu:
-Cuộc thi đấu chính thức sắp bắt đầu. Tôi đề nghị quý vị hãy hoan nghênh võ sĩ Ê-min Lơ-pho!
Ê-min Lơ-pho bước lên vũ đài cùng với người săn sóc, mình khoác chiếc áo choàng ngoài bằng vải sọc, hơi ngắn và chật so với thân hình nở nang của anh ta. Trông mặt chỉ khoảng hai lăm, hai tám tuổi. Người vừa phải, hai tay dài, dáng điệu lừ đừ, trầm lặng, thể hiện một con người có kinh nghiệm và dày dạn với những trận thi đấu nhà nghề. Anh ta đi có vẻ lệch bên vai trái.
-Nào, các anh cuộc ai sẽ thắng?-Béc-ke hỏi.
-Cậu này thuộc hạng trung đây-Mi-cla-sốp nói theo dòng suy nghĩ của mình chứ không trả lời câu hỏi của viên đại uý.
Mi-cla-sốp có vẻ khoái sự phỏng đoán của mọi người khi nghe trọng tài giới thiệu tiếp về Lơ-pho:
-Võ sĩ nặng sáu mươi tám ki-lô-gram, thưa quý ngài: Ê-min đã thi đấu tám mươi hai trận, trong đó bảy mươi lăm trận thắng!
Khi trọng tài vừa giới thiệu xong A-léc Bu-tanh lên vũ đài cùng với hai người săn sóc. Bu-tanh trông đứng tuổi nhưng cử chỉ lanh lẹn hơn. Tóc đen, để ria mép rất cân đối với khuôn mặt tròn đầy vết sẹo và sạm nắng gió; chứng tỏ anh đã trải qua nhiều trận đấu gay go. Mũi như bị méo, tai rách, lông mày cũng không cân đối. “Đúng là một tay chịu đòn giỏi”. Nhưng đây là một võ si không có kin phòng ngự,-Mi-cla-sốp thầm đánh gia và ngay lúc ấy anh cũng buồn rầu nhớ câu nói hay lặp lại của huấn luyện viên: “Nghệ thuật quyền Anh trước hết là ở chỗ, phải biết tránh đòn”.
A-léc Bu-tanh là võ sĩ chỉ biết tấn công.-trọng tài lại giới thiệu kiểu cách.-Trọng lượng bảy mươi mốt ki-lô năm trăm. Đã đấu một trăm linh tám trận, trong đó giành thắng lơi một trăm linh một trận.
Mi-cla-sốp chồm người về trước, ngực tựa vào thành bàn, đăm đăm nhìn lên vũ đài, không còn biết gì chung quanh mình nữa. Trận đấu diễn ra. Anh thoáng nghĩ lời dặn của đại tá I-lin-cốp: “Anh đừng bỏ phí thời gian, hãy tỏ cho họ biết mình… Anh là một võ sĩ…”.
Mi-cla-sốp bây giờ mới hiểu hết ý định của Mát-xcơ-va. Nếu cần thiết thì lúc này anh sẽ sẵn sàng nhảy lên vũ đài! Hình như anh đã quên mất rằng, anh chỉ là võ sĩ nghiệp dư và chưa hề được xem võ sĩ chuyên nghiệp thi đấu chứ đừng nói gì đến chuyện đã được thử sức cùng họ. Anh đưa tay run run cởi khuy áo cổ để thở cho dễ và thoáng mát hơn.
 
Anh say sưa theo dõi trận đấu, có lẽ sẽ rất hấp dẫn. Những giây đầu tiên anh còn tập trung quan sát để đánh giá cho đúng. Anh tự nhủ mình là sẽ cố gắng quan sát và học tập thêm những nét đặc biệt của họ. Nhưng chỉ độ vài phút sau khi hiệp một bắt đầu, anh có vẻ đã bình tĩnh hơn và thậm chí còn mỉm cười với mình: trận đấu diễn ra bình thường vào loại bậc trung. Hai võ sĩ nhà nghề này có vẻ chưa phải loại cao cường lắm. Kỹ thuật họ chỉ xấp xỉ hơn loại vận động viên cấp một bên Nga, còn xa mới đến cấp kiện tướng. Anh ngồi xem không phải với con mắt người học trò bỡ ngỡ ngạc nhiên mà bằng con mắt của một chuyên gia, biết đánh giá hết ưu điểm cũng như nhược điểm trong cách đánh cũng như kỹ thuật, chiến thuật của hai võ sĩ.
Hai người cứ lao vào nhau, đấm liên hồi mà chẳng ai chú ý đến bảo vệ cả. Bu-tanh cúi thấp đầu, lầm lì lao lên như con bò tót, hai tay để hở cả mảng ngực trước đối thủ. Còn Lơ-pho thì cứ lùi, chân nhún nhảy rất dẻo, tránh đòn và đánh trả bằng những cú đấm thẳng rất nhanh cố cản không cho Bu-tanh tiếp cận gần.
-Theo anh thì ai sẽ thắng?
-Mi-cla-sốp thoáng nghe câu hỏi của viên trung uý và anh nhận thấy đôi mắt của gã đang long lanh chờ câu trả lời của anh.
-Theo anh thì ai sẽ thắng? Anh ủng hộ ai?
-Ai thắng?-Mi-cla-sốp hỏi lại và anh liền trả lời luôn, dứt khoát và bất ngờ ngay cả với chính mình chứ không phải là trả lời cho tên trung uý,-Tôi có thể thắng được cả hai.
Lời nói dội ra và, tất nhiên không thể nắm lại được. Cả Béc-ke, Cli-úc và thượng sĩ Lô-ren cũng đều ngừng uống, đặt cốc xuống bàn ngạc nhiên nhìn Mi-cla-sốp tựa như mới thấy anh lần đầu vậy.
-Anh nói nghiêm chỉnh đấy chứ?-Béc-ke nheo đôi mắt lươn ti hí nhìn Mi-cla-sốp và miệng hình như sẵn sàng nở nụ cười chế giễu.
-Vâng,-Mi-cla-sốp khẳng định và biết rằng anh không còn cải chính được nữa nên nói thêm,-Tôi sẵn sàng đấu với bất cứ ai trong hai người này… Bất cứ ai, ngay bây giờ hoặc sau này!...
-Ngay bây giờ? Anh mặc quân phục, lại đi ủng thì làm sao đấu được?-Viên thượng sĩ nhìn anh tỏ vẻ hoài nghi mặc dù hắn rất muốn xem cuộc đọ găng giữa hai anh chàng Pháp với tay võ sĩ Nga, người lính lê dương rất được gã đại uý Béc-ke, ưu ái.
-Tôi sẽ mặc áo may-ô quân đội, còn ủng thì-chuyện vặt. Chúng ta chẳng thường tập chạy và suốt ngày đi ủng đấy sao.
Một tiếng cồng vang lên báo hiệu chấm dứt hiệp một. Hai đấu thủ đã xô bàn đứng dậy và lù lù đi đến bậc thang lên vũ đài. Hắn là con người hành động. hắn muốn thấy rõ ngay tài năng của gã lính Nga có thần thế này,-một con người thân thích của Dô-nen-béc.
-Xin lỗi một chút, thưa các ngài!
Những tên sĩ quan chiếm đóng này, thường vẫn gây ấn tượng xấu trong người Pháp. Họ đã quen với những hành động thô bạo, bất lịch sự của bọn lính và sĩ quan Đức rồi. Gian phòng bỗng im lặng hẳn. Mọi ánh mắt đều đổ dồn vào gã sĩ quan Đức kênh kiệu kia.
-Trong phòng chúng ta có một tên lính lê dương của quân đội quốc trưởng. Anh ta là một võ sĩ quyền Anh Nga!-Cli-úc giơ tay về phía Mi-cla-sốp. Người võ sĩ này là vô địch quyền Anh Lê-nin-grát đấy, các ngài ạ!... Tôi rất hân hạnh xin mời các võ sĩ Pháp thử sức với võ sĩ Nga này!
Những người Pháp thường quen nghĩ rằng, mỗi khi binh lính hoặc sĩ quan Đức can thiệp vào việc gì thì thường gây cho họ sự khó chịu. Và hôm nay cũng vậy, khi gã trung uý Đức hùng hổ, bất lịch sự bước lên vũ đài thì mọi người đều chờ đợi một việc rủi ro khó chịu xảy ra. Nhưng khi nghe gã nói về người võ sĩ quyền Anh Nga và lên tiếng thách đấu với các võ sĩ Pháp thì, trái lại, đã có tiếng hưởng ứng và vỗ tay tán thưởng. Hầu như mọi người đều tò mò nhìn Mi-cla-sốp, thậm chí có người còn hô lên:
-Vive la Russie (Nước Nga muôn năm).
Người trọng tài trên vũ đài, như về sau này với được biết thì ông ta lại chính là người tổ chức cuộc thi đấu hôm nay, thoáng nghĩ ngay là có thể sẽ thu được mớn hời lớn. Tất nhiên ông ta có thể tổ chức cuộc đấu của người lính Nga này! Ông ta đưa mắt nhìn gian phòng và nghĩ ngay đến khối đông khán giả của trận đấu nay mai. Càng đông càng nhiều tiền. Cuộc chiến tranh đang diễn ra ác liệt tại nước Nga, nó đang làm cho nước Đức điêu đứng, chắc nhân dân Pháp sẽ rất hài lòng bỏ tiền ra mua vé để được xem một người Nga trong thành phố họ đấu quyền Anh.
-Thưa ông, đề nghị của ông rất đáng hoan nghênh, rất thú vị, người trọng tài nói, miệng nở nụ cười,-Tôi nghĩ rằng, các võ sĩ Pháp sẽ hết sức hài lòng chấp nhận đề nghị của ngài. Ngay sau đây chúng ta có thể thoả thuận về điều kiện trận đấu sẽ được tổ chức nay mai, cần phải ấn định trước thời gian và địa điểm. Tức là chúng ta thoả thuận ngày giờ thi đấu!-Tôi nói vậy có đúng ý của các ngài không?
Bu-tanh và Lơ-pho đang đứng giữa vũ đài, vẻ sốt ruột luôn luôn đổi chân. Họ gật đầu đồng ý với ý kiến của trọng tài.
-Vất cho quỷ cái điều kiện ấy đi! Tên trung uý liền gạt phắt và nói như ra lệnh.-Quân đội quốc trưởng không có nhiều thì giờ đâu, và không thể để cái công việc đang làm hôm nay sang ngày mai được! Sẽ đấu ngay bây giờ. Nào, ai trong số hai người có thể tiếp võ sĩ Nga?
-Vâng, vâng được thôi, thưa ngài sĩ quan!-Trọng tài vội lên tiếng để tên sĩ quan này khỏi nổi nóng.-Xin ngài cho chúng tôi ít phút chuẩn bị và thảo luận.
-Các ông có mười phút để suy nghĩ-tên trung uý nói và giơ chiếc đồng hồ bỏ túi mạ vàng lóng lánh lên.
Mi-cla-sốp cởi áo và quần đùi ra nhưng vẫn phải đi đôi ủng do chính viên đại uý thưởng cho anh sau trận cứu hắn thoát chết ở Xmô-len-xcơ. Anh chậm rãi đi lên vũ đài, thầm nghĩ: “May mà chưa uống rượu và cũng chưa ăn gì. Như vậy sẽ dễ dàng hơn”.
Quay về bàn, Cli-úc bỗng để ý đến một phụ nữ Pháp khoác chiếc áo trắng. Chị ta ngồi trong số khán giả trẻ. Gã trung uý tiến đến phía chị và chằm chằm nhìn chẳng cần giữ phép lịch sự. Gã tiến đến bên người phụ nữ Pháp, hơi cúi đầu chào kiểu cách và cầm bàn tay chị ta, đưa lên môi hên. Cli-úc không hề để ý gì đến những ánh mắt căm giận của những người bạn chị ta đang chằm chằm gã và cả gian phòng cũng im lặng căng thẳng. Gã vẫn cảm thấy mình là chủ gian phòng này và hơn nữa, cả cái thành phố bị chiếm đóng nhỏ bé này của nước Pháp.
-Thưa cô, cô xinh đẹp và lịch thiệp lắm. Nhìn cô còn sướng hơn là nhìn những con bò tót trên vũ đài kia.
Hắn lại mỉm cười và vênh váo len qua các hàng ghế, đi về phía bàn mình.
Đại uý Béc-ke chờ cho gã uống cạn ly cô-nhắc, liền hỏi:
-Sao ông lại làm vậy?
-Ông muốn nói tới người phụ nữ kia hay là…-Cli-úc hỏi lại.
-Không, về trận đấu ngay tức thì này.
-À, à… Tôi đã chán nghe về cái gã lái xe mô-tô cho ông rồi. Dù hắn là một tên lính dũng cảm dù hắn có người họ có thế lực thật, dù hắn là vô địch thì, với tôi, hắn cũng chỉ là thằng hàng binh… Hôm nay, chúng ta thử kiểm tra xem những lời đồn đại về hắn có đúng hay không. Hơn nữa trường hợp hôm nay rất hiếm!-Gã lại tự rót thêm ly rượu nữa.-Nếu thằng Nga của ông thua thì chúng ta sẽ tống cổ ra mặt trận, còn nếu thắng thì hắn xứng đáng là một tên võ sĩ quyền Anh và hắn sẽ làm vinh dự cho tiểu đoàn chúng ta. Chính niềm quang vinh của tên lính Nga này sẽ làm cho ông dễ lọt vào cặp mắt chú ý của thượng cấp hơn!
 
3.
Đúng mười phút sau, A-léc Bu-tanh, võ sĩ Pa-ri bước lên vũ đài. Rõ ràng trông dáng điệu và cách bố trí đấu thủ cũng hiểu được rằng những người Pháp muốn đánh gục ngay từ đầu chàng võ sĩ Nga này, kẻ đã tự nhiên dẫn xác tới đây và gây nên chuyện rắc rối cho họ-những người tổ chức trận đấu.
Theo sau anh ta là trọng tài, vừa đi vừa lấy khăn tay lau mồ hôi trán. Ông ta lại mỉm cười xã giao với khán giả, để lộ chiếc răng vàng óng ánh trên khoé miệng.
-Chúng ta tiếp tục thưởng thức trận đấu! Đây là trận đấu chưa từng có trong thành phố chúng ta! Tôi xin cảm ơn sáng kiến của ngài sĩ quan Đức đã tạo cho chúng tôi trận đấu quyền Anh quốc tế này. Vâng, đúng vậy, thưa quý ông, đây là trận đấu quốc tế giữa võ sĩ Nga và Pháp. Bên phải tôi là võ sĩ người Phương án-ri A-léc Bu-tanh! Còn bên trái tôi là võ sĩ Nga, nhà vô địch Lê-nin-grát, ông ta hơi ngập ngừng, giơ tờ giấy lên và đọc tiếp-I-go Mi-cla-sốp.
Quả thật từ lâu I-go đã ước mơ có một trận đấu quốc tế và anh sẽ có dịp bảo vệ danh dự thể thao của Tổ quốc. Nhưng số phận trớ trêu đã đưa anh tới trận thi đấu quốc tế đầu tiên trong đời như thế này. Chưa bao giờ anh nghĩ rằng mình phải thi đấu theo lệnh của bọn sĩ quan Đức, bọn phát xít, bước lên vũ đài trong chiếc quần đùi và đôi ủng lính Đức.
-Chuẩn bị!-Trọng tài ra lệnh.-Hiệp một bắt đầu.
Trong góc sân khấu, một người đàn ông ngồi sau chiếc bàn và khuôn mặt lấp sau bóng đèn. Ông giơ chiếc búa gỗ lên, gõ mạnh một tiếng vào chiếc cồng nhỏ trên bàn.
“Cứ bình tĩnh, hãy thăm dò kỹ và chớ nóng vội”.-Mi-cla-sốp tự hạ lệnh cho mình như vậy, và thâm tâm anh cũng cảm thấy thần kinh mình căng thẳng, bắp thịt như run lên. Đấu trong trạng thái căng thẳng và luôn lo sợ như vậy sẽ mau chóng bị thất bại, vì sẽ chẳng còn tinh thần phán đoán, sẽ không kịp thời phản ứng, sẽ cứng như gỗ và không di chuyển dẻo dai trong phòng thủ cũng như không nhanh chóng linh hoạt trong tấn công. Không thể làm gì nếu tinh thần căng thẳng và tay chân nặng nề, mà đây lại là trận đấu với võ sĩ nhà nghề.
Hơi chúi đầu, giấu kín trong vai trái, Mi-cla-sốp sẵn sàng đón chờ đối thủ. Anh luôn tự nhủ mình “Đừng vội, đừng cuống”… Cái chính là phòng ngự đã. Cứ thế thủ đã! Chỉ phản công bằng cú đấm tay trái. Nhất định không cho anh ta đánh gần… Các võ sĩ nhà nghề thường thích đánh gần… Phải hạn chế ưu thế này…”.
Họ quay vòng trên vũ đài và tấn công nhau bằng những quả đấm tay trái từ xa. Gian phòng im lặng đến nỗi nghe rõ cả tiếng bước chân khẽ của những người phục vụ đi giữa các dãy bàn. Mắt mọi người đổ dồn lên đài. Những người phụ nữ từ nãy vẫn cười nói lanh lảnh giờ đây cũng ngồi im. Mắt họ nhìn lên vũ đài với vẻ tò mò, họ dõi theo từng bước chân di chuyển của người võ sĩ Nga có khuôn mặt rất trí thức. Tuy nhiên, họ cũng có một nhận xét là con người trẻ tuổi và nhanh nhẹn này đã chiếm được vị trí thuận lợi hơn, luôn có điểm tựa là những hàng dây căng quanh vũ đài và anh chàng Bu-tanh của họ nét mặt cau có và hơi có vẻ độc ác cứ luôn luôn vung vẩy một cách không cần thiết trước mặt đối thủ.
Bu-tanh đã tỏ ra sốt ruột hơn đối thủ. Anh ta đã kịp nhận ra anh chàng đối thủ nghiệp dư này có vẻ tỉnh táo hơn, không ham đòn và luôn tránh được những cú đấm búa bổ. Anh ta cũng biết đánh trả một cách thông minh và không bao giờ để bị dồn vào góc dây. Quyền Anh đòi hỏi muốn thắng được phải có những cú đấm mạnh, chính xác. “Này, anh bạn người Nga xa lạ kia ơi, rồi anh sẽ biết thế nào là cú đấm nhà nghề của võ sĩ Pháp… Rồi mũi anh sẽ xếch lên cho mà xem. Anh bạn ạ! Hãy đón nhận cú đấm tay phải này!...”.
Nghĩ vậy, Bu-tanh vờ làm động tác giả ở cú đấm tay trái và khi đối thủ chưa kịp định thần thì anh dướn lên đánh một quả quai hàm rất mạnh bằng tay phải. Anh dồn toàn bộ sức mạnh vào cú đấm với hi vọng là anh chàng người Nga sẽ đổ ngay. Nhưng cú đấm trượt!... Lạ thật, mới nửa giây thôi chiếc quai hàm của đối thủ còn nhấp nho chỗ này, thế mà khi quả đấm phóng tới thì như bay vào không khí vậy. Chàng võ sĩ Pa-ri cố gượng giữ thăng bằng nhưng vẫn bị mất đà và trong khoảnh khắc đó anh ta giật mình khi thấy anh chàng Nga nghiệp dư này hầy như đã đứng sát ngay trước mặt mình. Đang đà lao và hơi hốt hoảng. Bu-tanh vung tay trái đấm luôn quả nữa. Anh chàng người Nga lại tránh được sang phải thoát khỏi đòn thứ hai, một động tác tránh rất nghệ thuật và cao cường. Anh ta không lùi mà chỉ hơi nghiêng dịch sang phải và ngay lúc ấy đã chiếm được tư thế rất thuận lợi để tấn công lại, Bu-tanh lấy làm lạ là tại sao anh ta không đánh trả ngay cú nốc ao vì toàn bộ thân mình Bu-tanh đã lộ ra hết, và đã mất thăng bằng rồi.
Nhưng đó là những điều anh ta suy nghĩ về sau. Định thần kịp, Bu-tanh lại liếc nhanh cái đầu anh chàng người Nga và nghiến răng đánh một cú đấm thẳng vào trán. Anh ta biết, trong tư thế này thì nên đấm vào đâu! Nhưng cũng ngay trong khoảnh khắc đó đầu Bu-tanh tự nhiên mất thăng bằng, xoay nghiêng sang phải, mắt nổ đom đóm tai bỗng ù lên tựa như vừa có quả lựu đạn nổ ngay trong đầu…
Anh ngã vật xuống sàn, cố gượng chống tay đứng dậy nhưng đôi tay như không còn nghe theo ý muốn của anh nữa, mắt hoa lên chỉ còn thấy mờ mờ bóng người. Trọng tài đang giơ tay lên rồi lại chém vào không khí, đếm từng giây một:
-Bảy… Tám…
Bu-tanh lắc lắc đầu tựa như xua bớt sức nặng ở trong, đôi môi khô mím chặt. Nhưng lúc ấy anh ta cũng toát mồ hôi chợt nghĩ: Mình bị đo ván rồi! Bị thua, tức là mất hết… Danh dự và… nhất là tiền thưởng. Cần phải cố gắng vùng dậy và lao vào tấn công!... Tuy nhiên anh ta cũng còn kịp an ủi ngay rằng, đây chỉ là cuộc đấu chơi bời, có đặt điều kiện gì đâu. Đấu chơi như thế này thì thua được chẳng có ý nghĩa gì cả. Thậm chí anh còn cố nhoẻn cười. Anh đã trông được rõ hơn đối thủ người Nga đang đứng trong góc vũ đài, nét mặt có vẻ lo lắng và hối hận nhìn Bu-tanh.
-Mười!-tiếng trọng tài vang lên dứt khoát.-Nốc-ao.
Hô xong, trọng tài rảo bước đến bên Mi-cla-sốp nắm lấy tay anh giơ lên xác nhận người chiến thắng. Cả gian phòng vang lên tiếng vỗ tay, tiếng nút chai sâm banh bật vang vang như tiếng súng nổ mừng thắng lợi. Còn viên trung uý Đức, kẻ đã đề ra sáng kiến thi đấu thì cầm cả chai sâm-banh chạy vọt lên vũ đài.
-Ông trọng tài, xin chờ cho một phút!
Trọng tài ngoan ngoãn quay lại hàng dây, miệng gượng cười với viên sĩ quan Đức:
-Các ông có một võ sĩ thật tuyệt vời, ông sĩ quan ạ!
-Tôi biết,-tên sĩ quan lên tiếng và đảo mắt khô khan nhìn người trọng trài.-Mời tiếp người thứ hai lên đài!
-Ông nói gì cơ ạ! Tôi hoàn toàn không hiểu ý ông.-Nụ cười lấy lòng biến mất khỏi miệng người trọng tài.
-Gọi người võ sĩ thứ hai lên! Đấu tiếp trận hai!... Ông nghe rõ chứ? Tên lính Nga của tôi sẽ đấu tiếp với người thứ hai của ông!...
 
4.
Trận đấu với Ê-min Lơ-pho nhà vô địch hạm đội cân sức hơn, anh ta biết cách tấn công dồn dập và thận trọng. Hai người quần nhau khắp vũ đài, di chuyển mau lẹ và đẹp mắt. Trận đánh đẹp và khẩn trương làm khán giả nhiều lần vỗ tay khen ngợi. Đúng là hai người cân sức nên ai cũng cố đánh những quả đẹp và giành ưu thế cho mình. Cả hai đều biết tấn công và phòng thủ kịp thời, kín đáo. Đôi khi người ta chỉ còn thấy những chiếc găng lao vun vút và hai thân hình đẫm mồ hôi chập chờn dưới ánh đèn.
Nhưng với những người sành xem và với những trọng tài giàu kinh nghiệm thì dễ nhận thấy Mi-cla-sốp có ưu thế hơn. Ngay giữa hiệp một anh đã đánh được mấy quả mạnh đạt điểm trội hơn. Nhưng sau đấy, đối thủ của anh đã rút kinh nghiệm và cũng tạo ra những quả đám khá chủ động. Nhưng rồi anh ta tỏ ra vội vàng, muốn kết thúc trận đấu có lợi cho mình. Trái lại, Mi-cla-sốp có vẻ không ham đòn. Anh không xông vào như trước nữa mà luôn né tránh liền mấy quả và dẫn đối thủ vào tình huống “đấm gió” làm người lao đao “như đi trong mây”. Sau những lần như vậy, Mi-cla-sốp chỉ đỡ gạt và tránh xa ra tạo cho Lơ-pho có dịp hồi sức. Dần dần võ sĩ Pháp hiểu ra ý đồ của anh và thầm cảm ơn nhà võ sĩ Nga. Ánh mắt anh ta không còn vẻ nhìn gay gắt phục thù nữa, mà đã dịu lại tỏ vẻ biết ơn. Khuôn mặt rộn và sần sùi vết sẹo của anh hơi mỉm cười. Và sau khi nghỉ hết hiệp một, bắt đầu vào hiệp tiếp thì anh chàng người Pháp khẽ chạm găng vào tay Mi-cla-sốp nói nhanh:
-Cám ơn, anh bạn!
I-go cũng chạm găng lại đáp lễ và với cử chỉ đó, hai người đã thầm hiểu nhau và tỏ dấu hiệu cho thấy chỉ đấu hữu nghị là chính. Tuy vậy trận đấu vẫn diễn ra hấp dẫn. Nhà vô địch hạm đội Pháp đã mấy lần định chiếm ưu thế, đánh những quả rất đẹp nhưng đều hụt và sau một lần như vậy, đối thủ người Nga lại tránh được và lùi xa không lao trả đũa như trước. Có thể nói I-go đã chủ động điều khiển nhịp độ trận đấu. Rồi trận đấu kết thúc trong tiếng vỗ tay hoan nghênh nhẹ nhõm của người xem, tuy nhiên ai cũng biết rõ là ưu thế nghiêng về Mi-cla-sốp.
-Hoan hô chiến sĩ của quốc trưởng!-Bọn Đức hét lên.-Hoan hô chiến sĩ của quốc trưởng!
Mi-cla-sốp nhận ngay ra tiếng của gã trung uý. Những giây phút này anh không còn là I-go của những ngày xa xưa nữa. Hàng dây đài đấu đã là ranh giới ngăn cách hiện tại với quá khứ của anh. Cái quá khứ chưa xa xôi lắm nhưng sao thấy xa lạ vậy. Tuy nhiên, anh cảm thấy vũ đài này đã đưa anh trở lại mảnh đất của Tổ quốc, đã trở thành bộ phận thân thuộc của đất nước thân yêu. Anh cứ muốn đứng nguyên như vậy để sống mãi với những phút giây thân thuộc của những trận đấu năm xưa. Nhưng dẫu sao cũng phải quay lại với thực tại, phải mỉm cười với chúng, giơ tay chào đáp lễ chúng.
Khi trọng tài vừa tuyên bố Mi-cla-sốp thắng điểm, cả hai võ sĩ đều ôm chầm lấy nhau trong tiếng vỗ tay hoan hô của người xem. Cả hai người cầm tay nhau bước xuống vũ đài và đi vào phòng nghỉ. Bu-tanh, tay cầm chiếc mũ nồi xanh đi lên qua các dãy bàn. Nhiều người rút tiền ném vào chiếc mũ với những lời động viên, khen ngợi anh ta.
… Mi-cla-sốp say sưa đẫm mình dưới vòi hoa sen để xua tan cơn mệt mỏi và kỳ cọ mồ hôi. Lơ-pho trao cho anh chiếc khăn tắm rộng và cười vui vẻ:
-Lau đi!...
Viên thượng sĩ Lô-ren luôn cau có rảo bước vào phòng tắm, áo mở phanh, nét mặt đã có vẻ vui hơn.
-Mi-cla-sốp, nhanh lên Đại uý đang chờ, cả bọn tôi nữa, nhanh lên… Họng khô hết rồi đây này!... Anh không ra đại tá không đi đâu!... Món ăn đã đặt để đãi anh rồi đấy…
-Vâng, một phút nữa, tôi xong ngay đây…
-Nhanh lên! Chúng tôi chờ anh ra mới mở rượu đấy!...
Viên thượng sĩ, người săn sóc Mi-cla-sốp trong trận đấu hắn cho rằng mình cũng có quyền được chia sẻ niềm vinh dự trong thắng lợi của anh và hắn cũng hãnh diện coi là kẻ chiến thắng trong ngày hôm nay.
Bu-tanh, tay cầm chiếc mũ đựng đầy tiền thưởng bước theo viên thượng sĩ đi vào phòng rượu. Sau anh ta là người hầu bàn, tay bê nguyên cả một két rượu vang. Tiếp theo là ngưiơì tổ chức trận đấu, trịnh trọng trong bộ com-lê màu đen.
-Đây là của ông,-Bu-tanh nói, đưa cả chiếc mũ đựng đầy tiền cho Mi-cla-sốp,-Người thắng trận được thưởng hết tiền thưởng này!
Nét mặt Bu-tanh đã có vẻ hồng hào và vui hơn sau khi tắm rửa và nhấm nháp cốc rượu vang.
-Người Pháp chúng tôi chào mừng thắng lợi của người Nga, à, xin lỗi, của võ sĩ Nga!
Mi-cla-sốp dốc tiền ra bàn, chia đều ra làm ba phần. Mọi người nhìn anh ngạc nhiên: anh ta làm gì thế này? Chia xong, I-go đưa cho Bu-tanh và Lơ-pho mỗi người một phần.
-Đây là trận đấu giao hữu thôi mà, chứ có phải là tranh giải vô địch đâu, hai bạn. Cả ba người chúng ta đều thi đấu, đều lao động như nhau,-Mi-cla-sốp nói. Quyền Anh là môn thể thao nặng nề nhất. Hôm nay chúng ta đều biểu diễn tốt, theo tôi không thể và không nên nói ai thắng ai thua cả. Chúng ta là những võ sĩ. Do đó tôi cho rằng cả ba chúng ta đều có quyền hưởng như nhau món tiền thưởng này.
 
Hai người bạn Pháp sốt sắng cảm ơn và vui vẻ nhận tiền. Họ hiểu ra rằng, người võ sĩ Nga trong bộ quân phục lính Đức này hoàn toàn không giống những kẻ chiếm đóng ở đây. Lơ-pho mở chai rượu vang:
-Chúc mừng sự quen biết của chúng ta!
Người trọng tài, tay giơ cao cốc vang phát biểu lời chúc mừng về tài năng và tính cách của Mi-cla-sốp. Ông ta nói là đã từng được dự xem những cuộc đấu của các võ sĩ có hạng ở nước Pháp và quốc tế, do đó ông có thể khẳng định rằng, người võ sĩ Nga này xứng tài ở hạng cao nhất.
-Tôi đã kịp trao đổi ý kiến với chỉ huy của ông, ông Mi-cla-sốp,-ông ta kết thúc lời chúc mừng dài và nồng nhiệt.-Nếu ông không phản đối thì tôi có thể đứng ra tổ chức một cuộc đấu nữa. Tôi có nhiều bạn bè làm ở các báo và tôi xin hứa rằng, ngày mai nhân dân thành phố sẽ biết về thắng lợi này của nhà võ sĩ Nga. Xin chúc mừng sức khoẻ của ông!
Họ chạm cốc. Đồng thời lúc đó, sau bức chắn mỏng trong hiệu cà-phê vang lên tiếng cốc chạm nhau, tiếng hô vui vẻ và tiếng mở nút chai rượu sâm-banh bôm bốp.
Bỗng một người đầu bếp ngó vào phòng và la lên:
-Hãy mở máy thu thanh mà nghe! Quân Đức đang tiến tới sông Vôn-ga!
Lơ-pho vội xô ghế đến bên bức tường nơi đặt chiếc máy thu thanh cũ kỹ. Căn phòng bỗng vang lên giọng nói hồ hởi đầy hưng phấn và trịnh trọng của phát thanh viên đài phát thanh Đức thông báo bản tin:
“… Quân ta đã tiến đến bờ bắc sông Vôn-ga! Mặt trận quân Nga đã bị chọc thủng. Binh lính của quốc trưởng đã dùng mũ sắt để uống nước sông Vôn-ga! Thắng lợi vĩ đại đang đến gần. Hàng ngàn máy bay của quân đoàn không quân bốn đang oanh tạc thành phố bên bờ sông Vôn-ga này. Xta-lin-grát đang chìm trong khói lửa. Trên thế giới này sẽ không có một sức mạnh hùng hậu nào có thể ngăn chặn được sức mạnh khủng khiếp của vũ khí Đức chúng ta!...”.
I-go mím chặt môi. Má anh trắng bệch, người choáng váng liền hớp vội ngụm rượu rồi đổ một ít ra lòng bàn tay, xoa xoa hai má tựa như để trán tĩnh cơn đau đầu. Mọi người trong phòng vẫn im lặng lắng nghe! Quả thật trong đời có thể gặp nhiều sự bất ngờ nhưng có lẽ không trường hợp nào đáng thất vọng và cay đắng như lần này. I-go không hình dung nổi điều gì đang xảy ra ở đấy. Ở Xta-lin-grát, và không hiểu nổi tại sao họ lại có thể để xảy ra cái sự kiện này… Anh mím môi chặt hơn…
Người trọng tài mỉm cười ngượng ngập, mắt ông ta như muốn xin lỗi Mi-cla-sốp đừng giận mình, vì ông không thể nói thành lời được. Ông ta đứng dậy, lấy cớ đi vào bếp.
-Sao chúng ta lại ngồi nhịn đói thế này nhỉ?
I-go vuốt tay xoa mặt, xoa vầng trán toát mồ hôi. “Bình tĩnh I-go! Hãy bình tĩnh lại!”-anh tự hạ lệnh cho mình.-“Mày hoang mang rồi đấy! Hãy làm chủ bản thân đi”. Anh dần dần bình tĩnh lại và nắm chặt tay, làm nổi bật những bắp thịt cứng cáp. Những đường gân nổi hẳn lên dưới làn da sạm nắng.
Lơ-pho đến cạnh Mi-cla-sốp và thông cảm đặt tay lên vai anh. Bu-tanh cũng đăm đăm nhìn anh, đôi mắt lim dim dưới cặp lông mày sẫm, nhưng ngắn. Anh cũng lặng lẽ đến bên cạnh người bạn Nga mới quen biết này và đặt tay lên vai kia của anh. Những người Pháp này hiểu rõ tâm trạng và thông cảm với anh. Họ dễ hiểu nhau hơn trước nỗi đau chung của hai dân tộc. Hai năm trước đây, nước Pháp cũng đã cảm thấy cái nhục của sự thất bại-giữa tháng Sáu năm ấy, quân Đức đã gõ gót giày trên đường phố Pa-ri… Dẫu sao, thì nước Nga vẫn còn giữ vững được thủ đô của họ, đã tiến hành cuộc chiến tranh không cân sức được hơn một năm nay rồi và không một nước nào ở châu Âu có thể kháng cự được như vậy. Nhưng dẫu sao thì, trước mắt, quân Đức vẫn tiếp tục tiến, tiến xa hơn.
 
Chương mười bốn

1.
Tin tức từ mặt trận dồn dập đến. Đó là những tin đáng buồn. Các thông báo của Cục Thông tin ngày càng xuất hiện tên nhiều thành phố nghỉ mát miền Nam như: thành phố Suối khoáng Pi-at-chi-gô-rơ, Crát-xnô-đa… Như vậy là quân Đức đang tiến tới vùng Cáp-ca-dơ, Vô-rô-ne-giơ đã không được nhắc đến nữa. Chả lẽ đã mất rồi hay sao?... Chiến sự đang diễn ra ở vùng Clét-ca và Cô-ten-nhi-cốp… Mỗi lần nghe tin chiến sự, Li-đa-ve-ta lại lo lắng-Chúng ta đang rút lui! Rút đến bao giờ? Và đến đâu mới dừng lại, mới ngăn chặn được cái thể chẻ tre này của quân Đức? Và thế là chúng nó, cuối cùng đã đến được Vôn-ga, Đnhi-ép đã bị mất, sông Đông cũng chằng giữ nổi. Và bây giờ đến lượt Vôn-ga. Nghĩ thật kinh khủng. Li-đa-ve-ta cởi chiếc quần đùi của An-đriu vất vào chậu giặt và mệt mỏi ngồi xuống, đưa cánh tay mỏi nhừ xoa xoa trán lấm tấm mồ hôi.
-Đến bao giờ hả?-Chị bỗng hỏi to một mình,-Còn tiếp tục đến bao giờ?
-Mẹ ơi, đừng mắng con nữa, con có nhổ cà-rốt đâu.
Tiếng gọi của đứa con trai đã giúp Li-đa-ve-ta thoát khỏi những ý nghĩ buồn rầu. Chị mím đôi môi khô khốc nuốt nước bọt. An-đriu-sa đứng cách chị ba bước, tay giơ củ cà-rốt, cởi trần, chân đi đất, người sạm nắng. Mãi lúc này chị mới để ý tới ba củ cà-rốt trong tay cậu con trai.
-Không phải con nhổ cà-rốt đâu! Bác Mác-ta cho con đấy mẹ ạ…
“Bác Mác-ta mà An-đriu-sa vừa gọi chính là bà Mác-pha Kha-ri-tô-nốp-na, chủ nhà nơi mẹ con Li-đa-ve-ta ở nhờ. Từ sáng sớm bà đã làm hết việc này đến việc khác ngoài vườn rau. Nào xới đất, vun trồng, làm cỏ, phơi phóng… ”Bà ấy lấy đâu ra lắm sức thế chả?” đã bao lần Li-đa-ve-ta tự hỏi khi biết bà đã đổ bao nhiêu sức lực cho việc bốc xếp, vận chuyển đạn pháo lên tàu. Đội bốc xếp của bà là một đội gương mẫu của nhà máy. Li-đa-ve-ta hiểu khá rõ công việc nặng nề của họ. Họ luôn phải làm việc đột xuất, quá sức. Thường thường sau ca hoặc cuối ngày làm việc họ lại bốc xếp thêm những hòm đạn đầy ắp lên các toa tàu. Sau những chuyến đột xuất như vậy chân tay Li-đa-ve-ta bải hoải, mỏi nhừ toàn thân, đau ê ẩm ba bốn ngày mới lại sức. Còn bà Mác-ta thì hình như được tạo nên từ sắt thép, chẳng thấy kêu ca phàn nàn gì cả mà trái lại, sau những buổi làm việc nặng nề ấy về tới nhà bà lại cứ luôn tay luôn chân, nào dọn dẹp nhà cửa, giặt giũ, nào bổ củi, làm vườn.
-Con nói là bác ấy cho con à?-Li-đa-ve-ta hỏi con.
-Vâng ạ!
-Thế con có cảm ơn không?
-Có ạ!
Chú bé Vát-ca sáu tuổi, bạn láng giềng của An-đriu-sa xuất hiện nơi hàng rào. Chú bé có khuôn mặt sáng sủa, thông minh. Tuần trước gia đình chú vừa được tin đau buồn-bố chú vừa hi sinh… Vát-ca ra hiệu gọi An-đriu-sa:
-Mẹ ơi cho con đi chơi nhé?-An-đriu-sa hỏi và ngước mắt nhìn mẹ.
-Ừ, con đi đi!
Li-đa-ve-ta đưa mắt nhìn theo hai chú bé. Chiến tranh chẳng vừa chúng ra. Anh ấy vừa nhập ngũ được ít lâu, cứ như là vừa đi đâu đó ra khỏi nhà. Mấy ngày này mẹ Vát-ca gầy sọp và xanh hẳn đi trông như người mất hồn. Chị đi tha thẩn, thầm lặng như người câm. Không đau buồn sao được! Trong tay còn ba đứa con thơ dại. Vát-ca là con út. Trước đây chị là người vui tính, mau mồm mau miệng nhất đội. Bà Mác-pha đã phải buồn rầu thốt lên là “Bà già đau khổ” và quyết định nhận chị ấy vào đội bốc xếp.
Lod cúi mình trên chậu giặt, đổ chậu nước xà phòng và thay nước sạch. Mải làm, chị không để ý đến tiếng xe ô-tô ngoài cổng mặc dầu đường này ít xe qua lại. Nhưng tiếng xe phanh kít ngoài cửa khiến chị ngẩng lên nhìn. Một chiếc xe con màu đen đỗ ngay trước cổng hàng rào. Lại có người đến gặp mình. Một quân nhân lạ mặt bước xuống xe và đi về phía cổng.
-Chị ơi, cho tôi hỏi, đây có phải là nhà chị Mi-cla-sốp không?
Li-đa-ve-ta vội lau tay vào tạp dề.
-Vâng, ở đây đấy ạ.
-Tôi đến gặp chị có chút việc…
-Có tin gì về anh I-go phải không ạ?
-Đúng đấy. Anh ấy vẫn sống! Mạnh khoẻ! Chiến đấu giỏi!-Giọng nói của anh ta có vẻ vui và chân thật.-Tôi mang đến cho chị lời chào của anh ấy đây. Tôi vào được chứ. Chị có khách nữa đấy.
-Mời anh vào, Li-đa-ve-ta vội mời khách và chưa hiểu ngay ý anh định nói “có khách” là như thế nào. Chị không còn nghe gì hết vì tất cả trong chị lúc này chỉ đọng lại hai tiếng duy nhất, là “còn sống”. Chỉ cần thế thôi cũng đủ mang lại cho chị niềm vui sướng vô hạn rồi.
-Đồng chí Ô-xip Xtê-pan-nút, mang vào đây đi!-Người sĩ quan quay về phía anh bộ đội lái xe, gọi.
Bà Mác-pha Kha-ri-tô-nô-va ngừng việc và đứng nhìn, hết sức ngạc nhiên khi thấy hai người bộ đội khệ nệ xách hai chiếc va-li da màu nâu đi vào. Dựa chiếc cuốc vào tường, bà vội bước lên thềm vừa chùi tay vào tạp dề vừa nói:
-Mời các anh vào! Xin mời các đồng chí!
-Đại uý Lê-liu-sen-cô. Pa-ven Xtê-pa-nô-vích Lê-liu-sen-cô người sĩ quan đứng tuổi tự giới thiệu, lần lượt bắt tay Li-đa-ve-ta và bà Mác-pha. Chồng chị gửi lời chào và thư đây, chị Li-đa-ve-ta Xta-lin-grát-ve-lép-na. Đúng hơn là chuyển lời chào qua vô tuyến điện.
Li-đa run run cầm mẩu giấy trong tay và ánh mắt như mờ đi, ngạc nhiên. Thư gì mà chỉ có một dòng thôi? Cố nén lo lắng, chị bình tâm lại, lướt nhanh trên hàng chữ. Chị vẫn không hiểu gì cả. Chị phải đọc lại lần nữa.
-Sao, có gì bí mật mà im lặng thế?-Không kìm được, bà Mác-pha sốt ruột hỏi.
-“Em thân yêu, anh vẫn mạnh khoẻ”.
-Chỉ có thế thôi à?-Mác-pha lại hỏi.
-Chỉ có thế thôi… Đây bác đọc xem.-Li-đa đưa cho bà chủ nhà mẩu giấy nhỏ, mỏng manh.
Bà Mác-pha đưa mắt đọc kỹ từng chữ trên mảnh giấy vuông vắn và càng đọc thái độ càng trở nên trân trọng hơn. Với bộ óc thông minh và từng trải, bà hiểu rằng những lời chào ngắn ngủi này được chuyển theo đường dây đặc biệt, chứ không phải qua bưu điện thông thường và lại do một đại uý thân chinh mang đến thì không phải là chuyện thường. Thế có nghĩa là, anh Mi-cla-sốp, chồng Li-đa không phải là một chiến sĩ bình thường. Hiển nhiên là như vậy. Chỗ anh ấy có cả điện đài thường xuyên liên lạc với Mát-xcơ-va. Không phải bất cứ người chiến sĩ hay du kích nào cũng có thể chuyển lời chào cho vợ qua đường dây như thế. Theo bà biết thì trong nhà máy cũng có một người được chuyển lời theo kiểu này.
-Ồ, sao các đồng chí lại đứng như thế này. Xin mời vào nhà đi.-Bà Mác-pha hồ hởi mời khách.-Tiện thể, nhà có khoai tây luộc đây. Tôi đưa ra ngay bây giờ.
Vào bàn, đại uý Lê-liu-sen-cô đặt lên bàn những thực phẩm khác nhau lấy từ trong va-li. Hai người đàn bà ngạc nhiên nhìn những món hàng quý giá mà họ không dám nghĩ tới-đường viên để trong hộp trắng, dễ có đến năm kilô, rồi hai gói đường cát trắng tinh, tám hộp thịt Mỹ, mỗi hộp 1 kilô, sữa đặc, sô-cô-la thanh, các loại bột mì và gạo lúa mạch…
-Chị Li-đa-ve-ta, xin chị nhận cho. Đây là tiêu chuẩn của anh ấy…
Bà Mác-pha nhìn lên bàn và trong đầu thoáng lên câu hỏi day dứt, bà định hỏi người sĩ quan về tin tức chồng và con trai mình, có tin là đã hy sinh. Nhưng giờ đây bà lại hy vọng. Cũng có thể như Mi-cla-sốp họ đang sống chăng?
 
Back
Top